Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên – một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đào tạo đại học, yêu cầu đặt ra là cả hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa
Trang 1LỜI TOÀ SOẠN
Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là những nội dung chính trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi giảng viên đại học Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên – một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đào tạo đại học, yêu cầu đặt ra là cả hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên đều phải được đánh giá một cách khách quan dựa trên bộ tiêu chuẩn và quy trình đánh giá mang tính khoa học Đáng tiếc là trong thời gian vừa qua, công tác đánh giá giảng viên ở Trường Đại học Luật Hà Nội vẫn chưa được thực hiện một cách bài bản, vì chưa có bộ tiêu chuẩn và quy trình đánh giá như vậy
Đáp ứng yêu cầu quản lí hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của giảng viên trong tình hình mới, Viện khoa học pháp lí Bộ tư pháp đã tổ chức thực hiện Đề án cấp bộ với tiêu đề: “Nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chuẩn và quy trình đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội” thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học năm 2008 Nhà trường đã cử một
số cán bộ, giảng viên tham gia thực hiện Đề án này. (1) Sau 2 năm thực hiện, Đề án đã được bảo vệ thành công trước Hội đồng nghiệm thu ngày 14/10/2010 với kết quả đạt loại xuất sắc
Tạp chí Luật học xin trân trọng giới thiệu Đề án này và bài viết dưới đây để thông tin với bạn đọc về quá trình nghiên cứu cũng như những nội dung chính của Đề án
TẠP CHÍ LUẬT HỌC
1 Quá trình xây dựng các bộ tiêu
chuẩn, các bộ quy trình và các bộ công
cụ hỗ trợ
Quá trình xây dựng các bộ tiêu chuẩn,
các bộ quy trình và các bộ công cụ hỗ trợ
của nhóm thực hiện Đề án được tiến hành
theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu các yêu cầu về số
lượng và chất lượng của từng hoạt động cụ
thể thuộc về hoạt động giảng dạy và hoạt
động nghiên cứu khoa học của giảng viên và
thể hiện kết quả nghiên cứu dưới dạng các
chuyên đề
Bước 2: Dự thảo các tiêu chuẩn đánh giá
trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các chuyên đề
Bước 3: Lấy ý kiến về các bộ tiêu chuẩn Bước 4: Hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn Bước 5: Xây dựng các bộ quy trình và các bộ công cụ hỗ trợ
* Về bước 1:
Ban chủ nhiệm Đề án đã giao cho 12 cán bộ, giảng viên có kinh nghiệm của Trường nghiên cứu 12 vấn đề cụ thể thuộc
về các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên Trong đó, các tác giả được giao trách nhiệm làm rõ các yêu cầu chung về hoạt động giảng dạy và
Trang 2nghiên cứu khoa học cũng như các yêu cầu
cụ thể về từng hoạt động hợp thành của hoạt
động giảng dạy và của hoạt động nghiên
cứu khoa học Các tác giả cũng được yêu
cầu đưa ra dự kiến cách thức tiến hành đánh
giá từng hoạt động đó
* Về bước 2:
Ban chủ nhiệm Đề án đã nghiên cứu các
chuyên đề, tổng hợp các yêu cầu cụ thể đối
với từng hoạt động thuộc hoạt động giảng
dạy và hoạt động nghiên cứu khoa học Ban
chủ nhiệm Đề án cũng đã đặt ra các nguyên
tắc trong xây dựng các tiêu chuẩn cũng như
tiêu chí cụ thể của các bộ tiêu chuẩn đánh
giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa
học của giảng viên Trên cơ sở đó, Ban chủ
nhiệm Đề án đã xây dựng Dự thảo các bộ
tiêu chuẩn này Dự thảo này đã được các
cộng tác viên của Đề án thảo luận, đóng góp
ý kiến Ban chủ nhiệm Đề án đã hoàn chỉnh
Dự thảo để đưa ra lấy ý kiến ở bước 3
* Về bước 3:
Ban chủ nhiệm Đề án đã gửi Dự thảo
hai bộ tiêu chuẩn kèm phiếu đóng góp ý
kiến tới giảng viên của các khoa trong
Trường (đã phát ra 250 phiếu và đã thu vào
được 212 phiếu)
Ban chủ nhiệm Đề án đã tổ chức Hội
thảo với thành phần gồm: Đại diện lãnh đạo
cấp khoa, cấp bộ môn và đại diện một số
phòng, ban, đại diện các giảng viên cùng
toàn thể các cộng tác viên
* Về bước 4:
Ban chủ nhiệm Đề án đã nghiên cứu các
ý kiến đóng góp Trên cơ sở đó, Ban chủ
nhiệm Đề án đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn
* Về bước 5:
Trên cơ sở nội dung của hai bộ tiêu chuẩn, Ban chủ nhiệm Đề án đã dự thảo các
bộ quy trình và các bộ công cụ hỗ trợ Các dự thảo này đã được nhóm thực hiện Đề án gồm Ban chủ nhiệm Đề án và các cộng tác viên của Đề án nghiên cứu và đóng góp ý kiến
2 Về các bộ tiêu chuẩn, các bộ quy trình và các bộ công cụ hỗ trợ
2.1 Về hai bộ tiêu chuẩn
Để có cơ sở thống nhất cho việc xây dựng hai bộ tiêu chuẩn đánh giá, nhóm thực hiện Đề án đã thống nhất một số nguyên tắc trong xây dựng hai bộ tiêu chuẩn này Đó là:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa đánh giá về số lượng và đánh giá về chất lượng của hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học
- Nguyên tắc đảm bảo tính đa dạng trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học
- Nguyên tắc đảm bảo tính kỉ luật trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa nội dung và phương pháp trong giảng dạy
- Nguyên tắc đảm bảo tính rõ ràng, tính thực tế và tính khả thi của các tiêu chí của các bộ tiêu chuẩn
Tuân thủ các nguyên tắc trên, nhóm thực hiện Đề án đã xây dựng được:
- Bộ tiêu chuẩn đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên gồm 4 tiêu chuẩn với 35 tiêu chí;
Trang 3- Bộ tiêu chuẩn đánh giá hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên gồm 3
tiêu chuẩn với 27 tiêu chí
* Về Bộ tiêu chuẩn đánh giá hoạt động
giảng dạy: Bộ tiêu chuẩn gồm 4 tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn 1 gồm 10 tiêu chí chung (20
điểm); Tiêu chuẩn 2 gồm 10 tiêu chí về giáo
án - là sản phẩm quan trọng nhất của hoạt
động chuẩn bị giảng dạy (15 điểm); Tiêu
chuẩn 3 gồm 10 tiêu chí về hoạt động giảng
dạy trên lớp (50 điểm) và Tiêu chuẩn 4 gồm
5 tiêu chí về hoạt động đánh giá kết quả học
tập của người học (15 điểm) Trong 35 tiêu
chí có 29 tiêu chí được tính điểm ở các mức
khác nhau và 6 tiêu chí về vi phạm, bị trừ
điểm ở các mức khác nhau Trong các tiêu
chí có cả tiêu chí định lượng và tiêu chí định
tính nhưng các tiêu chí định tính đều rất rõ
ràng, đảm bảo có thể đánh giá được
+ Tiêu chuẩn 1 là tiêu chuẩn đánh giá
tổng quát Trong đó, nội dung đánh giá bao
gồm mức độ hoàn thành về số lượng giờ
giảng; mức độ tham gia các hình thức,
phương thức và bậc đào tạo; mức độ sử dụng
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin vào hoạt
động giảng dạy và việc tuân thủ kỉ luật trong
giảng dạy và sinh hoạt chuyên môn liên quan
đến giảng dạy
+ Tiêu chuẩn 2 là tiêu chuẩn đánh giá về
một hoạt động chuẩn bị cơ bản của giảng
viên - hoạt động chuẩn bị giáo án Trong đó,
nội dung đánh giá bao gồm nội dung và hình
thức của giáo án (kể cả giáo án truyền thống
và giáo án điện tử)
+ Tiêu chuẩn 3 là tiêu chuẩn đánh giá về
hoạt động quan trọng nhất của giảng viên – hoạt động giảng dạy trên lớp (bao gồm cả giờ lí thuyết và giờ seminar) Trong đó, nội dung đánh giá bao gồm nội dung bài dạy, phương pháp sư phạm và thái độ làm việc + Tiêu chuẩn 4 là tiêu chuẩn đánh giá về hoạt động đánh giá người học Đây là hoạt động không tách rời hoạt động giảng dạy trên lớp và cũng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động đào tạo nói chung Nội dung đánh giá của tiêu chuẩn này bao gồm mức độ hoàn thành về số lượng và chất lượng công việc tham gia ra đề và chấm bài các loại
* Về Bộ tiêu chuẩn đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học: Bộ tiêu chuẩn gồm 3 tiêu chuẩn Tiêu chuẩn 1 gồm 10 tiêu chí về các sản phẩm của tất cả các loại hình hoạt động khoa học (70 điểm); Tiêu chuẩn 2 gồm
5 tiêu chí về hoạt động hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học (20 điểm); Tiêu chuẩn
3 gồm 2 tiêu chí về hoạt động thẩm định kết quả nghiên cứu khoa học (10 điểm) Trong
27 tiêu chí có 25 tiêu chí được tính điểm ở các mức khác nhau (nhưng 4 tiêu chí trong
số đó có thể bị trừ điểm) và 2 tiêu chí về không hoàn thành nhiệm vụ và bị trừ điểm ở các mức khác nhau 27 tiêu chí đều là tiêu chí định lượng
+ Tiêu chuẩn 1 là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của chính cá nhân giảng viên Đây là nội dung cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trong đó, nội dung đánh giá bao gồm số lượng
và chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học; mức độ đa dạng, đa mục đích của các
Trang 4sản phẩm này và mức độ tuân thủ kỉ luật về
thời hạn hoàn thành công việc được giao
+ Tiêu chuẩn 2 là tiêu chuẩn đánh giá
hoạt động hướng dẫn người học nghiên cứu
khoa học Công việc này vừa thuộc hoạt
động đào tạo nhưng lại liên quan trực tiếp
đến hoạt động nghiên cứu khoa học không
chỉ của người học mà của cả giảng viên Do
vậy, hướng dẫn người học nghiên cứu khoa
học có thể được đánh giá là một nội dung
của hoạt động nghiên cứu khoa học Nội
dung đánh giá ở đây bao gồm số lượng và
chất lượng hướng dẫn
+ Tiêu chuẩn 3 là tiêu chuẩn đánh giá
hoạt động thẩm định sản phẩm nghiên cứu
khoa học các loại Cũng như tiêu chuẩn 2,
việc thẩm định phần lớn sản phẩm nghiên
cứu khoa học là thuộc hoạt động đào tạo
nhưng cũng liên quan đến hoạt động nghiên
cứu khoa học Do vậy, thẩm định kết quả
nghiên cứu khoa học có thể được xếp là một
nội dung của hoạt động nghiên cứu khoa học
tuy không có ý nghĩa như hoạt động hướng
dẫn nghiên cứu khoa học Nội dung đánh giá
ở đây bao gồm số lượng, mức độ đa dạng
của các sản phẩm được thẩm định và mức độ
tuân thủ kỉ luật về thời hạn thẩm định
2.2 Về hai bộ quy trình
Để có cơ sở thống nhất cho việc xây
dựng hai bộ quy trình đánh giá, nhóm thực
hiện Đề án đã thống nhất một số nguyên tắc
trong xây dựng hai bộ quy trình này Đó là:
- Nguyên tắc đảm bảo có sự tự đánh giá
trong mỗi hoạt động đánh giá
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa
chủ thể đánh giá là Hội đồng và chủ thể cung cấp thông tin đánh giá là các cá nhân
- Nguyên tắc đảm bảo mỗi tiêu chí cần có thông tin đánh giá từ nhiều chủ thể khác nhau Tuân thủ các nguyên tắc trên, nhóm thực hiện Đề án đã xây dựng được:
- Bộ quy trình đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên;
- Bộ quy trình đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên:
* Về Bộ quy trình đánh giá hoạt động giảng dạy:
- Chu kì đánh giá: 2 năm
- Thời gian giảng dạy được đánh giá: 1 học kì
- Chủ thể đánh giá: Hội đồng đánh giá cấp khoa hoặc cấp trường
- Chủ thể cung cấp thông tin đánh giá: Cán bộ quản lí; đồng nghiệp và người học Trong đó, cán bộ quản lí có thể là: Cán bộ quản lí bộ môn; cán bộ quản lí cấp khoa của các khoa chuyên ngành, Khoai sau đại học
và Khoa tại chức; cán bộ quản lí cấp phòng của các phòng: Đào tạo, Thanh tra đào tạo và Công tác sinh viên Đồng nghiệp ở đây được hiểu là các giảng viên cùng bộ môn Người học là chủ thể cung cấp thông tin có thể là sinh viên, có thể là học viên cao học hoặc là nghiên cứu sinh Họ có thể theo học theo hệ chính quy hoặc hệ vừa làm vừa học
* Về Bộ quy trình đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học:
- Chu kì đánh giá: 3 năm
- Thời gian nghiên cứu khoa học được đánh giá: 2 năm
Trang 5- Chủ thể đánh giá: Hội đồng đánh giá
cấp khoa hoặc cấp trường
- Chủ thể cung cấp thông tin đánh giá:
Cán bộ quản lí và đồng nghiệp Trong đó, cán
bộ quản lí có thể là: Cán bộ quản lí bộ môn;
cán bộ quản lí cấp khoa của các khoa chuyên
ngành và Khoa sau đại học; cán bộ quản lí
cấp phòng của các phòng: Quản lí khoa học,
Biên tập sách và trị sự tạp chí, Đào tạo và
Thanh tra đào tạo Đồng nghiệp ở đây được
hiểu là các giảng viên cùng bộ môn
Về hai bộ quy trình có thể thấy có sự
khác nhau về chu kì cũng như về thời gian
hoạt động được đánh giá Sự khác nhau này
là do có sự khác biệt nhất định giữa hai loại
hoạt động Hoạt động giảng dạy có tính ổn
định tương đối và mỗi môn học nhìn chung
đều có thể diễn ra trọn vẹn trong một học kì
Trong khi đó, hoạt động nghiên cứu khoa
học không có tính ổn định như vậy và nhiều
hình thức hoạt động diễn ra không phải trong
một học kì mà trong cả năm cũng như có thể
trong nhiều năm như hoạt động nghiên cứu
đề tài các cấp hay hoạt động biên soạn giáo
trình, sách Chính do có những đặc thù này
mà thời gian hoạt động giảng dạy được đánh
giá chỉ cần 1 học kì, trong khi thời gian hoạt
động nghiên cứu khoa học được đánh giá
cần phải dài hơn mà không thể chỉ trong 1
học kì Nhóm Đề án dự kiến thời gian này
cần phải là 2 năm liên tiếp Từ vấn đề thời
gian hoạt động được đánh giá mà chu kì
đánh giá cũng được xác định Với thời gian
hoạt động được đánh giá là 1 học kì, chu kì
đánh giá hoạt động giảng dạy có thể là hàng năm hoặc hai năm một Nhóm Đề án dự kiến chu kì này là 2 năm vì đánh giá hoạt động giảng dạy hàng năm là không cần thiết mà lại tốn nhiều thời gian của giảng viên cũng như các bộ phận có liên quan Đối với việc đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học thì chu kì cần phải lớn hơn thời gian hoạt động được đánh giá Với thời gian nghiên cứu khoa học được đánh giá là 2 năm thì chu kì đánh giá tối thiểu phải là 3 năm Như vậy cứ hai năm được đánh giá thì có 1 năm trống Đây là chu kì hợp lí Do vậy, nhóm thực hiện
Đề án dự kiến chu kì đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học là 3 năm Như vậy, trong 5 năm, giảng viên sẽ được đánh giá 2 lần về hoạt động giảng dạy và 1 lần về hoạt động nghiên cứu khoa học
2.3 Về hai bộ công cụ hỗ trợ
Trên cơ sở hai bộ tiêu chuẩn và hai bộ quy trình nhóm thực hiện Đề án đã xây dựng các bộ công cụ giúp các chủ thể cung cấp thông tin đánh giá và chủ thể đánh giá thực hiện trách nhiệm của mình Các bộ công cụ
hỗ trợ gồm các biểu mẫu và phiếu thăm dò
Cụ thể có 17 loại biểu mẫu cho quy trình đánh giá hoạt động giảng dạy (trong đó có 1
bộ phiếu ý kiến phản hồi của người học) và
14 loại biểu mẫu cho quy trình đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học
3 Kiến nghị triển khai
Nếu Đề án được phép triển khai thực hiện thì cần:
- Hoàn chỉnh lần cuối 02 bộ tiêu chuẩn,
Trang 602 bộ quy trình và 02 bộ công cụ hỗ trợ
Việc này sẽ do nhóm thực hiện Đề án thực
hiện tiếp
- Tổ chức phổ biến chủ trương triển khai
thực hiện hoạt động đánh giá giảng viên trong
giảng dạy và nghiên cứu khoa học để tạo ra
sự đồng thuận về tư tưởng trước khi triển khai
thực hiện Việc này sẽ do Ban giám hiệu
Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện
- Tổ chức tập huấn về các bộ tiêu chuẩn,
các bộ quy trình cũng như các bộ công cụ hỗ
trợ cho tất cả giảng viên cũng như các cá
nhân khác thuộc chủ thể đánh giá và chủ thể
cung cấp thông tin đánh giá Việc này sẽ do
nhóm thực hiện Đề án và Trung tâm đảm
bảo chất lượng đào tạo của Trường Đại học
Luật Hà Nội thực hiện
- Chuẩn bị các điều kiện vật chất cần
thiết cho hoạt động đánh giá Việc này sẽ do
các đơn vị chức năng của Trường Đại học
Luật Hà Nội thực hiện
- Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động
đánh giá, trong đó có nội dung phân công
trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị, từng cá
nhân Việc này sẽ do Phòng tổ chức cán bộ
của Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện
dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu
NHÓM THC HIN Đ ÁN
(1) Nhóm thực hiện Đề án gồm: GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà
- chủ nhiệm Đề án, TS Bùi Đăng Hiếu – thư kí Đề án, Lê
Thị Bích Đào – thư kí Đề án, PGS.TS Nguyễn Văn Động,
TS Nguyễn Quốc Hoàn, TS Nguyễn Thị Nga, TS Nguyễn
Thị Kim Phụng, TS Nguyễn Văn Quang, PGS.TS Hoàng
Thị Minh Sơn, TS Nguyễn Thanh Tâm, PGS.TS Thái
Vĩnh Thắng, TS Nguyễn Thị Thuận, TS Trần Anh Tuấn,
ThS Trần Thị Ánh Tuyết
VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁP LÍ ĐẢM BẢO
(tiếp theo trang 58)
Theo quy định hiện hành, mức phạt đối với người có hành vi vi phạm chế độ CBTT dao động từ 10 đến 30 triệu đồng và tối đa có thể lên tới 90 triệu đồng (Điều 33, 34); đối với hành vi nghiêm trọng như cố ý làm sai sự thật hay che giấu sự thật, có thể bị phạt từ 150 đến
200 triệu đồng (Điều 7 và 11) So với mức phạt trước đây theo Nghị định của Chính phủ
số 36/2007/NĐ-CP, mức phạt trong Nghị định của Chính phủ số 85/2010/NĐ-CP đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, do hành vi gian lận trên TTCK có thể đem lại món lợi khổng
lồ cho chủ thể thực hiện hành vi đó, việc nghiên cứu về mức phạt tiền nói riêng và các chế tài phụ trợ nhằm chỉnh sửa kịp thời các loại chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm chế độ CBTT thật sát sao với tình hình thực
tế là một yêu cầu thường trực được đặt ra đối với các nhà làm luật
Tóm lại, để đảm bảo có được một TTCK minh bạch thông tin, Việt Nam cần không ngừng duy trì và hoàn thiện các chế độ BCTT, chế độ kế toán, kiểm toán và xây dựng một hệ thống chế tài nghiêm khắc áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm các chế độ này Trước mắt, cần gấp rút ban hành những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán; đồng thời các loại chế tài, các mức phạt tiền trong các quy định hiện hành cũng cần được
rà soát và chỉnh sửa kịp thời nhằm làm cho các chế độ CBTT, kế toán, kiểm toán được chấp hành nghiêm túc trong thực tiễn