Những điều kiện pháp lí đó thể hiện ở sự tồn tại của chế độ công bố thông tin CBTT, chế độ kế toán, chế độ kiểm toán hoàn thiện cùng với những chuẩn mực kế toán và kiểm toán tương thích
Trang 1
TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n *
hị trường chứng khoán (TTCK) minh
bạch là mục tiêu phấn đấu của bất kì
quốc gia nào trên thế giới có TTCK Để đạt
được mục tiêu đó, các quốc gia cần tạo dựng
và duy trì những điều kiện pháp lí cần thiết
cho một TTCK minh bạch Những điều kiện
pháp lí đó thể hiện ở sự tồn tại của chế độ
công bố thông tin (CBTT), chế độ kế toán,
chế độ kiểm toán hoàn thiện cùng với những
chuẩn mực kế toán và kiểm toán tương thích
với những chuẩn mực tương ứng của quốc tế
và cuối cùng, cũng không kém phần quan
trọng là cơ chế cưỡng chế thi hành pháp luật
hữu hiệu với hệ thống chế tài đủ mạnh áp
dụng đối với hành vi sai phạm để đảm bảo
rằng các chế độ nói trên được thực thi
Sở dĩ phải có chế độ CBTT toàn diện
trên TTCK vì thiếu chế độ này, TTCK sẽ
tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn cho các nhà đầu
tư Các quy định về CBTT, vì vậy, là bộ
phận cấu thành quan trọng của pháp luật
chứng khoán, với mục tiêu là công khai
thông tin với công chúng đầu tư, giúp họ có
quyết định đầu tư đúng đắn, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Tuy nhiên,
thông tin được công khai mà không minh
bạch, chính xác thì thông tin đó sẽ vô ích đối
với nhà đầu tư Để đảm bảo rằng thông tin
đến với các nhà đầu tư trên TTCK đầy đủ và
trung thực, các chủ thể có nghĩa vụ CBTT
còn cần phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ kế toán và kiểm toán Chế độ kế toán tốt có khả năng đem lại tính thống nhất, đồng bộ, rõ ràng trong báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh
tế quốc nội, giúp nhà đầu tư so sánh được một cách chính xác tình trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính giữa các doanh nghiệp trong nước Một hệ thống chuẩn mực
kế toán quốc gia phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế còn có khả năng giúp các nhà đầu tư so sánh được năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp ngoài nước Đây là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với công chúng đầu tư, giúp họ có được quyết định đầu tư sáng suốt: đầu tư vào doanh nghiệp nào, đầu tư vào doanh nghiệp trong nước hay ngoài nước Thêm vào đó, chế độ kiểm toán tốt song hành với chế độ
kế toán, còn hứa hẹn tính đầy đủ, trung thực của các thông tin tài chính mà các doanh nghiệp cung cấp cho thị trường Như vậy, ba chế độ: CBTT, kế toán và kiểm toán có thể xem là ba điều kiện pháp lí không thể tách rời mà các quốc gia cần duy trì để đảm bảo tính minh bạch, đầy đủ và chính xác của thông tin do các doanh nghiệp cung ứng cho
T
* Giảng viên chính Trung tâm luật so sánh Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2thị trường Tuy nhiên, ngay cả khi có được
chế độ CBTT, chế độ kế toán, kiểm toán hoàn
thiện, rất có thể các chế độ này vẫn không
được thực thi Vấn đề còn lại là cần có hệ
thống chế tài nghiêm khắc và bộ máy đủ
mạnh để cưỡng chế thi hành các chế tài đó thì
mới đủ sức răn đe những hành vi vi phạm
Bộ máy cưỡng chế thi hành hệ thống chế
tài áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi
phạm pháp luật là vấn đề lớn, không thể giải
quyết thấu đáo trong phạm vi bài viết này
Phần dưới đây của bài viết chỉ bàn về thực
trạng chế độ CBTT, chế độ kế toán, kiểm
toán của Việt Nam và về hệ thống chế tài áp
dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm
những chế độ này; đồng thời bài viết cũng
đưa ra một vài ý kiến nhằm góp phần tăng
cường tính công khai và minh bạch của
TTCK Việt Nam
1 Thực trạng chế độ công bố thông tin
Trước đây, hoạt động CBTT trên TTCK
chưa được chú ý đúng mực trong Nghị định
của Chính phủ số 48/1998/NĐ-CP và thậm chí
cả trong Nghị định của Chính phủ số
144/2003/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định
của Chính phủ số 144) Hiện nay, Luật chứng
khoán đã dành ra một chương riêng, Chương
VIII quy định về “Công bố thông tin” với
những điều khoản khá chi tiết
Quy định về phương tiện CBTT là một
trong những ví dụ cho thấy Luật chứng
khoán cụ thể hơn so với Nghị định của
Chính phủ số 144 Trước đây, Nghị định của
Chính phủ số 144 chỉ quy định việc CBTT
được thực hiện qua các phương tiện thông
tin đại chúng và bản tin TTCK (khoản 4 Điều 51) Hiện nay, các phương tiện CBTT theo Luật chứng khoán đã được mở rộng hơn
so với quy định trong Nghị định của Chính phủ số 144/2003/NĐ-CP Theo Điều 100 Luật chứng khoán, việc CBTT được thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua ấn phẩm của các tổ chức, công ti
và các phương tiện thông tin của sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK)
Đối tượng có nghĩa vụ CBTT theo Luật chứng khoán cũng được quy định rộng hơn
so với Nghị định của Chính phủ số 144 Ngoài các đối tượng có nghĩa vụ CBTT như trước đây (gồm SGDCK, TTGDCK, tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ti chứng khoán, công ti quản lí quỹ), Luật chứng khoán còn đưa thêm cả công ti đại chúng và công ti đầu tư chứng khoán vào danh mục đối tượng có nghĩa vụ CBTT
Phạm vi thông tin các doanh nghiệp phải công bố, nhìn chung cũng được mở rộng hơn nhiều so với trước Thông tin đến với nhà đầu tư trên TTCK qua các hình thức công bố thông tin định kì, công bố thông tin bất thường và công bố thông tin theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền
Có thể nói chế độ CBTT trong Luật chứng khoán đã được xây dựng và hoàn thiện hơn so với chế độ đó trong Nghị định của Chính phủ số 144, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi một số hạn chế Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định chênh lệch giữa nghĩa vụ CBTT của công ti đại chúng và của
Trang 3tổ chức niêm yết gây bất lợi cho nhà đầu tư,
đồng thời không khuyến khích các công ti
đại chúng “lên sàn”
Trước đây, Nghị định của Chính phủ số
144 đặt ra nghĩa vụ CBTT hoàn toàn giống
nhau giữa tổ chức phát hành và tổ chức niêm
yết Hiện nay, Luật chứng khoán quy định
nghĩa vụ CBTT cụ thể cho từng loại hình tổ
chức, có phân biệt giữa công ti đại chúng và
tổ chức niêm yết Tổ chức niêm yết, ngoài
việc phải CBTT như các công ti đại chúng
(Điều 101), còn phải gánh vác thêm một vài
nghĩa vụ CBTT khác như: 1) CBTT trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi bị tổn thất tài sản
có giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên; 2)
Phải công bố thông tin về BCTC quý; 3)
Phải tuân thủ quy chế CBTT của SGDCK,
TTGDCK (Điều 103)
Như vậy, Luật chứng khoán đã áp đặt
nghĩa vụ CBTT nặng hơn lên vai tổ chức
niêm yết so với công ti đại chúng Quy định
này trong thời gian đầu xem ra hợp lí vì về
phương diện lí thuyết, các công ti có chứng
khoán niêm yết trên sàn giao dịch sẽ gây ảnh
hưởng tới sự an toàn của số lượng lớn các
nhà đầu tư Tuy nhiên, thực tiễn thi hành
Luật chứng khoán trong những năm qua cho
thấy lượng chứng khoán của các công ti đại
chúng được mua bán, trao đổi ngoài SGDCK
cũng ảnh hưởng tới lợi ích của số lượng
không nhỏ các nhà đầu tư Vì vậy việc tiếp
tục duy trì quy định pháp luật về nghĩa vụ
CBTT của công ti đại chúng hẹp hơn nghĩa
vụ đó của công ti niêm yết xem ra không
phải là sự lựa chọn sáng suốt vì ít nhất hai lí
do Một là mức độ gây thiệt hại cho nhà đầu
tư do thiếu thông tin từ phía công ti đại chúng và công ti niêm yết có thể nói không khác nhau nhiều lắm vì theo luật và trên thực
tế, cả hai loại công ti này đều có số lượng nhà đầu tư lớn (từ 100 nhà đầu tư trở lên)
Hai là do nghĩa vụ CBTT của công ti niêm yết lớn hơn, các công ti đại chúng có xu hướng ngại “lên sàn” vì sợ phải đối mặt với nghĩa vụ CBTT, sợ bị bại lộ chiến lược sản xuất kinh doanh trước các đối thủ cạnh tranh trên thương trường Và vì vậy, số lượng các công ti đại chúng không phải công khai thông tin rộng rãi sẽ tăng, nguy cơ rủi ro về thông tin đối với công chúng đầu tư cũng vì thế tăng lên tương ứng
Thứ hai, việc mở rộng phạm vi thông tin các tổ chức phát hành trái phiếu ra công chúng, tổ chức niêm yết và công ti đại chúng phải công bố theo Luật chứng khoán sẽ làm rối thông tin được công bố và có khả năng đặt
các chủ thể CBTT nói trên vào thế bất lợi
Luật chứng khoán yêu cầu các công ti đại chúng, tổ chức phát hành trái phiếu ra công chúng, và tổ chức niêm yết phải CBTT
về BCTC hàng năm (các điều 101, 102 và 103); riêng tổ chức niêm yết còn phải CBTT
về BCTC quý (điểm b khoản 1 Điều 103) Vừa qua, Thông tư của Bộ tài chính số 09/2010/TT-BTC đã áp đặt thêm nghĩa vụ CBTT về BCTC bán niên lên vai các tổ chức niêm yết (điểm 1 đoạn 1.3 Mục IV) Trước đây, Nghị định của Chính phủ số 144 chỉ yêu cầu các tổ chức nói trên phải công bố báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh -
Trang 4một bộ phận của BCTC.(1) Hiện nay, Luật
chứng khoán không chỉ yêu cầu các chủ thể
nói trên phải CBTT về báo cáo kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh mà phải CBTT về
toàn bộ BCTC, trong đó báo cáo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ là một
trong bốn bộ phận cấu thành Yêu cầu này rõ
ràng khắt khe hơn trước vì thực chất đã buộc
các đối tượng có nghĩa vụ CBTT phải cung
cấp nhiều thông tin hơn cho công chúng đầu
tư, thậm chí công khai cả những thông tin
không thực sự cần thiết cho các nhà đầu tư
Kinh nghiệm của một số nước phát triển
như Anh, Mỹ, Australia và Singapore cho thấy
ở các nước này pháp luật thường không quy
định các công ti niêm yết và công ti trách nhiệm
hữu hạn lớn phải công khai toàn bộ BCTC
của mình Thông tin trong BCTC được phân
chia thành hai nhóm: 1) Thông tin sẽ được
công bố; 2) Thông tin sẽ không công bố.(2)
Với cách tiếp cận này, ở các quốc gia
nói trên, công chúng đầu tư không thể tiếp
cận toàn bộ thông tin nằm trong BCTC của
các công ti có nghĩa vụ CBTT mà chỉ có thể
tiếp cận những thông tin cần thiết, phục vụ
trực tiếp cho việc ra quyết định đầu tư đúng
đắn Nên chăng các nhà làm luật Việt Nam
lưu ý và cân nhắc kĩ lưỡng vấn đề này khi
hoàn thiện Luật chứng khoán Trên thực tế,
việc công bố một phần hay toàn bộ BCTC
là vấn đề rất có ý nghĩa đối với bản thân các
công ti có nghĩa vụ CBTT, đặc biệt khi lí do
“ngại niêm yết” của các công ti đại chúng
đủ tiêu chuẩn niêm yết hiện nay vẫn là sợ bị
bại lộ chiến lược sản xuất kinh doanh hay
sợ bị “xấu mặt” khi mọi sai lầm trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ti đều
bị phơi bày ra ánh sáng Xử lí được vấn đề này một cách đúng mực trong Luật chứng khoán sẽ góp phần thúc đẩy các công ti lớn mạnh dạn “lên sàn”
Thứ ba, các quy định về thời hạn công
bố BCTC quý của công ti niêm yết vừa mơ
hồ, vừa mâu thuẫn
Luật chứng khoán quy định công ti niêm yết phải công bố BCTC quý trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày hoàn thành BCTC quý.(3) Quy định như vậy không rõ là ngày nào công
ti niêm yết sẽ phải công bố BCTC quý vì cả Luật kế toán và Nghị định của Chính phủ số 129/2004/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Luật
kế toán) đều không quy định thời hạn hoàn thành BCTC quý của doanh nghiệp Nghị định của Chính phủ số 129/2004/NĐ-CP chỉ quy định thời hạn nộp BCTC quý của doanh nghiệp là 20 ngày, kể từ ngày kết thúc quý
Vì vậy doanh nghiệp có thể trì hoãn việc công bố thông tin với lí do chưa hoàn thành BCTC quý
Có lẽ vì lí do này, trên thực tế, giữa tháng 3/2010, Uỷ ban chứng khoán (UBCK) nhà nước đã phải ra công văn nhắc nhở tới hơn 200 trong số hơn 500 công ti niêm yết
do chậm gửi BCTC quý IV/2009 Tuy nhiên, UBCK nhà nước đã không có biện pháp xử
lí đối với các doanh nghiệp này.(4) Có lẽ vì thiếu biện pháp xử lí nghiêm khắc mà tới tận ngày 20/4/2010 mới chỉ có khoảng 40 trong
số hơn 500 công ti niêm yết nộp BCTC quý.(5) Tình trạng này có thể sẽ trầm trọng thêm
Trang 5vì gần đây, Thông tư của Bộ tài chính số
09/2010/TT-BTC “dường như” đã cho phép
các công ti niêm yết trì hoãn việc công bố
BCTC quý thêm một thời gian nữa Theo
Thông tư này, công ti niêm yết chỉ phải công
bố BCTC quý trong thời hạn 25 ngày kể từ
ngày kết thúc quý (điểm 1 đoạn 1.2 Mục
IV) Sự thiếu nhất quán trong quy định về
thời hạn công bố BCTC quý của công ti
niêm yết giữa Luật chứng khoán và Thông tư
của Bộ tài chính số 09/2010/TT-BTC sẽ làm
suy yếu khả năng cưỡng chế thi hành nghĩa
vụ CBTT của các công ti niêm yết, có nguy
cơ đe doạ sự an toàn của các nhà đầu tư và
tính ổn định của TTCK
Thứ tư, quy định cổ đông lớn phải báo
cáo về số lượng cổ phần mình sở hữu vừa tối
nghĩa vừa không bao quát hết đối tượng có
nghĩa vụ CBTT:
Điều 29 Luật chứng khoán quy định:
“Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn
của công ti đại chúng phải báo cáo công ti
đại chúng, UBCK nhà nước và SGDCK nơi
cổ phiếu của công ti được niêm yết trong
thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ
đông lớn” Quy định này khá tối nghĩa vì: 1)
Nếu quy định này được hiểu là “1 cá nhân
hoặc 1 tổ chức trở thành cổ đông lớn của
công ti đại chúng phải báo cáo…” thì sẽ
không bao quát trường hợp một vài cá nhân
hoặc tổ chức thông đồng với nhau mua tổng
số cổ phiếu thậm chí vượt quá 5% số cổ
phiếu có quyền biểu quyết của cùng một
công ti đại chúng nhưng mỗi cá nhân/tổ chức
chỉ mua 4,9%, khi đó những đối tượng này
sẽ không phải CBTT; 2) Nếu quy định này được hiểu là “một số cá nhân/một số tổ chức trở thành cổ đông lớn của công ti đại chúng phải báo cáo…” thì cũng vô lí vì dường như bất kì nhóm cá nhân, tổ chức nào mua vượt quá 5% số cổ phần có quyền biểu quyết của công ti đại chúng đều phải CBTT, bất kể họ
có hay không câu kết với nhau khi mua Vừa qua, Thông tư của Bộ tài chính số 09/2010/TT-BTC (điểm 4 Mục II) đã phần nào giải toả thắc mắc trên bằng cách quy
định: “Tổ chức, cá nhân, nhóm người có liên
quan nắm giữ từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết… phải báo cáo…” Tuy nhiên, quy định tối nghĩa trong Điều 29 Luật chứng khoán cần phải được khắc phục khi hoàn thiện Luật chứng khoán sau này
Thứ năm, việc thu hẹp nghĩa vụ CBTT của các SGDCK sẽ làm lu mờ vai trò tự quản của các SGDCK
Tương tự Nghị định của Chính phủ số
144, Luật chứng khoán cũng yêu cầu các SGDCK phải CBTT về: 1) Các giao dịch chứng khoán trên sàn giao dịch của mình; 2)
Về tổ chức niêm yết, về công ti chứng khoán, công ti quản lí quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán và công ti đầu tư chứng khoán; 3) Về giám sát hoạt động của thị trường (Điều 107) Điểm khác biệt lớn nhất trong quy định
về nghĩa vụ CBTT của SGDCK theo Luật chứng khoán so với Nghị định của Chính phủ số 144 là ở chỗ: trước đây, SGDCK có nghĩa vụ CBTT quản lí thị trường nhưng hiện nay SGDCK chỉ có nghĩa vụ CBTT giám sát hoạt động thị trường
Trang 6Quy định mới này có lẽ xuất phát từ sự
thay đổi hình thức sở hữu và hình thức tổ
chức của “thị trường giao dịch chứng khoán”
theo Luật chứng khoán và theo Nghị định
của Chính phủ số 144 Trước đây, TTGDCK
là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc UBCK
nhà nước, hoạt động bằng kinh phí do ngân
sách nhà nước cấp Nói cách khác,
TTGDCK là một bộ phận của cơ quan quản
lí nhà nước về chứng khoán và vì vậy cũng
có chức năng tổ chức, quản lí, điều hành và
giám sát các hoạt động giao dịch chứng
khoán tại trung tâm Luật chứng khoán đã
đổi mới hình thức sở hữu và hình thức tổ
chức của thị trường giao dịch chứng khoán,
theo đó SGDCK là những công ti cổ phần
hoặc công ti trách nhiệm hữu hạn, có chức
năng tổ chức và giám sát hoạt động giao dịch
chứng khoán niêm yết tại sàn giao dịch Như
vậy, theo Luật chứng khoán, SGDCK không
có chức năng quản lí nhà nước đối với
TTCK như trước Vì vậy phạm vi và mức độ
CBTT của SGDCK cũng đã được xác định
lại cho phù hợp với địa vị pháp lí mới
Theo kinh nghiệm của các nước có
TTCK phát triển, bản thân các SGDCK dù
được tổ chức dưới hình thức hiệp hội thành
viên hay hình thức công ti đều được pháp
luật thừa nhận là những tổ chức tự quản,
quản lí các hoạt động diễn ra trên sàn giao
dịch của mình và chịu sự giám sát của cơ
quan quản lí nhà nước về chứng khoán.(6) Vì
vậy, các nhà làm luật Việt Nam không nhất
thiết phải thu hẹp nghĩa vụ CBTT của
SGDCK chỉ vì chuyển đổi hình thức sở hữu
và hình thức tổ chức của sàn giao dịch này
Dù là công ti cổ phần hay công ti trách nhiệm hữu hạn, các SGDCK vẫn có thể thực hiện tốt trách nhiệm tự quản của mình và việc luật hoá nghĩa vụ CBTT về quản lí thị trường của các tổ chức tự quản này chính là một trong những biện pháp để đảm bảo các
tổ chức tự quản thực hiện có hiệu quả vai trò quản lí của mình
Hơn nữa ở Việt Nam, mặc dù pháp luật không chính thức thừa nhận SGDCK là tổ chức tự quản nhưng đã cho phép SGDCK được xây dựng và phát triển quy chế áp dụng đối với các thành viên của SGDCK và với các công ti niêm yết trên sàn giao dịch của mình Quyền ban hành quy chế và giám sát thực hiện quy chế do mình ban hành cũng như quyền giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể tham gia hoạt động trên sàn giao dịch…(7) là những dấu hiệu chứng tỏ SGDCK ở Việt Nam là tổ chức tự quản
2 Thực trạng chế độ kế toán và kiểm toán
Từ năm 2003, Việt Nam đã có Luật kế toán và trong những năm vừa qua, Bộ tài chính liên tục ban hành các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Tuy nhiên, không phải tất cả các IAS thịnh hành đều có mặt ở Việt Nam mà vẫn còn những khoảng trống; hơn nữa, bản thân Liên đoàn kế toán quốc tế cũng tiến hành sửa đổi và ban hành mới các IAS.(8) Vì vậy VAS vẫn khác IAS ở một số
khía cạnh, ví dụ: các VAS liên quan đến việc
lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán, hay cách điều
Trang 7chỉnh lãi, lỗ; cách thức đo lường và trình bày
lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS) và EPS pha
loãng; cách thức ghi chép chia cổ tức bằng
cổ phiếu, nhận cổ tức bằng cổ phiếu…(9)
Về chế độ kiểm toán, mặc dù cơ sở
pháp lí nền tảng cho hoạt động kiểm toán
độc lập ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở văn
bản do Chính phủ ban hành: Nghị định của
Chính phủ số 105/2004/NĐ-CP và Nghị
định của Chỉnh phủ số 133/2005/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung Nghị định của Chính phủ
số 105/2004/NĐ-CP nhưng các quy định về
kiểm toán độc lập đối với các doanh nghiệp
có chứng khoán lưu hành rộng rãi ở Việt
Nam được thiết kế khá toàn diện Đồng thời
nhiều chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được
dịch trực tiếp từ chuẩn mực kiểm toán quốc
tế, mặc dù đôi lúc còn gây khó khăn cho
thực tiễn hoạt động kiểm toán do cách dịch
nhưng đã góp phần làm tăng mức độ tương
thích giữa kết quả kiểm toán của nước ta
với quốc tế
Theo Luật chứng khoán, công ti đại
chúng, công ti niêm yết và tổ chức phát hành
trái phiếu ra công chúng đều phải được tổ
chức kiểm toán độc lập kiểm toán BCTC
năm (các điều 101, 102, 103) và theo Quy
chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được
chấp thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành,
tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh
chứng khoán (gọi tắt là Quy chế) ban hành
kèm theo Quyết định của Bộ tài chính số
89/2007/QĐ-BTC, dịch vụ kiểm toán đó
phải do tổ chức kiểm toán được chấp thuận
cung ứng; danh sách các tổ chức kiểm toán
được chấp thuận sẽ được UBCK nhà nước rà soát lại hàng năm Cả Quy chế (Điều 6) và Nghị định của Chính phủ số
105/2004/NĐ-CP (Điều 27) đều có những quy định nhằm ngăn chặn những tình huống có thể ảnh hưởng tới tính khách quan và chi phối kết quả kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc
lập… Ví dụ: Doanh nghiệp kiểm toán được
chấp thuận (bên kiểm toán) không được thực hiện kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán (bên được kiểm toán) trong các trường hợp: 1) Giữa bên kiểm toán và bên được kiểm toán) có quan hệ kinh tế (hùn vốn, liên doanh, góp cổ phần ); 2) Bên kiểm toán và bên được kiểm toán có chung một cổ đông lớn; 3) Bên kiểm toán là khách hàng đang hưởng những điều kiện ưu đãi của bên được kiểm toán; 4) Bên kiểm toán đang thực hiện hoặc đã thực hiện trong 2 năm trước liền kề dịch vụ ghi sổ kế toán, lập BCTC, dịch vụ kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lí, tư vấn tài chính cho bên
được kiểm toán
Có thể nói tới nay, Việt Nam đã có chế
độ kế toán và kiểm toán khá chi tiết và ở một mức độ nhất định, các chuẩn mực kế toán và kiểm toán của Việt Nam tương đối phù hợp với các chuẩn mực đó của quốc tế Tuy nhiên, cần nhận thức rằng không phải cứ có chế độ kế toán, kiểm toán chặt chẽ và có các chuẩn mực kế toán, kiểm toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế là sẽ đảm bảo sự thành công của chế độ CBTT trên TTCK Thực tiễn thi hành chế độ kế toán và kiểm toán
Trang 8đóng vai trò không kém phần quan trọng để
đạt được sự thành công đó Kinh nghiệm của
Mỹ đã minh chứng cho nhận định trên qua
sự sụp đổ của hai tập đoàn kinh tế khổng lồ:
Enron và WorldCom vào đầu thiên niên kỉ
mới Cả hai tập đoàn đều phá sản do quản trị
công ti yếu kém; do tình trạng không chấp
hành nghiêm túc pháp luật kế toán và kiểm
toán; do gian lận trong hoạt động kế toán,
kiểm toán nhằm thổi phồng lợi nhuận và che
giấu những yếu kém trong quản lí tài chính
từ phía bản thân mỗi tập đoàn và cả từ phía
công ti kiểm toán…
Trước thực tế này, tháng 7/2002 Tổng
thống Bush đã phê chuẩn đạo luật
Sarbanes-Oxley (còn được gọi là Luật hiện đại hoá tài
chính công ti - Corporate Financial
Mordenization Act) nhằm cải tổ thực tiễn
hoạt động tài chính công ti Đạo luật đã
thành lập ra Uỷ ban giám sát hoạt động kế
toán của công ti đại chúng, chịu trách nhiệm
giám sát và điều tra hoạt động kiểm toán và
các kiểm toán viên của công ti đại chúng; áp
dụng chế tài đối với các tổ chức và cá nhân
vi phạm pháp luật về kế toán và kiểm toán
Nhằm nâng cao chất lượng thông tin do các
công ti công bố, đạo luật còn quy định các
công ti phải có ban kiểm toán nội bộ độc lập
Thêm vào đó, để đảm bảo cả công ti đại
chúng và công ti kiểm toán có trách nhiệm
đối với các BCTC đã được kiểm toán, đạo
luật quy định các kiểm toán viên phải báo
cáo và chịu sự giám sát của ban kiểm toán
công ti và ban này có quyền phê chuẩn tất cả
các dịch vụ kiểm toán Để chống xung đột
lợi ích, đạo luật cấm các công ti kiểm toán thực hiện kiểm toán cho các công ti đại chúng nếu công ti kiểm toán đó tuyển dụng những người đã từng là cán bộ cấp cao (giám đốc tài chính, kế toán trưởng…) tại các công
ti đại chúng nói trên… Đạo luật còn quy định rõ cả công ti đại chúng và kiểm toán viên của công ti đều phải tuân thủ quy định
mới về kế toán và kiểm toán Ví dụ: 1) Cần
có công ti kiểm toán độc lập thứ hai rà soát lại và thông qua báo cáo kiểm toán; 2) Các công ti kiểm toán không được cung cấp dịch
vụ không thuộc lĩnh vực kiểm toán như: lưu giữ sổ sách kế toán, thiết kế hệ thống thông tin, đánh giá dịch vụ…(10)
Khảo sát thực tiễn hoạt động kế toán, kiểm toán ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy: đầu năm 2009, có tới 47 doanh nghiệp có chênh lệch lên tới trên 50% giữa kết quả kinh doanh trước và sau kiểm toán Nhiều công ti vốn đã lỗ, sau kiểm toán còn
bị lỗ nặng hơn nhiều Theo giải trình của những công ti niêm yết đã được SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội công bố là có chênh lệch kết quả kinh doanh trước và sau kiểm toán, nguyên nhân của tình trạng này khá đa dạng.(11)
Ngược lại, có ý kiến cho rằng có hai khả năng dẫn đến tình trạng chênh lệch nói trên trong kết quả kinh doanh của các doanh
nghiệp trước và sau kiểm toán Một là
doanh nghiệp muốn giảm bớt số lãi thực tế
để giảm bớt số thuế thu nhập phải nộp; hoặc doanh nghiệp quá thận trọng với các diễn biến của thị trường nên đã trích lập dự
Trang 9phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm giá các
khoản đầu tư nói chung quá lớn, vượt quá
mức cần thiết Hai là có nhiều doanh
nghiệp trích lập dự phòng giảm giá quá ít so
với mức độ giảm giá thực tế của các khoản
đầu tư để che giấu tình trạng làm ăn yếu
kém, tạo ra bức tranh giả tạo về thực trạng
hoạt động của doanh nghiệp.(12)
Như vậy, ngoài nguyên nhân gian lận vì
các lợi ích khác nhau của doanh nghiệp đã
đề cập, lí do chủ yếu dẫn đến tình trạng
chênh lệch kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp trước và sau kiểm toán vẫn là cách
ghi chép, tính toán các khoản thu, chi; cách
hạch toán chênh lệch tỉ giá; cách trích lập
các khoản dự phòng… Nói cách khác,
nguyên nhân nằm ở sự thiếu nhất quán trong
việc thực hiện nghiệp vụ kế toán giữa các
doanh nghiệp được kiểm toán và các công ti
kiểm toán Sự thiếu nhất quán này một phần
do bản thân chế độ kế toán và một phần phụ
thuộc vào thực tiễn thi hành chế độ kế toán
Nhận định trên cũng phù hợp với một ý
kiến khác cho rằng các chuẩn mực kế toán
liên quan đến lĩnh vực thuế đã rõ ràng, tuy
nhiên, việc thực hiện các chuẩn mực kế toán
vẫn phụ thuộc vào các công ti đại chúng vì
ba lí do Một là nhiều công ti đại chúng có
các kế toán và kiểm toán viên thiếu kiến thức
chuyên môn và kinh nghiệm; hai là một số
giám đốc công ti không biết hoặc không
được đào tạo về chuẩn mực kế toán; ba là
Luật kế toán năm 2003 không quy định các
công ti Việt Nam phải tuân thủ các chuẩn
mực kế toán như thế nào.(13)
3 Thực trạng hệ thống chế tài áp dụng đối với chủ thể vi phạm chế độ công bố thông tin, chế độ kế toán, kiểm toán
Cho tới nay, cơ sở pháp lí cho việc xử lí các hành vi vi phạm các quy định pháp luật
có ảnh hưởng trực tiếp tới tính minh bạch, chính xác, đầy đủ và công khai của TTCK vẫn còn khá lỏng lẻo Cụ thể là Việt Nam mới có hai nghị định quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, lĩnh vực kế toán: Nghị định của Chính phủ số 85/2010/NĐ-CP, Nghị định của Chính phủ
số 185/2004/NĐ-CP nhưng chưa có văn bản
riêng quy định cụ thể về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kiểm toán Nghị định của Chính phủ số 105/2004/NĐ-CP chỉ có duy nhất một điều (Điều 38) quy định chung về
xử lí vi phạm: “Tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm quy định của Nghị định này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
64/2004/TT-BTC (hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ số 105/2004/NĐ-CP) cũng mới chỉ đưa ra một vài hình thức xử phạt nếu doanh nghiệp kiểm toán gây thiệt hại cho khách hàng như: chấm dứt hợp đồng kiểm toán đã kí; không được tiếp tục kí hợp đồng kiểm toán trong các năm sau; trừ tiền phí kiểm toán đã thỏa thuận trong hợp đồng; phạt tiền cao nhất gấp 10 lần giá phí kiểm toán trong hợp đồng năm bị phạt (Phần II, Mục C, điểm 6) Như vậy, tới nay, pháp luật kiểm toán vẫn chưa quy định cụ thể hành vi
Trang 10nào là vi phạm hành chính trong lĩnh vực
kiểm toán, vi phạm ở mức nào sẽ được xử lí
ra sao… để làm cơ sở pháp lí cho cơ quan
quản lí tiến hành xử phạt các công ti kiểm
toán và kiểm toán viên có hành vi sai phạm
Trong lĩnh vực kế toán, Nghị định của
Chính phủ số 185/2004/NĐ-CP đã xác định
hành vi nào là vi phạm hành chính trong lĩnh
vực kế toán và đã đề ra mức phạt cụ thể cho
các hành vi vi phạm Ví dụ: vi phạm quy
định về BCTC và công khai BCTC sẽ bị
phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng; nếu vi phạm
nghiêm trọng mức phạt sẽ dao động từ 10
đến 20 triệu đồng (Điều 10) Tuy nhiên Nghị
định của Chính phủ số 185/2004/NĐ-CP
được ban hành từ năm 2004 sau sự ra đời
của Luật kế toán, đến nay đã quá nửa thập
kỉ Mức phạt tiền trong Nghị định không còn
phù hợp với mặt bằng giá cả hiện nay và
không đủ sức răn đe các hành vi vi phạm
pháp luật kế toán trong tương lai
Có lẽ trong lĩnh vực CBTT nói riêng và
TTCK nói chung, các quy định về xử phạt
hành chính được quan tâm hơn cả và đã liên
tục được hoàn thiện nhằm đảm bảo sự phù
hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn
vận hành của TTCK Từ khi TTCK chính
thức ra đời ở Việt Nam tới nay, nghị định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực chứng khoán và TTCK đã được thay
thế tới bốn lần: mở đầu là Nghị định của
Chính phủ số 22/2000/NĐ-CP, tiếp đó là
Nghị định của Chính phủ số 161/2004/NĐ-CP,
rồi Nghị định của Chính phủ số
36/2007/NĐ-CP; vừa qua, ngày 02/08/2010,
Chính phủ lại ban hành Nghị định của
Chính phủ số 85/2010/NĐ-CP để thay thế Nghị định của Chính phủ số 36/2007/NĐ-CP
(Xem tiếp trang 76)
(1) Theo khoản 3 Điều 29 Luật kế toán: “Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm: a) Bảng cân đối kế toán; b) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; d) Bản thuyết minh báo cáo tài chính” (2).Xem: “Seeing a Compromise”, SGT Weekly,
nguồn: http://www.vneconomy.com.vn
(3) Điểm b khoản 1 Điều 103
(4).Xem: Nhật Minh, “SSC nhắc các doanh nghiệp niêm yết nộp báo cáo tài chính”, nguồn: http://vnexpress net/kinhdoanh/
(5).Xem: Hà Phan, “Doanh nghiệp niêm yết công bố lợi nhuận quý I/2010: Nhà đầu tư đừng quá kì vọng”,
nguồn: http://www.sbsc.com.vn/
(6).Xem: Nguyen Thi Anh Van, “Toward a Well Functioning Securities Market in Vietnam”, Nagoya University CALE Books 1 (2004), at 132 – 135 (7).Xem: Điều 37 Luật chứng khoán; Điều 4 Điểm 2; xem thêm, ví dụ: Điều lệ tổ chức và hoạt động của SGDCK Hà Nội, ban hành kèm theo Quyết định của
Bộ tài chính số 1354/QĐ-BTC ngày 29/05/2009 (8).Quốc tế có tới 51 chuẩn mực, Việt Nam mới có
26 chuẩn mực tính đến 7/2008 Tháng 12/2003, có tới 15 chuẩn mực kế toán quốc tế được sửa đổi, trong đó có 10 chuẩn mực kế toán đã được ban hành
tại Việt Nam Xem thêm: “Xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam”, nguồn: http://www
tapchiketoan.com/
(9).Xem: Trần Xuân Nam, “Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế, Việt Nam và sự khác biệt”, nguồn:
http://www.tapchiketoan.com/
(10).Xem: Sarbanes – Oxley Act of 2002, sections:
101 & 301, 15 USC
(11).Xem: Bùi Sưởng, “Chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán: Nhà đầu tư tin ai?”, nguồn:
http://www.kiemtoan.com.vn/
(12).Xem: “Báo cáo tài chính: Cần nhất là sự minh bạch”, nguồn: http://www.ssoft.vn
(13).Xem: “Tuân thủ chuẩn mực kế toán: Tuỳ tâm doanh nghiệp”, nguồn: http://www.tapchiketoan.com