NguyÔn V¨n TuyÕn * rong nền kinh tế thị trường, hầu như mọi hoạt động kinh doanh đều được thực hiện thông qua các hành vi pháp luật của một loại chủ thể gọi là thương nhân.. Bài viết dướ
Trang 1TS NguyÔn V¨n TuyÕn *
rong nền kinh tế thị trường, hầu như
mọi hoạt động kinh doanh đều được
thực hiện thông qua các hành vi pháp luật
của một loại chủ thể gọi là thương nhân Các
hành vi này diễn ra hàng ngày trong đời sống
kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau,
rất đa dạng, phức tạp và có thể tạo ra nhiều
hậu quả pháp lí khác nhau cho các bên liên
quan Điều này cho thấy việc nghiên cứu và
nhận diện chính xác bản chất của các hành vi
pháp luật trong kinh doanh để từ đó tìm ra cơ
chế điều chỉnh thích hợp bằng pháp luật đối
với các hành vi đó là rất cần thiết
Bài viết dưới đây xin trao đổi một vài ý
kiến xung quanh chủ đề này nhằm giúp ích
cho việc làm sáng tỏ hơn bản chất pháp lí
của những hành vi mang tính nghề nghiệp do
các thương nhân thực hiện trong đời sống
kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
1 Bản chất của hành vi pháp luật
Hành vi, theo Từ điển Hán Việt, được
định nghĩa một cách đơn giản là việc làm của
con người.(1) Nói như vậy, hành vi có nghĩa là
tất cả những gì thuộc về cách hành xử của
con người trong đời sống xã hội Xét về bản
chất, bất kể hành vi nào cũng đều gắn với một
chủ thể xác định (chủ thể thực hiện hành vi)
và thông thường thể hiện ý chí của chính chủ
thể đó Tuy nhiên, trong thực tế cũng có những
hành vi hoàn toàn không thể hiện ý chí của
chủ thể thực hiện chúng, đó là trường hợp những
hành vi vô thức của người không có khả năng
nhận thức và điều khiển hành vi của mình
Trong đời sống xã hội, hành vi có thể bao gồm nhiều dạng khác nhau nhưng quan trọng nhất vẫn là những hành vi thuộc phạm trù đạo đức (hành vi đạo đức) và những hành vi thuộc phạm trù pháp luật (hành vi pháp luật) Những hành vi mang ý nghĩa đạo đức khác với những hành vi mang ý nghĩa pháp luật ở chỗ các hành vi pháp luật khi được thực hiện bao giờ cũng làm phát sinh hiệu lực pháp lí nhất định cho chủ thể thực hiện hành
vi, thậm chí là cho cả những chủ thể khác có liên quan, trong khi các hành vi mang ý nghĩa đạo đức thì không nhất thiết phải có hệ quả này Điều đó đồng nghĩa với việc có thể tồn tại trong thực tế những hành vi vừa mang ý nghĩa đạo đức, vừa mang ý nghĩa pháp luật Hiện tượng này hoàn toàn có thể hiểu được bởi lẽ trong xã hội con người, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay phần lớn các hành vi của con người đều được điều chỉnh đồng thời bằng cả hai hệ thống chuẩn mực, bao gồm các chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật
Trong khoa học pháp lí, vấn đề bản chất của hành vi pháp luật đã từng được các học giả
đề cập trong nhiều tài liệu khác nhau Theo tác giả Trần Thúc Linh, hành vi pháp luật có nghĩa
là mọi sự biểu dương ý chí có mục đích gây ra một hiệu lực pháp lí.(2) Suy cho cùng, tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hành vi pháp luật nhưng mọi cách định nghĩa đều
T
* Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2thống nhất với nhau ở những vấn đề mang tính
bản chất sau đây của hành vi pháp luật:
Thứ nhất, mọi hành vi pháp luật đều gắn
với một chủ thể xác định, bởi lẽ, hành vi
pháp luật bao giờ cũng là hành vi của chủ
thể pháp luật Có thể khẳng định không một
chủ thể pháp luật nào muốn xác lập và thực
hiện các quan hệ pháp luật với các chủ thể
khác mà lại không thông qua việc thực hiện
các hành vi pháp luật Nói cách khác, hành
vi pháp luật chính là phương thức cơ bản để
các chủ thể pháp luật tham gia vào một quan
hệ pháp luật cụ thể nhằm đạt được các mục
tiêu mang tính chủ đích của mình
Thứ hai, mọi hành vi pháp luật đều có hệ
quả gây ra một hiệu lực pháp lí nhất định cho
chủ thể thực hiện hành vi đó Hệ quả pháp lí
này có thể nằm trong hoặc ngoài ý muốn chủ
quan của chủ thể thực hiện hành vi nhưng đều
có giá trị pháp lí ràng buộc với chủ thể đó
Thứ ba, hành vi pháp luật đều là sự kiện
pháp lí làm phát sinh các quan hệ pháp luật
giữa chủ thể thực hiện hành vi với các chủ
thể khác Về khía cạnh này, hành vi pháp
luật khác với các sự biến pháp lí ở chỗ nếu
hành vi pháp luật luôn gắn liền với yếu tố ý
chí của chủ thể pháp luật thì trái lại, các sự
biến pháp lí, mặc dù cũng được xem là một
loại sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ
pháp luật, lại không xuất phát từ hành vi có
chủ đích của chủ thể pháp luật mà chỉ là
những sự kiện khách quan do điều kiện tự
nhiên tạo ra
2 Khái lược về sự hình thành các hoạt
động thương mại ở Việt Nam
Không thể phủ nhận rằng Việt Nam vốn
là cái nôi của nền văn minh lúa nước Điều
ấy lí giải vì sao nền kinh tế cổ xưa của người
Việt, thậm chí cho đến mãi tận sau này, người dân nước Việt vẫn xem trọng nghề nông như một nghề truyền thống lâu đời Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực luật thương mại đã nhận định rằng các hoạt động thương mại ở Việt Nam mặc
dù được manh nha từ giai đoạn trị vì của các triều đại phong kiến Việt Nam nhưng nó chỉ thực sự bắt đầu phát triển kể từ khi thực dân Pháp thiết lập nền thống trị ở Việt Nam.(3) Trong các triều đại Lý, Trần, Lê, thương mại ở nước ta tuy có được chú trọng ở những mức độ khác nhau nhưng chủ yếu vẫn chỉ là sự giao thương trong nước chứ không phát triển các hoạt động thương mại với nước ngoài, có
lẽ xuất phát từ lí do bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Cho đến thời kì Trịnh, Nguyễn phân tranh, vì những lí do lịch sử mà hoạt động buôn bán với các thương nhân nước ngoài (chủ yếu là thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản) mới được quan tâm phát triển Những thương điếm nổi tiếng ở Việt Nam trong giai đoạn này là phố Khách (Hội An ngày nay) ở phía Nam và Kinh Kỳ, Phố Hiến ở phía Bắc Sau này, trong thời kì Pháp thuộc, do nhu cầu khai thác thuộc địa mà nền thương mại và kĩ nghệ ở Việt Nam mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong phạm vi quốc nội mà còn mở rộng rất nhiều với bên ngoài, trong đó bao gồm cả việc giao thương với các quốc gia phương Tây
Có thể nói nền thương mại và kĩ nghệ ở Việt Nam tuy xuất hiện và phát triển muộn hơn so với Trung Quốc, Nhật Bản hay các nước phương Tây nhưng chế độ thương mại
ở nước ta đã từng được quy định và áp dụng khá chi tiết, bài bản dựa trên căn bản nền pháp chế thương mại Tây phương.(4) Đây
Trang 3cũng là cơ hội để thương mại ở Việt Nam
được tiếp cận trực tiếp với những điển chế
thương mại tân tiến thời bấy giờ của phương
Tây nhằm khuyếch trương và tạo tiền đề cho
sự phát triển của hoạt động thương mại ở
Việt Nam sau này
3 Một số đặc trưng của các hành vi
pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh
Theo nghĩa hẹp, hành vi pháp luật trong
hoạt động kinh doanh có thể hiểu là những
hoạt động ý chí do chủ thể kinh doanh
(thương nhân) thực hiện một cách tự nguyện,
có chủ đích trong khi tiến hành các công
việc kinh doanh của mình nhằm mục tiêu thu
lợi nhuận tối đa
Trong hoạt động kinh doanh, các hành vi
pháp luật diễn ra khá đa dạng và phức tạp
Chúng ta có thể dễ dàng nhận diện được các
hành vi pháp luật trong kinh doanh thông qua
những hoạt động điển hình như việc các
thương nhân mua hàng về để bán đi hay cung
cấp những dịch vụ cho người khác nhằm mục
đích kiếm lời Khó nhận diện hơn một chút có
lẽ là những hoạt động dường như chưa thông
dụng và ít được biết đến trong đời sống
thương mại ở các nước đang trong quá trình
chuyển đổi cơ chế kinh tế như hành vi chuyển
giao công nghệ, bản quyền phát minh sáng
chế các giải pháp hữu ích, bí quyết kĩ thuật,
cho thuê doanh nghiệp, nhượng quyền thương
mại và hoạt động bán hàng đa cấp…
Tất cả những hành vi này đều hàm chứa
những điểm đặc trưng của hoạt động thương
mại khiến chúng ta không có lí do gì để
nhầm lẫn với những hành vi pháp luật trong
các lĩnh vực khác như hoạt động lập pháp
hay hoạt động hành pháp và tư pháp
Những điểm đặc trưng đó là gì?
Thứ nhất, về phương diện chủ thể, các hành vi pháp luật trong kinh doanh trước hết
là hoạt động ý chí của thương nhân, do chính các thương nhân thực hiện nhằm mục đích rõ ràng là thu lợi nhuận
Thương nhân - yếu tố chủ thể của loại hành vi pháp luật này được xem như là một trong những dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa hành vi pháp luật trong kinh doanh (hay còn được gọi là hành vi thương mại) với các hành vi pháp luật trong các lĩnh vực khác Điều đó có nghĩa là để xác định một hành vi pháp luật nào đó có phải là hành vi pháp luật trong kinh doanh hay không, trước hết phải xác định xem chủ thể thực hiện hành vi đó
có phải là thương nhân hay không
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong lịch sử nền pháp chế thương mại ở phương Tây (điển hình là Pháp và Đức), người ta đã từng chấp nhận những hành vi thương mại mang tính bản chất, ví dụ như việc mua hàng hoá về để bán lại nhằm mục đích kiếm lời; việc môi giới thương mại hay hoạt động hối đoái; việc kinh doanh chứng khoán hay kinh doanh bảo hiểm; việc sản xuất hàng hoá có tính chất công nghiệp và kĩ nghệ v.v bất kể người thực hiện chúng có tư cách của một thương nhân hay không.(5)
Ngày nay, khái niệm thương nhân thường được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm tất
cả những người nào có hoạt động thương mại một cách độc lập, chuyên nghiệp và nhằm mục đích kiếm lời, không phân biệt người đó có đăng kí với chính quyền về những hoạt động thương mại do chính họ thực hiện hay không.(6) Quan điểm này có sự tương đồng với luật thương mại của nhiều nước trên thế giới và chính điều đó khiến
Trang 4cho Luật thương mại Việt Nam hiện tại trở
nên phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn kinh
doanh và có khả năng thực thi dễ dàng trong
bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ hai, về phương diện khách thể, các
hành vi pháp luật trong kinh doanh, bất luận
nó thuộc loại nào và do ai thực hiện, đều
hướng tới một lợi ích giống nhau, đó là lợi
nhuận Không một chủ thể nào có thể được
xem là nhà kinh doanh thực thụ, nếu không
coi việc thu lợi nhuận như là mục tiêu chính
yếu của mình
Với dấu hiệu này, hành vi pháp luật
trong kinh doanh được hiểu theo nghĩa tương
đối hẹp nhưng rất cụ thể, bao gồm tất cả
những hành vi do chủ thể kinh doanh thực
hiện một cách tự nguyện, thường xuyên,
chuyên nghiệp với mục đích rõ ràng là thu
lợi nhuận tối đa Nếu quan niệm hành vi
pháp luật trong kinh doanh theo nghĩa đó thì
bất kì hoạt động mua hàng nào với mục đích
bán lại để kiếm lời cũng đều được xem là
hành vi kinh doanh hay hành vi thương mại -
tức hành vi pháp luật trong kinh doanh, bất
kể trong thương vụ đó nhà kinh doanh thu
lời hay bị thua lỗ Như vậy, ngoài dấu hiệu
chủ thể thực hiện hành vi, để nhận diện
hành vi nào đó có phải là hành vi pháp luật
trong kinh doanh hay không, nhất thiết phải
làm rõ khách thể của hành vi đó là gì - tức là
lợi ích mà chủ thể kinh doanh nhằm hướng
tới khi thực hiện hành vi, có phải là nhằm
thu lợi nhuận hay không Tính chất kiếm lời
của hành vi pháp luật trong kinh doanh
không phụ thuộc vào việc nhà kinh doanh có
thu được khoản lời hay không hoặc khoản
lời là bao nhiêu trên thực tế.(7)
Trong pháp luật thực định ở Việt Nam,
tính chất kiếm lời hay mục đích sinh lợi đã được pháp luật chính thức thừa nhận như một thuộc tính bản chất của hoạt động thương mại - tức hành vi pháp luật trong
kinh doanh: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác”.(8)
Thứ ba, về tính chất, mọi hành vi pháp luật trong kinh doanh - hành vi thương mại đều được các chủ thể kinh doanh thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và mang tính chất chuyên nghiệp
Tính thường xuyên và liên tục của các hành vi thương mại - hành vi kinh doanh được thể hiện ở chỗ hành vi đó được chủ thể kinh doanh thực hiện lặp đi, lặp lại nhiều lần trong khoảng thời gian dài liên tục mà không
có gián đoạn, với nội dung và phương thức
cơ bản giống nhau
Còn tính chất chuyên nghiệp của các hành vi pháp luật trong kinh doanh được thể hiện ở chỗ nhà kinh doanh luôn ý thức được tính chất nghề nghiệp của công việc kinh doanh nên sẵn sàng tìm cách đầu tư thoả đáng
về tiền bạc (vốn kinh doanh), nguồn nhân lực (người lao động với trình độ chuyên môn thích hợp) và công nghệ quản lí (phương tiện
kĩ thuật và khoa học quản lí) để sao cho công việc kinh doanh được tiến hành trôi chảy với chất lượng và hiệu quả cao nhất
Các thuộc tính này khiến cho các hành vi pháp luật trong kinh doanh khác biệt với những hành vi pháp lí thông thường trong đời sống dân sự như việc mua bán hàng hoá (hợp đồng mua bán hàng hoá) vì nhu cầu tiêu dùng hay thực hiện các công việc theo yêu cầu của
Trang 5người khác vì nhu cầu dân sự (hợp đồng dịch
vụ hay hợp đồng khoán việc)
Thứ tư, về cách thức và mức độ can thiệp
của Nhà nước đối với hành vi pháp luật
trong kinh doanh - tức hành vi kinh doanh
hay hành vi thương mại Do các hành vi
pháp luật đặc thù này có những ảnh hưởng
đặc biệt đến lợi ích chung của cộng đồng
cũng như lợi ích của Nhà nước (kết quả của
việc thực hiện các hành vi pháp luật trong
kinh doanh là tạo ra của cải vật chất cho xã
hội nhiều hay ít) nên chính quyền luôn mong
muốn áp dụng chế độ pháp lí riêng biệt cho
các nhà kinh doanh
Chế độ pháp lí này bao gồm các quy định
về thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng kí
kinh doanh, đăng kí mã số thuế, kê khai thuế
và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Đặc biệt, các
chủ thể kinh doanh khi có sử dụng nguồn
nhân lực bên ngoài để tiến hành các hoạt
động kinh doanh đều phải tuân thủ các quy
định về hợp đồng lao động, chế độ bảo hộ lao
động, chế độ bảo hiểm xã hội, thời gian làm
việc và nghỉ ngơi, chế độ tiền lương và phụ
cấp, bảo đảm quyền đình công hợp pháp của
giới thợ theo quy định của luật lao động
Ngoài ra, tính đặc thù trong chế độ pháp lí
đối với các chủ thể kinh doanh còn được thể
hiện ở những quy định về chống cạnh tranh
không lành mạnh và kiểm soát độc quyền;
quy định về quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị
và chuyển giao công nghệ hay nhượng quyền
thương mại; quy định về chấm dứt hoạt động
kinh doanh bằng hình thức giải thể, phá sản
hay bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp; quy
định về chia tách, hợp nhất, sáp nhập hay
chuyển đổi mô hình doanh nghiệp
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các hành vi pháp luật trong hoạt động kinh doanh có xu hướng ngày càng vượt ra ngoài khuôn khổ biên giới lãnh thổ quốc gia Điều đó cũng cho thấy xu hướng chung là việc điều chỉnh bằng pháp luật và lựa chọn pháp luật để áp dụng cho những hành vi này sẽ ngày càng trở nên phức tạp Hậu quả đó bắt nguồn từ một trong những nguyên nhân chủ yếu, đó là vấn đề xung đột pháp luật trong lĩnh vực thương mại Để khắc phục hậu quả này, vấn đề hài hoà hoá pháp luật kinh doanh giữa các nước nhằm tạo ra môi trường pháp lí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh mang tính toàn cầu là điều cần thiết và đáng được các quốc gia quan tâm giải quyết./
(1).Xem: Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb
Khoa học xã hội, tr 348
(2).Xem: Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược
giải, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, tr 35
(3).Xem: Lê Tài Triển, Luật thương mại Việt Nam
dẫn giải, quyển I, Sài Gòn, 1972, tr 5
(4) Năm 1864, người Pháp đem áp dụng ở Nam Kỳ
Bộ luật thương mại Pháp Sau đó, Bộ luật này cũng được đem ra áp dụng tại Bắc Kỳ từ năm 1888
Nguồn: Lê Tài Triển, Luật thương mại Việt Nam dẫn
giải, quyển I, Sài Gòn, 1972, tr 20
(5).Xem thêm:
- Francis Lemeunier, Nguyên lí và thực hành Luật
thương mại – Luật kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 20, 21
- TS Phạm Duy Nghĩa, Tìm hiểu Luật thương mại
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 28 (6) Hiện tại, Luật thương mại của Việt Nam năm
2005 chấp nhận cả những người hoạt động thương mại mà chưa có đăng kí kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền – trường hợp này thường được gọi là thương nhân thực tế
(7).Xem thêm: Lê Tài Triển, Luật thương mại Việt
Nam dẫn giải, quyển I, Sài Gòn 1972, tr 34
(8).Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005