1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Một số bất cập trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn điều tra và tạm giam để điều tra " pdf

6 1,2K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 166,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chuyển đến cho đến khi cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ vụ án.1 Theo quy định tại Điều 119 BLTTHS thì thời hạn điều tra được quy định cụ thể như s

Trang 1

PGS.TS Hoµng ThÞ Minh S¬n *

1 Điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố

tụng không thể thiếu được trong quá trình

giải quyết vụ án hình sự BLTTHS không

quy định cụ thể thế nào là thời hạn điều tra

nhưng căn cứ vào quy định tại Điều 119

BLTTHS có thể hiểu rằng thời hạn điều tra

là thời hạn do pháp luật quy định mà trong

khoảng thời gian đó cơ quan có thẩm quyền

tiến hành các biện pháp điều tra nhằm xác

định và làm rõ những vấn đề cần phải

chứng minh được quy định tại Điều 63

BLTTHS cũng như các tình tiết khác có liên

quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án

hình sự Thời hạn điều tra được tính từ khi

có quyết định khởi tố vụ án hình sự (kể cả

trường hợp vụ án do các cơ quan khác ra

quyết định khởi tố như đơn vị bộ đội biên

phòng, hải quan, kiểm lâm chuyển đến)

cho đến khi cơ quan điều tra làm bản kết

luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ

vụ án.(1) Theo quy định tại Điều 119

BLTTHS thì thời hạn điều tra được quy

định cụ thể như sau: Thời hạn điều tra

không quá hai tháng đối với tội phạm ít

nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với

tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn

tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và

tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi

khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra

Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do

tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất

là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị viện kiểm sát gia hạn điều tra Đối với tội phạm

ít nghiêm trọng được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 5 Điều 119 BLTTHS thì đối với tội đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất phức tạp của vụ án

mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng Đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng

Khi đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội

* Giảng viên chính Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyết

định đình chỉ điều tra Theo quy định trên

thì thời hạn điều tra tối đa đối với tội phạm

ít nghiêm trọng là không quá bốn tháng;

đối với tội phạm nghiêm trọng là không

quá tám tháng; đối với tội phạm rất nghiêm

trọng là không quá mười hai và đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là không quá mười sáu tháng Đối với những trường hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 119 BLTTHS thì thời hạn điều tra có thể là hai mươi tháng

nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Thời hạn điều tra Không quá

2 tháng

Không quá

3 tháng

Không quá

4 tháng

Không quá

4 tháng

Gia hạn điều tra lần 1 Không quá

2 tháng

Không quá

3 tháng

Không quá

4 tháng

Không quá

4 tháng

Gia hạn điều tra lần 2 x Không quá

2 tháng

Không quá

4 tháng

Không quá

4 tháng

Gia hạn điều tra lần 3 x x x Không quá

4 tháng Viện trưởng

VKSNDTC gia hạn thêm

4 tháng

Theo quy định trên có thể thấy rằng thời

hạn điều tra được xác định theo sự phân loại

tội phạm chứ không phải theo sự phức tạp

của vụ án hình sự Và như vậy, trong trường

hợp bị can phạm nhiều tội hoặc trường hợp

nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm

hoặc nhiều bị can phạm các tội khác nhau

mà tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã

hội của hành vi phạm tội do các bị can thực

hiện lại không giống nhau thì BLTTHS

không quy định Thực tiễn áp dụng quy định

này có thể là những trường hợp như: khởi tố

vụ án về một tội và trong quá trình điều tra

sẽ khởi tố bổ sung thêm một tội khác; khởi

tố một vụ án mới rồi nhập vụ án hình sự để tiến hành điều tra và trường hợp khởi tố tất

cả các tội phạm đã được phát hiện đối với một bị can hoặc đối với nhiều bị can Thời hạn điều tra đối với những trường hợp này thực tế được tính cụ thể như sau:

Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố điều tra bổ sung về một tội phạm khác thì việc điều tra đối với các hành vi phạm tội trong vụ án được thực hiện đồng thời và thời hạn điều tra được tính tiếp kể từ khi ra quyết định khởi tố đối với hành vi phạm tội sau cho đến khi kết thúc điều tra; Trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra

Trang 3

quyết định khởi tố vụ án hình sự nhiều hành

vi phạm tội tại cùng một thời điểm thì thời

hạn điều tra vụ án được xác định là thời hạn

điều tra đối với tội nặng nhất trong vụ án.(2)

Tuy nhiên, cơ quan điều tra có thể gia

hạn điều tra theo quy định của pháp luật Các

nhà làm luật đã coi “tính chất phức tạp” của

vụ án là vụ án có nhiều bị can hay bị can

phạm nhiều tội làm căn cứ xác định để cơ

quan điều tra đề nghị viện kiểm sát gia hạn

điều tra khi xét thấy cần thiết và không thể

hoàn thành sớm việc điều tra theo quy định

tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS

Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho

rằng vụ án có tính chất phức tạp không nhất

thiết có ở tất các các vụ án mà bị can phạm

nhiều tội hay nhiều bị can cùng thực hiện

một tội phạm Đối với vụ án có một bị can

và bị can chỉ thực hiện một tội cũng có thể là

vụ án phức tạp Do vậy không nên hiểu và

đồng nghĩa vụ án có tính chất phức tạp với

vụ án có nhiều bị can hay vụ án mà bị can

phạm nhiều tội Nếu tính thời hạn điều tra

như hiện nay thì trường hợp cơ quan có thẩm

quyền đã khởi tố bị can về một tội phạm để

tiến hành điều tra và khi gần hết thời hạn

điều tra lại gia hạn điều tra và khi đã hết thời

hạn gia hạn mới khởi tố bổ sung thì thời hạn

điều tra lại được tính kể từ thời điểm khởi tố

đối với tội phạm mới nhưng nếu khởi tố

cùng một thời điểm đối với bị can phạm

nhiều tội hoặc nhiều bị can cùng thực hiện

một tội phạm thì thời hạn điều tra lại được

tính theo tội nặng nhất Cách tính này là

không hợp lí, vì BLTTHS quy định thời hạn

điều tra tại khoản 1 Điều 119 là quy định áp

dụng đối với trường hợp vụ án có một bị can

và bị can đó chỉ bị khởi tố về một tội Việc

lấy thời hạn điều tra của tội nặng nhất để làm thời hạn điều tra chung cho vụ án có nhiều bị can hoặc bị can phạm nhiều tội cần được xem xét lại Và như vậy câu hỏi đặt ra là có

nên xác định “thời hạn điều tra vụ án trong

tr ường hợp bị can phạm nhiều tội hoặc vụ

án có nhi ều bị can thì thời hạn điều tra được

xác định là tổng thời hạn của các tội phạm

đã được khởi tố theo quy định tại khoản 1 Điều 119 của BLTTHS?”.(3)

2 Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định tại Điều 120 BLTTHS Theo đó, thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp vụ án

có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không

có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị viện kiểm sát gia hạn tạm giam Việc gia hạn tạm giam được quy định cụ thể là: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng Có thể mô tả bằng bảng sau:

Trang 4

Thời hạn Tội phạm

ít nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Thời hạn tạm

giam

Không quá

2 tháng

Không quá

3 tháng

Không quá

4 tháng

Không quá

4 tháng Gia hạn tạm

giam lần 1

Không quá

1 tháng

Không quá

2 tháng

Không quá

3 tháng

Không quá

4 tháng Gia hạn tạm

giam lần 2 x

Không quá

1 tháng

Không quá

2 tháng

Không quá

4 tháng Gia hạn tạm

Không quá

4 tháng

Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng,

trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam

lần thứ hai đã hết và vụ án có nhiều tình tiết

phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi

hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể

gia hạn tạm giam lần thứ ba Trong trường

hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh

quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần

nữa không quá bốn tháng.(4)

Theo quy định trên thì thời hạn tạm giam

để điều tra tối đa đối với tội phạm ít nghiêm

trọng là ba tháng; đối với tội phạm nghiêm

trọng là sáu tháng; đối với tội phạm rất

nghiêm trọng là chín tháng; đối với tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng là mười sáu tháng và

đối với những tội thuộc trường hợp quy định

tại khoản 5 Điều 120 BLTTHS thì thời hạn

tạm giam để điều tra có thể là hai mươi tháng

Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra

và việc gia hạn tạm giam để điều tra quy

định trong BLTTHS được xác định dựa trên

cơ sở phân loại tội phạm Thực tiễn điều tra

cho thấy, không ít những vụ án có nhiều bị

can và vai trò của các bị can trong vụ án lại không như nhau tức là thời hạn tạm giam để điều tra trong trường hợp này được xác định bởi loại tội phạm mà mỗi bị can thực hiện, dẫn đến tình trạng thời hạn điều tra vụ án được tính theo tội nặng nhất mà trong số các

bị can đã thực hiện nhưng đối với các bị can khác phạm tội nhẹ hơn thì đã hết thời hạn tạm giam cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do cho họ Trường hợp trả tự do nhưng bị can trốn sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án

3 Theo quy định tại Điều 94 BLTTHS, đối với những biện pháp ngăn chặn do viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do viện kiểm sát quyết định Tuy nhiên, khoản 6 Điều 120 BLTTHS lại quy định: Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người

bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét

Trang 5

thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn

chặn khác Theo quy định trên thì có thể có

hai cách hiểu khác nhau Thứ nhất, mọi trường

hợp cơ quan điều tra ra lệnh tạm giam đều

phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn

nên khi huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm

giam cũng cần phải được viện kiểm sát cùng

cấp phê chuẩn Thứ hai, theo quy định trên

cũng có thể hiểu rằng viện kiểm sát chỉ có

quyền quyết định khi thời hạn tạm giam chưa

hết, còn khi đã hết thời hạn tạm giam theo

phê chuẩn của viện kiểm sát thì cơ quan điều

tra có quyền quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ

mà không cần sự phê chuẩn của viện kiểm sát

mà chỉ cần thông báo cho viện kiểm sát biết

Khoản 6 Điều 120 BLTTHS quy định: “Khi

đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh

t ạm giam phải trả tự do cho người bị tạm

giam ho ặc xét cần thì áp dụng biện pháp

ng ăn chặn khác” Trong trường hợp này

người ra lệnh tạm giam là thủ trưởng hoặc

phó thủ trưởng cơ quan điều tra chứ không

phải là viện kiểm sát Như vậy, việc BLTTHS

quy định không rõ ràng nên đã dẫn đến cách

hiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng Để

việc áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp

tạm giam được kịp thời, nên giao việc thay

thế hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam cho cơ

quan điều tra mà không cần đến sự phê chuẩn

của viện kiểm sát cùng cấp như khi áp dụng

4 Theo quy định của BLTTHS thì trong

trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền

điều tra của mình, cơ quan điều tra phải đề

nghị viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định

chuyển vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm

quyền để tiếp tục điều tra; trong thời hạn ba

ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ

quan điều tra, viện kiểm sát cùng cấp có trách

nhiệm ra quyết định chuyển vụ án.(5) Cơ quan điều tra cũng có thể nhập vụ án để tiến hành điều tra trong cùng một vụ án những trường hợp bị can phạm nhiều tội, nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm quy định tại Điều 313 và Điều 314 Bộ luật hình sự.(6) Đối với những trường hợp này, BLTTHS cũng không quy định thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra được tính như thế nào nên trong thực tế còn có những cách hiểu khác nhau và còn khó khăn trong việc áp dụng

5 Thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra vụ án hình sự được quy định trong BLTTHS hiện nay còn có những bất cập và và chưa đầy đủ cần được sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong bối cảnh cải cách tư pháp

Th ứ nhất, thời hạn điều tra và thời hạn

tạm giam để điều tra không phù hợp với nhau Cụ thể là thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra tối đa sau khi đã gia hạn theo quy định của BLTTHS như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa là bốn tháng nhưng thời hạn tạm giam để điều tra chỉ có ba tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa là tám tháng nhưng thời hạn tạm giam

để điều tra chỉ có sáu tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa

là mười hai tháng nhưng thời hạn tạm giam

để điều tra chỉ có chín tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn điều tra tối đa là hai mươi tháng nhưng thời hạn tạm giam để điều tra chỉ có mười sáu tháng như bảng dưới đây:

Trang 6

Thời hạn tối đa Tội phạm

ít nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Tạm giam để điều tra 3 tháng 6 tháng 9 tháng 16 tháng

Việc BLTTHS quy định thời hạn tạm giam

để điều tra ngắn hơn thời hạn điều tra như trên

dễ dẫn đến tình trang vụ án chưa điều tra xong

(thời hạn điều tra vẫn còn) nhưng thời hạn

tạm giam đã hết nhưng vẫn phải trả tự do cho

bị can và khi được trả tự do bị can sẽ trốn

hoặc gây khó khăn cho việc điều tra

Quy định như trên cũng có thể dẫn đến

tình trạng cơ quan điều tra chưa thu thập đủ

chứng cứ để xác định tội phạm và người

thực hiện hành vi phạm tội cũng như các vấn

đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ

án nhưng vẫn làm bản kết luận điều tra đề

nghị truy tố rồi chuyển hồ sơ cho viện kiểm

sát dẫn đến việc viện kiểm sát phải ra quyết

định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung vì

hồ sơ còn thiếu những chứng cứ quan trọng

đối với vụ án mà viện kiểm sát không thể tự

mình bổ sung được(7) làm cho việc điều tra

vụ án phải kéo dài

Th ứ hai, BLTTHS chưa quy định thời

hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra

đối với trường hợp chuyển vụ án theo quy

định tại Điều 116 BLTTHS

Th ứ ba, BLTTHS thiếu quy định thời

hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra

đối với trường hợp nhập hoặc tách vụ án

hình sự để tiến hành điều tra theo quy định

tại Điều 117 BLTTHS

Th ứ tư, việc thay thế hoặc huỷ bỏ biện

pháp tạm giam trong điều tra quy định chưa

rõ ràng nên còn có nhiều ý kiến khác nhau

Đó là quy định tại đoạn cuối khoản 2 Điều

94 BLTTHS: “Đối với biện pháp ngăn chặn

do vi ện kiểm sát phê chuẩn việc huỷ bỏ hoặc

thay th ế phải do viện kiểm sát quyết định”

và quy định tại đoạn cuối khoản 6 Điều 120

BLTTHS: “Khi đã hết thời hạn tạm giam thì

ng ười ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho

ng ười bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì

áp d ụng biện pháp ngăn chặn khác”./

(1) Có quan điểm cho rằng thời hạn điều tra vụ án hình sự chỉ là thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS, còn thời hạn gia hạn điều tra được quy định tại khoản 2 Điều này đơn thuần chỉ là thời hạn được phát sinh khi viện kiểm sát thực hiện thẩm quyền, chứ không phải là thời hạn điều tra vụ án

do luật định (Xem: ThS Huỳnh Quốc Hùng, “Chế định thời hạn điều tra trong tố tụng hình sự – Một số

vấn đề lí luận và thực tiễn”, Tạp chí kiểm sát, số

21/2006, tr 35

(2).Xem: Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an và Bộ quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003.

(3).Xem: ThS Huỳnh Quốc Hùng, “Chế định thời hạn điều tra trong tố tụng hình sự – Một số vấn đề lí

luận và thực tiễn”, Tạp chí kiểm sát, số 21/2006, tr 37

(4).Xem: Điều 120 BLTTHS

(5).Xem: Điều 116 BLTTHS

(6).Xem: Điều 117 BLTTHS

(7).Xem: Điều 168 BLTTHS

Ngày đăng: 09/03/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  sự  để  tiến  hành  điều  tra  theo  quy  định - Báo cáo " Một số bất cập trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thời hạn điều tra và tạm giam để điều tra " pdf
nh sự để tiến hành điều tra theo quy định (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w