Luật doanh nghiệp năm 2005 là bước tiến dài trong việc tạo lập môi trường tích cực cho sự phát triển của Việt Nam.1 Cụ thể từ năm 1991 đến 1999, cả nước chỉ có 49000 doanh nghiệp thuộc k
Trang 1NguyÔn Nh− ChÝnh *
1 Thực trạng và một số nhận xét về
thủ tục gia nhập thị trường
Đối với thủ tục đăng kí kinh doanh, hầu
hết các nghiên cứu chuyên sâu đều đồng ý
rằng thủ tục đăng kí kinh doanh đã được cải
thiện rất nhiều và là một điểm sáng của môi
trường kinh doanh Việt Nam Theo Bộ kế
hoạch và đầu tư (2008), thành tựu lớn nhất
trong quá trình phát triển doanh nghiệp
chính là sự cải thiện về khung pháp lí liên
quan đến đăng kí kinh doanh và gia nhập thị
trường Luật doanh nghiệp năm 2005 là
bước tiến dài trong việc tạo lập môi trường
tích cực cho sự phát triển của Việt Nam.(1)
Cụ thể từ năm 1991 đến 1999, cả nước chỉ
có 49000 doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân
nhưng chỉ riêng năm 2009, nước ta đã có
81000 doanh nghiệp mới đăng kí, ước tính
đến hết năm nay (2010) tổng số doanh
nghiệp đăng kí đạt con số 539.000.(2)
Mặc dù đã có những cải cách rõ rệt
nhưng thủ tục đăng kí kinh doanh hiện nay
vẫn còn một số hạn chế:
Thứ nhất, Luật doanh nghiệp năm 2005
đã quy định chung về doanh nghiệp tư nhân
và các loại hình công ti… và quy định cả
trình tự, thủ tục và cơ quan thống nhất đăng
kí kinh doanh cho doanh nghiệp Tuy nhiên,
trên thực tế, có những công ti được tổ chức
quản lí theo Luật doanh nghiệp năm 2005
nhưng lại không đăng kí kinh doanh tại
phòng đăng kí kinh doanh, ví dụ như công ti
chứng khoán (được tổ chức theo hình thức công ti TNHH hoặc công ti cổ phần) đăng kí thành lập tại Ủy ban chứng khoán nhà nước, giấy phép thành lập đồng thời là giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh; công ti luật hợp danh hoặc công ti trách nhiệm hữu hạn 1 hoặc 2 thành viên trở lên đăng kí kinh doanh tại sở tư pháp(3)… Như vậy, giả sử một doanh nghiệp vừa kinh doanh chứng khoán, vừa kinh doanh bảo hiểm thì cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh? Những quy định tại các luật chuyên ngành này đã gây nên sự thiếu thống nhất trong quản lí doanh nghiệp
Thứ hai, cơ quan đăng kí kinh doanh được tổ chức theo hai cấp nhưng thực tế ở mỗi quận huyện chỉ có bộ phận đăng kí kinh doanh thuộc phòng tài chính kế hoạch của ủy ban nhân dân quận, huyện(4) với một cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách Với tổ chức không chuyên nghiệp, không ổn định
đã làm cho việc thực hiện đăng kí kinh doanh cho hộ kinh doanh và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp; xác minh nội dung đăng kí doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện
và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trên phạm vi địa bàn theo yêu cầu của phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh(5) rất khó khăn
và kém hiệu quả
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Thứ ba, cơ quan đăng kí kinh doanh
chưa xây dựng được hệ thống thông tin, cơ
sở dữ liệu thống nhất trên toàn quốc Đặc
biệt là hệ thống danh bạ doanh nghiệp liên
thông để chống việc tên doanh nghiệp đăng
kí trùng và nhầm lẫn trên toàn quốc.(6) Hiện
nay chỉ có cổng thông tin doanh nghiệp và
đầu tư được hỗ trợ bởi Chương trình phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa kết nối được
dữ liệu doanh nghiệp của 9 tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (trong đó không có Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh).(7) Ngoài ra,
chưa xây dựng được hệ thống lí lịch, nhân
thân người thành lập doanh nghiệp để tránh
các đối tượng xấu, thành lập nhiều doanh
nghiệp “ma” tại nhiều địa phương khác
nhau, thuê người có trình độ thấp làm giám
đốc để bán hoá đơn, thực hiện các hành vi
bất hợp pháp để kiếm lời
Đối với các điều kiện kinh doanh của các
ngành nghề đặc thù: Hiện nay, các điều kiện
kinh doanh, cụ thể là các giấy phép kinh
doanh ở nước ta tồn tại dưới nhiều hình thức
và tên gọi khác nhau như:
- Chứng chỉ hành nghề, là văn bản mà cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước
uỷ quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về
một ngành, nghề nhất định.(8) Hiện nay có
khoảng 20 ngành nghề mà giám đốc, người
giữ chức vụ quản lí trong doanh nghiệp cần
phải có chứng chỉ thì doanh nghiệp mới được
hoạt động trong những nghành nghề đó.(9) Ví
dụ: Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp cần
1 chứng chỉ hành nghề của giám đốc (Điều
154 Luật sở hữu trí tuệ, Điều 29 Nghị định số
103/2006/NĐ-CP); dịch vụ kiểm toán cần 3 chứng chỉ hành nghề của giám đốc và người giữ chức vụ quản lí (Điều 23 Nghị định số105/2004/NĐ-CP); giám sát thi công xây dựng công trình cần 1 chứng chỉ hành nghề của người trực tiếp giữ chức vụ quản lí giám sát thi công (Điều 87 Luật xây dựng)…
- Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn: Ví dụ như chứng nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y, tiêu chuẩn môi trường
- Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh: Chẳng hạn trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ xăng dầu, kinh doanh xổ số
- Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp: Quy định áp dụng đối với một
số ngành nghề chuyên môn đòi hỏi trách nhiệm cao của người hành nghề…
- Giấy chứng nhận đăng kí, ví dụ đăng kí con dấu, đăng kí nhượng quyền thương mại
- Giấy phép, thẻ hành nghề, ví dụ giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế, thẻ luật sư…
- Văn bản xác nhận vốn pháp định: Trong một số ngành nghề kinh doanh, pháp luật yêu cầu nhà đầu tư phải có mức vốn ban đầu cao hơn mức tối thiểu theo quy định của pháp luật.(10) Hiện nay có khoảng 15 ngành nghề kinh doanh cần vốn pháp định,(11) ví dụ: Kinh doanh bất động sản - 6 tỉ đồng (Điều 3 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP); dịch vụ đòi nợ - 2 tỉ đồng (Điều 13 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP); dịch
vụ bảo vệ - 2 tỉ đồng (ngoài ra không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài dịch vụ bảo vệ - Nghị định số 52/2008/NĐ-CP); dịch vụ đưa người lao động
đi làm việc ở nước ngoài - 5 tỉ đồng (Điều 3 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP)
Trang 3Đây là những loại giấy tờ khác (giấy
phép “con”) bên cạnh giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh mà thiếu nó doanh nghiệp
không thể hoạt động được Mặc dù sự tồn tại
của một số loại giấy phép kinh doanh là cần
thiết nhưng đánh giá tổng quát, hệ thống
giấy phép hiện nay vẫn còn nhiều bất cập
Thứ nhất, về số lượng, hiện nay có hơn
300 loại giấy phép, gần 400 ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện và các điều kiện tương
ứng quy định trong khoảng 430 văn bản có
hiệu lực,(12) mặc dù Chính phủ đã yêu cầu
các cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ các giấy
phép không minh bạch, không nhất quán,
không khả thi từ khi ban hành Luật doanh
nghiệp năm 1999 Số lượng các loại giấy
phép kinh doanh như vậy là quá nhiều, không
đảm bảo điều tiết và quản lí kinh tế vĩ mô,
không khuyến khích được đầu tư, kinh doanh
Thứ hai, về cơ sở pháp lí, theo quy định
tại Luật doanh nghiệp năm 2005, bộ, cơ quan
ngang bộ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân không được quy định về điều kiện kinh
doanh(13) và một ngành nghề kinh doanh có
điều kiện được coi là “hợp pháp” chỉ khi cả
tên ngành nghề và các điều kiện kinh doanh
tương ứng của ngành, nghề đó được quy định
tại luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định
của Thủ tướng.(14) Trong khi đó với khoảng
400 ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì
có khoảng 50 ngành nghề kinh doanh mà cả
tên ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh
doanh chỉ được quy định tại thông tư của bộ
hoặc quyết định của bộ trưởng, không đủ tính
hợp pháp Ngoài ra có những ngành nghề mà
luật, pháp lệnh không quy định cần điều kiện
kinh doanh nhưng nghị định và quyết định
hoặc thông tư lại hướng dẫn thành ngành nghề kinh doanh có điều kiện.(15)
Thứ ba, về mục tiêu ban hành giấy phép, tính cụ thể, rõ ràng của các loại giấy phép: Khi ban hành giấy phép kinh doanh,
cơ quan ban hành không tiến hành tham vấn, tạo điều kiện cho người liên quan tham gia trực tiếp, do đó, các quy định về điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh có mục tiêu không rõ ràng, không rõ các điều kiện đó được ban hành để bảo vệ và phục
vụ lợi ích gì? Nhiều điều kiện được quy định chung chung, thiếu rõ ràng và cụ thể, khó thực hiện Các điều kiện này thường là điều kiện về địa điểm kinh doanh, cơ sở vật chất, trang thiết bị, trình độ chuyên môn, phương án, kế hoạch kinh doanh(16)… Do vậy việc áp dụng giấy phép trên thực tiễn phụ thuộc nhiều vào sự suy diễn chủ quan của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là nguyên nhân quan trọng của sự lạm dụng giấy phép trong quản lí
Thứ tư, về thủ tục cấp giấy phép, hồ sơ
để đáp ứng các điều kiện kinh doanh, xin giấy phép không được quy định cụ thể về số lượng, các loại giấy tờ, nhiều giấy tờ không cần thiết, không phù hợp với thực tế… Ngoài ra, giấy phép là biện pháp quản lí hành chính trên cơ chế “xin - cho” do đó trên thực tế, nhiều khi tiêu chí để cơ quan hành chính cấp phép hoặc từ chối cấp phép đôi khi chưa rõ ràng
Những bất cập đó một mặt làm cho hiệu quả quản lí nhà nước thông qua giấy phép không cao, mặt khác đó còn là nguyên nhân chủ yếu gây nên nhiều bất lợi đối với doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành nghề đòi
Trang 4hỏi phải có giấy phép Từ đó, làm giảm tính
hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của môi
trường kinh doanh Thực tế hiện nay, thành
lập doanh nghiệp để mua bán hoá đơn thì dễ
nhưng để kinh doanh thực tế lại khó, trong
khi kinh doanh thực tế mới mang lại giá trị
gia tăng cho nền kinh tế
2 Một số giải pháp cải cách thủ tục gia
nhập thị trường nhằm góp phần bảo đảm
môi trường kinh doanh ở Việt Nam
2.1 Giải pháp về cải cách thủ tục đăng
kí kinh doanh
- Với việc các luật chuyên ngành khác
quy định một số cơ quan chuyên ngành có
thể thực hiện đăng kí kinh doanh cho doanh
nghiệp kinh doanh ngành nghề mình quản lí
như hiện tại, phải trả lại thẩm quyền đăng kí
kinh doanh cho cơ quan đăng kí kinh doanh
được quy định tại Luật doanh nghiệp năm
2005 Đây là cơ quan duy nhất có thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh, các cơ quan chuyên ngành chỉ có
thẩm quyền kiểm tra các điều kiện hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực mình phụ trách
- Có thể học tập một số nước trên thế
giới, thống nhất việc đăng kí kinh doanh
được tiến hành tại toà án Khi tiến hành đăng
kí kinh doanh tại toà án sẽ tạo điều kiện giải
quyết nhanh chóng các vụ việc phát sinh khi
thành lập doanh nghiệp gian dối, mâu thuẫn
giữa các thành viên trong công ti Ngoài ra,
hiện nay một số nước trên thế giới cũng đã
có những thành công trong việc tách đăng kí
kinh doanh ra khỏi toà án, thiết lập một hệ
thống riêng được tổ chức từ trung ương đến
địa phương Việt Nam cũng có thể thiết lập
riêng hệ thống cơ quan đăng kí kinh doanh
như vậy, có thể thành lập tổng cục đăng kí kinh doanh tại trung ương và chi cục đăng kí kinh doanh tại cấp tỉnh
- Cần xây dựng hệ thống thông tin đăng
kí doanh nghiệp quốc gia theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP để đảm bảo đến ngày 01/01/2011 tên doanh nghiệp đăng kí không được trùng, nhầm lẫn trên phạm vi toàn quốc Ngoài ra, như phần thực trạng đã nêu,
hệ thống thông tin đăng kí doanh nghiệp này phải lưu trữ đầy đủ danh bạ doanh nghiệp, lí lịch, nhân thân của người thành lập doanh nghiệp để có thể dễ dàng kiểm tra những đối tượng gian dối, thành lập doanh nghiệp để vi phạm pháp luật
2.2 Giải pháp về giấy phép kinh doanh
- Thực hiện rà soát tổng thể, bãi bỏ các loại giấy phép kinh doanh trái với quy định của Luật doanh nghiệp, những giấy phép không cần thiết, kèm với việc thực hiện bổ sung, sửa đổi các quy định về những giấy phép còn lại Hiện nay, tất cả các bộ, ngành đang tích cực thực hiện chủ trương của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành chính với hai nội dung chính: Rà soát các thủ tục hành chính
và đề xuất cắt giảm những thủ tục hành chính không cần thiết, rườm rà (Đề án 30) Đối với các thủ tục gia nhập thị trường, đặc biệt là các điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh, các bộ, ngành cần phải tăng cường cơ chế phối hợp để đảm bảo rà soát, cắt xén những thủ tục không cần thiết, trái pháp luật gây khó khăn cho quá trình gia nhập thị trường của nhà đầu tư
- Với thực trạng có quá nhiều cơ quan ban hành giấy phép kinh doanh và việc quy định về giấy phép kinh doanh ở nhiều văn
Trang 5bản pháp quy khác nhau như hiện nay, để
xoá bỏ tình trạng này cần phải quy định
thống nhất cho một cơ quan duy nhất có
thẩm quyền ban hành các loại giấy phép kinh
doanh trên cơ sở đề nghị của các cơ quan
quản lí chuyên ngành Cần ban hành nghị
định riêng về quản lí nhà nước đối với giấy
phép kinh doanh, trong đó quy định rõ việc
ban hành giấy phép kinh doanh thuộc thẩm
quyền của Thủ tướng Chính phủ hay Uỷ ban
thường vụ Quốc hội Nếu có thể, nghị định
này cũng tập hợp tất cả những điều kiện kinh
doanh hiện hành
- Trước khi ban hành bất kì loại giấy
phép nào đều cần phải tham vấn ý kiến công
chúng, đặc biệt là các doanh nghiệp Việc
các doanh nghiệp là chủ thể tham gia vào
tham vấn, điều trần trong quá trình soạn thảo
ban hành giấy phép kinh doanh nhằm đảm
bảo hiệu quả, lợi ích cao nhất cho xã hội Để
thực hiện được việc này, cơ quan soạn thảo
các quy định về giấy phép kinh doanh phải
tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức chịu
tác động của giấy phép kinh doanh được
tham vấn trong quá trình soạn thảo Đảm bảo
thời gian hợp lí để các bên có liên quan bình
luận, góp ý bằng nhiều phương thức khác
nhau Cơ quan soạn thảo phải công bố công
khai mọi ý kiến góp ý, báo cáo tổng hợp về
việc tiếp thu ý kiến, đồng thời phải nêu rõ lí
do chưa tiếp thu các ý kiến đó Nếu giấy
phép kinh doanh có tác động lớn đến các chủ
thể trong quá trình đầu tư, kinh doanh thì cơ
quan soạn thảo phải tổ chức phiên hợp công
khai với sự tham gia của các bên
- Áp dụng nguyên lí kinh tế học pháp
luật khi ban hành các loại giấy phép Những
thập kỉ gần đây, tại các quốc gia Âu - Mỹ đã phát triển một ngành nghiên cứu mới là law and economics (kinh tế học pháp luật) Dựa trên cơ sở kết hợp giữa kinh tế học và luật học, kinh tế học pháp luật đã trở thành ngành khoa học độc lập, ứng dụng các phân tích kinh tế vào môi trường pháp lí Một trong những thành tựu của kinh tế học pháp luật
là giúp các nhà hoạch định chính sách và soạn thảo luật pháp tính được phí tổn mà xã hội có thể phải gánh chịu khi áp dụng chính sách hoặc đạo luật cụ thể trong tương lai Đối với những quy định về thủ tục gia nhập thị trường, nhà làm luật cần phải quy định trình tự, thủ tục, chi phí để xin cấp các giấy phép kinh doanh như thế nào để các nhà đầu tư dễ dàng chấp nhận thực hiện Nhà đầu tư sẽ cân nhắc những thiệt hại về công sức, thời gian, cơ hội kinh doanh khi thực hiện đúng các trình tự để có được giấy phép kinh doanh với việc bỏ ra một số tiền thực hiện hối lộ hoặc vi phạm pháp luật để đạt được giấy phép kinh doanh đó một cách nhanh nhất, dễ dàng nhất Như vậy, nếu quá nhiều các loại giấy phép được ban hành, làm cho việc tuân thủ khó khăn, người dân
sẽ tìm cách thực hiện những “giao dịch ngầm” Áp dụng nguyên lí kinh tế học pháp luật khi ban hành các giấy phép kinh doanh
sẽ giảm chi phí xã hội và chống được những
“giao dịch ngầm” này
- Tuy nhiên, cơ chế cấp phép còn tồn tại thì vẫn phải thường xuyên rà soát, cân nhắc khi ban hành giấy phép mới Để mở rộng tối
đa quyền tự do kinh doanh của mọi người dân thì thiết yếu phải chuyển từ việc quản lí kinh doanh bằng giấy phép sang mô hình
Trang 6đăng kí kinh doanh theo các điều kiện kinh
doanh không cần giấy phép
Để thực hiện mô hình này, trong suốt
quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải
hoàn toàn tự chịu trách nhiệm tuân thủ các
điều kiện kinh doanh mà họ đã cam kết Các
cơ quan nhà nước có trách nhiệm đăng kí
cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp đáp
ứng đủ những điều kiện kinh doanh mà
pháp luật đã quy định Vai trò của các cơ
quan nhà nước được thể hiện trong việc
giám sát và phát huy vai trò giám sát của
nhiều chủ thể khác nhau đối với việc tuân
thủ các điều kiện kinh doanh của doanh
nghiệp trong suốt quá trình hoạt động và xử
lí những trường hợp vi phạm
Doanh nghiệp sau khi hoàn tất các thủ
tục đăng kí (kê khai), quá trình kinh doanh
của họ sẽ bắt đầu bằng “Thông báo kinh
doanh” Đây là một dạng thông báo công
khai của doanh nghiệp trước cơ quan quản
lí nhà nước, cam kết thực hiện các điều
kiện kinh doanh đã quy định Cơ quan nhà
nước có quyền từ chối, không chấp nhận
những thông báo này trong thời hạn quy
định nhưng phải nêu rõ lí do, doanh nghiệp
có quyền khiếu nại, khởi kiện các quyết
định đó Nhà nước chỉ đóng vai trò ghi
nhận chứ không chịu trách nhiệm về những
điều kiện do doanh nghiệp kê khai, doanh
nghiệp phải có trách nhiệm lớn và thường
xuyên về những cam kết kinh doanh mà họ
đã đăng kí./
(1) Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách,
Trường đại học kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội,
Báo cáo tổng quan môi trường kinh doanh tại Việt
(2) Nguồn: Trung tâm thông tin doanh nghiệp - Phòng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ kế hoạch và đầu tư
(3) Luật chứng khoán và Nghị định số 28/2007/NĐ- CP (4) Những huyện có số lượng hộ kinh doanh và hợp tác xã đăng kí thành lập mới hàng năm trung bình từ
500 trở lên trong hai năm gần nhất mới được thành lập Phòng đăng kí kinh doanh (Điều 9 Nghị định 43/2010/NĐ-CP)
(5) Điều 11 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP
(6) Điều 14 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP quy định doanh nghiệp không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng kí trong phạm vi toàn quốc được áp dụng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011
(7).http://www.businessportal.vn/Default.aspx?tabid=80 (8) Xem thêm Điều 6 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP (9).Nguồn: http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/vie/ default.asp
(10) Khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 (11).Nguồn:http://www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/vie /default.asp
(12) Nguồn: ĐTCK, Công trình rà soát, phân loại các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh tương ứng của Viện nghiên cứu quản lí kinh tế trung ương (CIEM) phối hợp với tổ chức GTZ thực hiện
(13) Khoản 5 Điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2005 (14) Khoản 1, 3 Điều 5 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP (15) Ví dụ: Xác nhận đăng kí đại lí dịch vụ chuyển phát thư - Pháp lệnh bưu chính viễn thông chỉ quy định hợp đồng đại lí phải lập thành văn bản; sau đó Nghị định số 128/2007/NĐ-CP quy định hợp đồng phải đăng kí nhưng Thông tư số 08/2008/TT- BTTTT hướng dẫn việc đăng kí thành “nộp hồ sơ, thẩm tra hồ
sơ và cấp giấy xác nhận đăng kí hợp đồng”
(16) Để có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hàng miễn thuế, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Quyết định số 206/2003/QĐ-TTg:
- Có ít nhất 01 cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp và 01 cán bộ phụ trách cửa hàng miễn thuế có trình độ quản
lí hoạt động kinh doanh cửa hàng miễn thuế
- Có cửa hàng, kho hàng thuận tiện cho việc bán hàng và việc kiểm tra, giám sát của hải quan…