Một kết quả của việc thiếu sự phối hợp trong chuỗi cung ứng là hiệu ứng Bullwhip, trong đó sự dao động trong đơn hàng tăng lên khi chúng chuyển chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ sang nhà bán
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ
TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG BULLWHIP TRONG HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
Học phần QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄN PHẠM TUYẾT ANH
Nhóm sinh viên thực hiện: nhóm 2.2
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 KHÁI NIỆM 1
2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA HIỆU ỨNG 1
2.1 Cập nhật dự báo nhu cầu (demand forecast updating) 2
2.2 Chiến lược tăng qui mô đơn hàng nhằm tối ưu chi phí 3
2.3 Biến động giá cả 3
2.4 Trò chơi hạn chế và thiếu hụt (rationing and shortage gaming) 4
3 TÁC ĐỘNG CỦA HIỆU ỨNG BULLWHIP LÊN CHUỖI CUNG ỨNG 5
3.1 Kế hoạch sản xuất không ổn định và chi phí tốn kém 5
3.2 Quan hệ căng thẳng với nhà cung cấp 5
3.3 Những thay đổi nhỏ về nhu cầu sản phẩm của khách hàng 5
3 4 Dự báo kém 6
3.5 Hàng tồn kho 6
3.6 Dịch vụ khách hàng tệ 6
4 CÁCH KHẮC PHỤC HIỆU ỨNG BULLWHIP 6
5 HIỆU ỨNG BULLWHIP TRONG THỜI KÌ COVID-19 7
6 DẪN CHỨNG THỰC TẾ 8
6.1 Chip bán dẫn 8
6.2 Công ty P&G (Proter & Gamble) 8
6.3 Tập đoàn HP (Hewlett – Packard) 9
Trang 31 KHÁI NIỆM
Hiệu ứng Bullwhip (Bullwhip Effect) là hiệu ứng phản ánh hiện tượng sai lệch
số lượng sản phẩm sản xuất ra so với nhu cầu thực tế
Hiệu ứng Bullwhip được phát hiện lần đầu bởi tiến sĩ Forrester (1961), theo đó lượng sản phẩm được sản xuất bởi các công ty luôn cao gấp nhiều lần lượng nhu cầu thực tế của thị trường
Qua các thống kê, tiến sĩ Forrester (1961) phát hiện ra rằng, lượng hàng hóa được sản xuất ra thường cao hơn so với nhu cầu thực tế, mức sai lệch cực đại có thể dao động lên tới 3-5 lần
Hiện tượng này được Forrester đặt tên là hiệu ứng Bullwhip, còn gọi là hiệu ứng cái roi da hay hiệu ứng đuôi bò Cách gọi này phỏng theo hình ảnh thực tế của chiếc roi da, chỉ một lượng dao động nhỏ ở gốc cây roi, sẽ gây ra lượng dao động lớn ở cuối chiếc roi
Một kết quả của việc thiếu sự phối hợp trong chuỗi cung ứng là hiệu ứng Bullwhip, trong đó sự dao động trong đơn hàng tăng lên khi chúng chuyển chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ sang nhà bán buôn, đến nhà sản xuất đến nhà cung ứng Hiệu ứng Bullwhip làm sai lệch thông tin nhu cầu trong chuỗi cung ứng, với mỗi giai đoạn có một ước tính khác nhau về nhu cầu (Hình 1)
2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA HIỆU ỨNG
Forrester (1961) đã lí giải hiệu ứng Bullwhip bởi bốn nguyên nhân sau:
+ Thứ nhất, sai lệch thông tin dẫn đến sai lệch dự báo nhu cầu
+ Thứ hai, chiến lược tăng qui mô đơn hàng nhằm tối ưu chi phí
+ Thứ ba, biến động về giá cả
+ Thứ tư, trò chơi tạo ra sự hạn chế và thiếu hụt
Bốn nguyên nhân theo như Forrester đưa ra, đều xuất phát từ hành vi của các tác nhân bên trong môi trường kinh doanh và các hành vi này gây ra hai tác động trực tiếp lên dao động lượng hàng sản xuất, đó là dự báo sai nhu cầu đặt hàng và chiến lược tồn kho dự trữ Sau khi phát hiện ra hiệu ứng Bullwhip, Forrester đã bước đầu xây dựng
Trang 4nên mô hình nhằm lượng hóa và phân tích định lượng cho hiệu ứng này Mô hình System Dynamics (Hệ thống linh động) do Forrester đưa ra đã được ứng dụng rộng rãi trong phân tích hoạch định chiến lược kinh doanh
Lee (1997) đã phát triển toàn diện hơn mô hình của Forrester trước đó và công
bố trong bài báo “The Bullwhip Effect in Supply Chain” trên tạp chí MIT Sloan Management Review năm 1997
Những mô hình Ray Forrester và các học giả sau ông xây dựng (Aviv, 2007, Carlsson và Fuller, 1999) đều lí giải nguyên nhân gây ra hiệu ứng Bullwhip là các tác nhân trong môi trường kinh doanh Các tác nhân đó bao gồm: Tâm lí khách hàng, nhiễu thông tin cố ý từ các đối thủ cạnh tranh, tác động từ thay đổi công nghệ, tác động từ sản phẩm mới Những tác nhân này hầu hết đều biến thiên theo thời gian, vì vậy tác động của nó lên lượng dao động đặt hàng cũng biến thiên theo thời gian Cách nhìn nhận của Forrester là hoàn toàn hợp lí, đặc biệt là với các chuỗi cung ứng sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng, với giá trị sản xuất thấp nhưng được khách hàng tiêu dùng thường xuyên, các sản phẩm loại này thường được tạo ra bởi các chuỗi cung ứng dạng đẩy (Push Supply Chain)
Dạng chuỗi này hoạt động theo nguyên tắc dự báo nhu cầu và chủ động sản xuất trước trong thời gian dài, sản xuất ngay cả khi chưa có đơn đặt hàng và sau đó tìm cách tiêu thụ sản phẩm đã sản xuất ra Các kế hoạch sản xuất chủ yếu dựa vào phán đoán khả năng tiêu thụ sản phẩm trong tương lai, không phải do được yêu cầu từ khách hàng
2.1 Cập nhật dự báo nhu cầu (demand forecast updating)
Mỗi công ty trong chuỗi cung ứng thường thực hiện việc dự báo sản phẩm nhằm giúp việc lên kế hoạch sản xuất, hoạch định nguồn lực, kiểm soát tồn kho và hoạch định nguyên vật liệu Dự báo thường dựa trên dữ liệu lịch sử đơn hàng của khách hàng trực tiếp Kết quả của trò Beer Game chính là sản phẩm của nhiều yếu tố mang tính hành vi, như là nhận thức và niềm tin của người chơi Một yếu tố quan trọng là suy nghĩ của người chơi khi dự báo nhu cầu dựa trên những gì họ quan sát thấy Mỗi khi có đơn hàng từ đối tác downstream (như nhà bán lẻ, bán sỉ, sản xuất…) thì các nhà quản lý upstream (như nhà bán sỉ, sản xuất, cung cấp…) sẽ coi thông tin đó như
là tín hiệu về nhu cầu tương lai
Dựa trên tín hiệu ấy, nhà quản lý upstream sẽ điều chỉnh dự báo nhu cầu của mình Tiếp theo, họ dùng thông tin ấy để đặt hàng cho nhà cung cấp (thành phẩm, nguyên vật liệu) Chúng tôi cho rằng chính việc xử lý thông tin/tín hiệu nhu cầu chính
là yếu tố chủ chốt gây ra hiệu ứng Bullwhip
Ví dụ, nếu bạn là nhà quản lý – người quyết định cần đặt bao nhiêu hàng từ nhà cung cấp, đơn giản bạn chỉ cần sử dụng một phương pháp cơ bản để dự báo nhu cầu,
ví như phương pháp dự báo làm trơn bằng hàm số mũ Với phương pháp này, nhu cầu trong tương lai sẽ liên tục được cập nhật khi có dữ liệu hàng ngày về nhu cầu Đơn hàng bạn gửi cho nhà cung cấp phản ánh số lượng bạn cần bổ sung vào dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu của tương lai và mức tồn kho an toàn tương ứng (cả hai được cập nhật bằng phương pháp kể trên) Với thời gian đơn hàng dài sẽ chẳng hiếm
Trang 5trường hợp có tồn kho an toàn lên đến nhiều tuần Kết quả là biến động đơn hàng theo thời gian có thể lớn hơn những gì dữ liệu nhu cầu thể hiện
Bây giờ ở một vị trí phía trên của chuỗi cung ứng, nếu bạn là nhà giám đốc của nhà cung cấp, các dữ liệu đơn hàng từ khách hàng sẽ quyết định nhu cầu của bạn Nếu bạn cũng sử dụng mô hình dự báo làm trơn bằng hàm số mũ để cập nhật dự báo và tồn kho an toàn, những đơn hàng mà bạn đặt hàng với nhà cung cấp thậm chí còn biến động mạnh hơn Chính yếu tố tồn kho an toàn đã gây ra hiệu ứng bullwhip, trực giác
có thể thấy rằng nếu thời gian giữa mỗi lần bổ sung hàng trong chuỗi cung ứng dài hơn thì mức độ biến động sẽ càng mạnh hơn
2.2 Chiến lược tăng qui mô đơn hàng nhằm tối ưu chi phí
Trong chuỗi cung ứng, mỗi công ty khi đặt hàng với đối tác đều sử dụng một vài
mô hình kiểm soát tồn kho Khi nhu cầu đến, tồn kho sẽ giảm nhưng công ty có thể không đặt hàng với nhà cung cấp ngay lập tức mà họ thường gộp hoặc gom các nhu cầu lại rồi mới đặt hàng Có hai hình thức đặt hàng theo gói: đặt hàng định kỳ và đặt hàng theo hình thức đẩy (push order)
Thay vì đặt hàng liên tục thường xuyên, các công ty đặt hàng theo tuần/hoặc hai tuần thậm chí hàng tháng Có nhiều lý do phổ biến để giải thích cho mô hình dự trữ dựa trên đặt hàng theo chu kỳ Thường thì nhà cung cấp không thể xử lý các đơn hàng liên tục thường xuyên, vì yếu tố thời gian và chi phí xử lý đơn hàng kiểu ấy quá lớn Nhiều nhà sản xuất đặt hàng với nhà cung cấp khi họ chạy các hệ thống MRP (Material Requirement Planning) Hệ thống MRP thường chạy hàng tháng và cho ra kết quả đặt hàng hàng tháng Một công ty có những sản phẩm ít bán chạy sẽ thường đặt hàng theo tháng hơn
Hãy xem xét trường hợp một công ty đặt hàng mỗi tháng cho nhà cung cấp của mình Nhà cung cấp này sẽ gặp tình trạng đơn hàng thất thường Vì đơn hàng có thể rất cao vào một thời điểm trong tháng trong khi cả tháng lại không có đơn hàng, điều này cũng góp phần gây ra hiệu ứng Bullwhip
Một trở ngại lớn và phổ biến khác đối với một công ty muốn đặt hàng thường xuyên chính là tính kinh tế của vận tải Rõ ràng có sự khác biệt giữa một FTL (Full Truck Load) và LTL (Less Truck Load)
Trong mô hình đặt hàng đẩy (push order), một công ty có thể trải qua tình trạng thường xuyên tăng nhu cầu đột biến Công ty này có những đơn hàng “đẩy” định kỳ
từ khách hàng, bởi vì người bán hàng thường được cấp trên đánh giá định kỳ theo quý hoặc năm làm phát sinh tình trạng đơn hàng tăng đột biến cuối tháng hoặc cuối năm Nhân viên bán hàng thường hoàn thành “hạn ngạch bán hàng” bằng cách mượn các đơn hàng của kỳ kế tiếp
Khi một công ty đối diện với các đơn hàng định kỳ từ khách hàng thì cũng là lúc hiệu ứng bullwhip xuất hiện Nếu tất cả các chu kỳ đơn hàng được phân bổ đều trong suốt một tuần thì hiệu ứng Bullwhip sẽ được giảm thiểu
2.3 Biến động giá cả
Theo ước tính, 80% các giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà phân phối trong ngành tạp hóa (bán lẻ) được thực hiện dưới hình thức “forward buy” (mua kỳ hạn), theo đó các sản phẩm được mua trước khi có nhu cầu, thường do mức giá hấp dẫn của
Trang 6nhà cung cấp chào bán Các hợp đồng “forward buy” chiếm từ 75 tỷ đến 100 tỷ USD tồn kho của ngành bán lẻ
Mua kỳ hạn thường do sự biến động giá cả trên thị trường Nhà sản xuất và phân phối định kỳ có chương trình khuyến mãi đặc biệt như chiết khấu giá, chiết khấu theo
số lượng, coupon, thối tiền (rebates)… Tất cả chương trình khuyến mại này đều dẫn tới sự biến động giá cả Hơn nữa, nhà sản xuất thường chào mời những hợp đồng thương mại hấp dẫn (như chiết khấu đặc biệt, ưu đãi giá, ưu đãi thanh toán) cho nhà phân phối và bán sỉ, một hình thức gián tiếp của chiết khấu giá
Ví dụ, Kotler đã báo cáo rằng các hợp đồng thương mại đặc biệt và khuyến mãi cho người tiêu dùng chiếm tới 47% và 28% tổng ngân sách khuyến mãi của mình Và thế là khách hàng mua hàng với số lượng lớn không hề phản ánh nhu cầu thực sự tại thời điểm đó Họ mua hàng chỉ để dự trữ cho tương lai
Hậu quả là sau đó, khách hàng chỉ mua hàng khi họ giải quyết hết lượng tồn kho của mình Tức là mô hình mua hàng của họ không phản ánh thực mô hình tiêu thụ, mức biến động trong mua hàng theo số lượng lớn sẽ lớn hơn nhiều so với biến động tiêu thụ Vậy là hiệu ứng Bullwhip lại xuất hiện
Cứ mỗi khi mô hình định giá cao-thấp (high-low) xuất hiện thì “forward buy” là một quyết định hợp lý Nếu chi phí của dự trữ hàng tồn kho thấp hơn mức độ khác biệt về giá thì mua hàng “forward buy” quả là quyết định khá hợp lý
Mặc dù một số công ty cho rằng mình có quyền được hưởng từ mô hình định giá cao-thấp nhưng phần lớn lại đang gánh chịu hậu quả từ nó Ví dụ, một nhãn hiệu soup hàng đầu có doanh số bán hàng mang tính thời vụ và thường cao nhất vào mùa đông Tuy nhiên, lượng hàng vận chuyển từ nhà sản xuất đến nhà phân phối phản ánh đơn hàng của nhà phân phối thì lại thay đổi rất mạnh Khi đối diện với tình trạng đơn hàng lớn, công ty thường phải vận hành sản xuất liên tục, thậm chí là ngoài giờ nhưng khi đơn hàng giảm thì lại phải giảm sản xuất Thay vào đó, công ty phải trữ hàng để phòng trừ trường hợp nhu cầu tăng cao
Khi đơn hàng tăng cũng là lúc công ty phải trả chi phí cao cho việc vận chuyển Hỏng hóc cũng tăng do dự trữ hàng và xử lý hàng với số lượng lớn hơn bình thường Mỉa mai thay, tình trạng ấy lại do sự biến động về giá do chính nhà sản xuất và phân phối gây ra Nên không có gì là buồn cười nếu người ta gọi thực tế này là “the dumbest marketing ploy ever”
2.4 Trò chơi hạn chế và thiếu hụt (rationing and shortage gaming)
Khi nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp, nghĩa là nhà sản xuất đang hạn chế sản phẩm của mình đến khách hàng Theo nghĩa đó, nhà sản xuất sẽ phân bổ số lượng tỷ
lệ theo số lượng đã đặt hàng Ví dụ, nếu tổng cung chỉ bằng 50% tổng cầu thì khách hàng chỉ nhận được 50% số lượng mà họ đã đặt hàng Và nếu biết nhà sản xuất sẽ hạn chế khi sản phẩm bị thiếu hụt thì khách hàng sẽ phóng đại nhu cầu thực sự của mình lên khi họ đặt hàng Sau đó, khi mà nhu cầu đã nguội, đơn hàng sẽ bất thình lình bị hủy bỏ
Đây chính là phản ứng ngược khi có tình trạng thiếu hụt và chế độ phân bổ xuất hiện Tác động của “trò chơi” này là đơn hàng của khách hàng phản ánh không chính xác nhu cầu thực Hiện tượng này xuất hiện khá phổ biến Vào những năm 1980,
Trang 7nhiều lần ngành công nghiệp máy tính rơi vào tình trạng thiếu hụt DRAM Đơn hàng tăng vọt nhưng không phải do tiêu thụ tăng mà do dự đoán Khách hàng đặt hàng gấp đôi với nhiều nhà cung cấp khác nhau và chính thức mua từ nhà cung cấp đầu tiên có thể giao hàng, sau đó hủy bỏ các đơn hàng trùng lắp còn lại
3 TÁC ĐỘNG CỦA HIỆU ỨNG BULLWHIP LÊN CHUỖI CUNG ỨNG
Bullwhip effect gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng và doanh nghiệp
3.1 Kế hoạch sản xuất không ổn định và chi phí tốn kém
Từ những hành động sửa chữa (như dùng vận tải chi phí cao, làm việc ngoài giờ ) Việc dự báo nhu cầu bị sai khiến cho kế hóạch sản xuất thiếu chính xác và không ổn định Nhà sản xuất có thể sản xuất quá nhiều hoặc thiếu so với nhu cầu Những kế hoạch về việc mua nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất, phân phối sẽ không tối
ưu và phát sinh các chi phí liên quan Bullwhip tạo lịch trình sản xuất không ổn định Những lịch trình sản xuất không ổn định là nguyên nhân gây ra một loạt các chi phí không cần thiết trong dây chuyền cung cấp Công ty đã đầu tư vào năng lực bổ sung
để đáp ứng các nhu cầu lúc cao đột biến Khả năng này sau đó dưới mức sử dụng khi nhu cầu giảm Đơn vị chi phí lao động tăng lên trong thời kỳ nhu cầu thấp, những chi phí cho hợp đồng tăng lên trong các thời kỳ nhu cầu cao Mặt khác những sai sót trong qúa trình thực hiện buộc doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí khắc phục, làm tăng chi phí và giảm doanh thu
3.2 Quan hệ căng thẳng với nhà cung cấp
Hiệu ứng Bullwhip có thể giúp công ty gây áp lực đến nhà cung cấp, điều này
có thể khiến quan hệ với nhà cung cấp trở nên căng thẳng hơn Chẳng hạn, khi nhu cầu cao bất ngờ có thể sẽ phải yêu cầu các nhà cung cấp nhanh chóng sản xuất hoặc vận chuyển một lượng các thỏa thuận mua lại buộc các nhà cung cấp phải lấy lại hàng tồn kho dư thừa Nếu bạn liên tục dự báo sai nhu cầu, các nhà cung ứng có thể trở nên không hài lòng với nhu cầu thay đổi liên tục và khẩn cấp
3.3 Những thay đổi nhỏ về nhu cầu sản phẩm của khách hàng
Tác động này thể hiện trên phạm vi lớn hơn gây ra là tình trạng “bơm vào buồng phổi” chu kỳ kinh doanh Bullwhip ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp khi nhu cầu đột nhiên tăng nhanh
Do mỗi công ty trong chuỗi cung ứng lại có một cái nhìn khác nhau
về toàn cảnh nhu cầu thị trường, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp trong chuỗi cung ứng Trong tình huống này, nhà sản xuất sẽ gia tăng sản xuất để thảo mãn nhu cầu Tại điểm này, hoặc là nhu cầu thay đổi, hoặc là sản phẩm sản xuất ra lớn hơn nhiều so với mức nhu cầu cần đáp ứng thực sự Nhà sản xuất cũng như phân phối không nhận ra điều này nên tiếp tục sản xuất và tồn trữ sản phẩm Kết quả đó là lượng sản phẩm dư thừa quá lớn, lượng tồn kho quá nhiều, chi phí vận tải và lao động tăng Điều này cũng dẫn đến trường hợp nhà sản xuất ngưng hoạt động máy móc, cắt giảm
Trang 8nhân viên, nhà phân phối gặp khó khăn trong quản lý hàng tồn kho và giá trị sản phẩm trên thị trường bị giảm
3 4 Dự báo kém
Việc dự báo nhu cầu kém chính xác làm cho việc tồn kho quá mức, năng lực
dư thừa hoặc thiếu hụt Điều này làm phát sinh các chi phi quản lí hàng tồn kho
3.5 Hàng tồn kho
Khi nhu cầu của người tiêu dùng thấp hơn dự đoán sẽ dẫn đến việc thừa hàng Hiệu ứng Bullwhip sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của nhà bán bán lẻ và họ sẽ giảm nguồn cung cho các đơn vị tồn kho trong tương lai Điều này có thể dẫn đến việc thiếu hàng khi bạn đẩy quá nhiều ưu đãi cho sản phẩm hoặc khi nhu cầu của khách hàng tăng lên Đây là một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của hiệu ứng Bullwhip vì công ty
đã bỏ lỡ những cơ hội tăng doanh số và có khả năng làm hỏng mối quan hệ công ty với khách hàng
3.6 Dịch vụ khách hàng tệ
Nguyên nhân gây ra là do sản phẩm không có sẵn hoặc do tồn kho dự trữ quá lâu Trong tình trạng hàng hóa không có sẵn những yêu cầu về số lượng cũng như thời gian giao hàng không được đáp ứng, tạo nên sự không hài lòng của khách hàng Điều này dẫn đến việc uy tín, hình ảnh của công ty giảm sút, ảnh hưỏng lớn đến doanh số bán hàng và doanh thu trong tương lai
4 CÁCH KHẮC PHỤC HIỆU ỨNG BULLWHIP
Một số biện pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hiệu ứng Bullwhip gồm có: + Thông qua các thông tin tốt hơn, có thể dưới hình thức giao tiếp được cải tiến theo chuỗi cung ứng hoăc dự báo tốt hơn Bởi vì người quản lý nhâ šn ra rằng người dùng cuối yêu cầu được dự đoán nhiều hơn so với nhu cầu kinh nghiê šm của các nhà máy, họ cố gắng để bỏ qua các tín hiê šu được gửi thông qua chuỗi cung ứng và thay vì
tâ šp trung vào những nhu cầu của người dùng cuối
+ Giảm bớt hoă šc loại bỏ sự châ šm trễ dọc theo chuỗi cung ứng Cắt đơn hàng thời gian giao hàng có thể cắt giảm mô št nữa biến đô šng dây chuyền cung ứng bằng 80% + Tâ šp trung vào người dùng cuối nhu cầu thông qua các point-of-sale (POS) dữ liê šu thu nhâ šp, trao đổi dữ liê šu điê šn tử (EDI), và nhà cung cấp, quản lý hàng tồn kho (VMI) để giảm bớt sai lê šch trong giao tiếp hạ lưu
+ Chia sẽ nhu cầu của khách hàng: Walmart thường xuyên chia sẽ dữ liệu POS của mình với các nhà cung cấp Dell chia sẻ dữ liệu nhu cầu cũng như vị trí tồn kho hiện tại của linh kiện với nhiều nhà cung cấp của mình thông qua Internet, do đó giúp tránh biến động không cần thiết về nguồn cung và đợn đặt hàng
+ Làm viê šc với các nhà cung cấp để tạo ra gia số thứ tự nhỏ hơn vá giảm bớt để trạm trô šn Thiết kế văn phòng để cùng làm việc với đối tác
Trang 9+ Duy trì ổn định giá cho sản phẩm Giá biến đô šng khuyến khích khách hàng đến hơn mua khi giá thấp và cắt giảm đơn đă št hàng khi giá đang cao, dẫn đến nhu cầu biến
đô šng lớn
+ Phân bổ nhu cầu giữa các khách hàng dựa trên đơn đă št hàng, qua đơn đă št hàng không hiê šn diê šn để giảm hành vi tích trữ khi xảy ra tình trạng thiếu
+ Xây dựng chuỗi cung ứng linh hoạt, phân phối một cách hợp lý
Bullwhip effect là hiê šn tượng có ý nghĩa quan trọng trong các quyết định trong chuỗi cung ứng Một thay đổi nhỏ trong nhu cầu ở khâu bên dưới của chuỗi cung ứng
có thể gây ra một sự thay đổi rất lớn ở khâu bên trên của chuỗi Hiê šu ứng này làm cho hàng tồn kho có thể nhanh chóng chuyển từ tình trạng thiếu hàng sang thừa hàng Hiểu được bản chất của hiê šu ứng Bullwhip giúp nhà quản lý tìm ra phương cách giảm thiểu nó giúp viê šc kinh doanh được tốt hơn
Phần mềm là sự lựa chọn tối ưu giúp nhà quản lý đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp, đảm bảo tiến độ, đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng, chia sẻ thông tin, và quản
lý đồng bộ, xuyên suốt
5 HIỆU ỨNG BULLWHIP TRONG THỜI KÌ COVID-19
Tác động ban đầu của đại dịch đối với các doanh nghiệp dường như chỉ giới hạn
ở phía cung cấp: các nhà máy đóng cửa, nhà sản xuất không thể mua nguyên vâ št liê šu,
và thiếu thuyền cũng như máy bay để vâ šn chuyển hàng hoá trên toàn cầu Tình trạng này cũng dẫn tới sự thiếu hụt công cụ mà mọi doanh nghiê šp đều phải cất công giải quyết nhằm giảm sự trì trê š trong sản xuất Tuy nhiên, điều mà nhiều doanh nghiê šp khó lòng giảm thiểu được là tác động của virus đối với con người, lực lượng lao động của
họ Do đó hiê šn nay, các doanh nghiê šp phải ưu tiên và tìm nguồn cung cấp các thiết bị bảo hộ lao động cho nhân viên như khẩu trang, găng tay, áo khoác bảo hộ và gel khử trùng tạo nên xu hướng nhu cầu lớn về các sản phẩm y tế và chăm sóc sức khoẻ Bất chấp mọi nỗ lực trên diê šn rô šng của các tổ chức dành cho nhân sự công ty, covid vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khoẻ con người Sự thiếu hụt những nhân
sự tham gia trực tiếp vào dây chuyền sản xuất, nhân sự hỗ trợ chẳng hạn như nhân viên dọn dẹp và công nhân phụ, nhân viên an ninh, lễ tân, kho bãi và hậu cần, nhân sự điều hành và nhân sự k• thuâ št dẫn tới sự gián đoạn trong sản xuất, thực hiê šn đơn hàng
và vâ šn chuyển Nhiều doanh nghiê šp bị ảnh hưởng cùng lúc sẽ gây nên gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu
Về phía cầu, vì ngày càng có nhiều người ở nhà và làm việc tại nhà, hoặc bị cách
ly nên về cơ bản, số người ra ngoài mua hàng trên thế giới sẽ giảm đáng kể, lượng mua hàng trực tuyến tăng cao đi cùng với nhu cầu thực phẩm thiết yếu, giao tiếp trực tuyến và sản phẩm y tế tăng cao Có thể thấy hiê šu ứng Bullwhip đã xuất hiê šn rõ rê št trong giai đoạn này, khi nhu cầu bị suy giảm trong một số lĩnh vực, mà các lĩnh vực khác có nhu cầu tăng cường Sự thay đổi nhu cầu này đã ảnh hưởng ngược chiều lại các nguồn cung mà qua mỗi tầng cung cấp lại càng khuếch đại hơn
Trước cơn cuồng loạn corona virus, hình ảnh của các kệ hàng trống đã châm ngòi một số động thái: tình trạng mua hàng hoảng loạn, mua hàng tích trữ đã kéo lên
Trang 10một làn sóng tranh giành nhau thu mua một lượng lớn hàng thiết yếu Cụ thể dễ thấy nhất đó giấy vệ sinh, khẩu trang, nước rửa tay,… Điều mà những người mua hoảng loạn có thể không nhận ra đó là việc họ tích trữ sẽ tạo “nhu cầu ảo”, góp phần tạo ra hiệu ứng “cái roi da” trong chuỗi cung ứng Để khắc phục tình trạng trên nhiều cửa hàng đang thực hiện các biện pháp giới hạn về số lượng giấy vệ sinh, nước rửa tay và các sản phẩm khác mà khách hàng được quyền mua, một số cửa hàng thậm chí còn cử nhân viên bảo vệ theo dõi các lối đi và đảm bảo khách hàng sẽ không lấy nhiều hơn so với lượng hàng được phân bổ công bằng cho mỗi người
Đối với nhiều nhà quản trị chuỗi cung ứng, điều này đưa ra thách thức to lớn và
có thể tốn kém trong việc đối phó với hiệu ứng “cái roi da” Khi sự thay đổi lớn trong lượng hàng tồn kho xảy ra do tình trạng mua và tích trữ dồn dập, tác động của nhu cầu tăng đột ngột này bị bóp méo khi đi sâu vào chuỗi cung ứng Các nhà bán lẻ mất doanh số tiềm năng và chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng giảm sút Các nhà phân phối đang tranh giành nhau để xác định xem ai sẽ nhận được bao nhiêu sản phẩm nhất định trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa và các nhà sản xuất bị choáng ngợp với nhu cầu tăng một cách đột biến, không thể lường trước
Khi thị trường báo hiệu nhu cầu tăng mạnh, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng toàn cầu, lợi nhuận của các nhà quản trị chuỗi cung ứng phụ thuộc vào việc cập nhật nhu cầu chính xác và linh hoạt đủ để dự báo và chuẩn bị hàng tồn kho theo đúng
kế hoạch
6 DẪN CHỨNG THỰC TẾ
6.1 Chip bán dẫn
Chip bán dẫn được coi là bộ não của mọi sản phẩm điện tử Tuy nhiên, nguồn cung chip hiện nay vẫn thấp hơn tới 30% so với nhu cầu trên thị trường toàn cầu.
Một trong những nguyên nhân là ngành công nghiệp ô tô và ngành công nghiệp điện tử nói chung đã đưa ra các dự báo sai Sau khi chứng kiến sản xuất ô tô bị đình trệ vào thời kỳ đầu của đại dịch, các nhà sản xuất chip đã chuyển đổi dây chuyền sang cung cấp chip cho các thiết bị công nghệ khác, khi nhu cầu máy tính và thiết bị điện
tử tăng do xu hướng làm việc từ xa Tuy nhiên, họ không ngờ rằng không lâu sau, doanh số bán xe đã nhanh chóng phục hồi
Chỉ riêng tại M•, sau khi phong tỏa trong tháng 3, doanh số bán xe ô tô mới đã lao dốc 38,4% so với cùng thời điểm năm 2019 Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, đã có nhiều xe được bán ra hơn Doanh số bán xe trong tháng 5 chỉ còn giảm 30%, tháng 6 cũng ghi nhận tín hiệu tích cực hơn Khi các biện pháp giãn cách được nới lỏng, nhu cầu sở hữu xe oto càng tăng Ước tính 83,4 triệu xe trong năm 2021, tăng 9% so với
dự báo 76,5 triệu xe trong năm 2020 Đây là điều mà không một nhà sản xuất nào có thể dự báo được trước đó
Chính dự báo sai này đã tạo ra hiệu ứng “bullwhip” - hiện tượng khuếch đại nhu cầu sản xuất trên toàn bộ chuỗi cung ứng, đặc biệt trong ngành sản xuất ô tô.