Tiếp đến, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 cũng đã dành riêng một điều quy định về ATSH, trong đó nhấn mạnh nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, k
Trang 1TS Vò Thu H¹nh *
1 An toàn sinh học - ATSH (biosafety)
là khái niệm chỉ sự bảo vệ tính toàn vẹn
sinh học ATSH liên quan đến nhiều lĩnh
vực Trong lĩnh vực nông nghiệp, ATSH
hạn chế nguy cơ, tác hại có thể xảy ra do
virus hoặc sinh vật biến đổi di truyền,
prion,(1) hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn trong
thực phẩm Trong lĩnh vực y học, ATSH
đảm bảo an toàn trong sử dụng các mô hay
cơ quan có nguồn gốc sinh vật, sản phẩm
trong liệu pháp di truyền, các loại virus,
đảm bảo an toàn phòng thí nghiệm theo
mức độ nguy cơ.(2) Trong sinh thái học,
ATSH đảm bảo an toàn trong việc di chuyển
sinh vật giữa các vùng sinh thái(3)… Vì
những giá trị to lớn nêu trên của ATSH,
quản lí ATSH luôn là nội dung quan trọng
của pháp luật về đa dạng sinh học Tuy
nhiên, pháp luật đa dạng sinh học Việt
Nam, pháp luật đa dạng sinh học của đa số
các nước trên thế giới cũng như các điều
ước quốc tế về đa dạng sinh học không đề
cập mọi khía cạnh của ATSH như đã kể trên
mà chủ yếu đề cập quản lí ATSH đối với
sinh vật gây hại và sinh vật biến đổi gen(4)
(tên viết tắt tiếng Anh là GMO) Trong
phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân
tích các khía cạnh pháp lí của quản lí ATSH
đối với sinh vật biến đổi gen vì những tác động tiềm ẩn của chúng đến môi trường, đa dạng sinh học và sức khỏe con người
2 Tại Việt Nam, ngay từ khi pháp luật
về đa dạng sinh học chưa được định hình một cách rõ rệt, các quy định về quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen đã được Nhà nước quan tâm xây dựng Hơn một năm sau ngày Nghị định thư Cartagena về ATSH
có hiệu lực tại Việt Nam,(5) Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quy chế về quản lí ATSH
đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen(6) (sau đây gọi tắt là Quy chế 212) Tiếp đến, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 cũng
đã dành riêng một điều quy định về ATSH, trong đó nhấn mạnh nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ, vận chuyển sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, vệ sinh an toàn thực phẩm, giống cây trồng, giống vật nuôi và các quy định khác của pháp luật có liên quan…
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 23 Tính đến thời điểm này, một số yêu
cầu chính của Nghị định thư Cartagena về
quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen
đã được nội luật hoá trong các quy định của
pháp luật quốc gia, đặc biệt là những nội
dung liên quan đến nhập khẩu sinh vật biến
đổi gen Cụ thể là yêu cầu phải áp dụng các
biện pháp cần thiết trong quá trình vận
chuyển xuyên biên giới các sinh vật biến
đổi gen đã được pháp luật Việt Nam quy
định thành các điều kiện bắt buộc về xử lí,
đóng gói và vận chuyển trong điều kiện an
toàn đối với việc nhập khẩu sinh vật biến
đổi gen hay các quy định về thủ tục nhập
khẩu sinh vật biến đổi gen cũng đã được
pháp luật Việt Nam quy định cụ thể, chi
tiết Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số nội
dung của điều ước chưa được chuyển hoá
đầy đủ mà mới chỉ dừng ở các quy định
chung chung, mang tính nguyên tắc Ví dụ
như quy định về yêu cầu đánh giá rủi ro do
sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng
sinh học Mặc dù Quy chế 212 cũng đã đề
cập nghĩa vụ phải đánh giá rủi ro đối với
các hoạt động có liên quan đến sinh vật biến
đổi gen nhưng pháp luật chưa có những
hướng dẫn cụ thể về cách thức đánh giá rủi
ro và khắc phục hậu quả của rủi ro… hay
các quy định về yêu cầu tăng cường các
nguồn nhân lực và năng lực thể chế về
ATSH; yêu cầu nâng cao nhận thức, giáo
dục và sự tham gia của cộng đồng liên quan
đến chuyển giao, xử lí và sử dụng an toàn
các sinh vật biến đổi di truyền… cũng mới
chỉ được đề cập như là nội dung của hoạt
động quản lí nhà nước về ATSH trong khi cách tiếp cận chủ yếu của Nghị định thư Cartagena là đa dạng hoá các hình thức kiểm soát ATSH, tăng cường vai trò của các chủ thể khác đối với các hoạt động này Thậm chí, còn một số yêu cầu của điều ước chưa được chuyển hoá trong bất cứ quy định nào, như trách nhiệm của bên xuất khẩu phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền quốc gia của bên nhập khẩu việc vận chuyển xuyên biên giới có chủ định sinh vật biến đổi di truyền và phải chịu trách nhiệm
về tính chính xác của những thông tin đó; trách nhiệm của bên nhập khẩu trong việc xác nhận đã nhận được thông báo của bên xuất khẩu; trách nhiệm phải cung cấp cho Trung tâm trao đổi thông tin ATSH các quy định áp dụng đối với việc nhập khẩu các sinh vật biến đổi di truyền với ý định sử dụng trực tiếp làm lương thực hoặc thức ăn gia súc, hoặc chế biến…
3 Luật đa dạng sinh học năm 2008 được ban hành(7) đánh dấu bước phát triển mạnh của hệ thống pháp luật về quản lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Việt Nam Luật đã pháp điển hoá các quy định về đa dạng sinh học được đề cập rải rác trong nhiều lĩnh vực pháp lí thành lĩnh vực pháp
lí độc lập, điều chỉnh hầu hết các quan hệ về bảo tồn và phát triển bền vững các thành tố của đa dạng sinh học, gồm nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Riêng đối với sinh vật biến đổi gen, Luật đa dạng sinh học năm 2008 tập trung vào các quy định quản lí rủi ro do sinh vật biến đổi
Trang 3gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi
gen gây ra đối với đa dạng sinh học (Mục 3
Chương V) Quy định này xuất phát từ việc
coi đa dạng sinh học là một trong những đối
tượng chịu rủi ro cao từ sinh vật biến đổi
gen và cần thiết phải có sự quản lí ATSH
đối với chúng vì mục tiêu bảo vệ môi trường,
bảo tồn đa dạng sinh học
4 Để cụ thể hoá một số quy định về quản
lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen trong
Luật bảo vệ môi trường năm 2005, Luật đa
dạng sinh học năm 2008 như đã nêu trên cũng
như để chuyển hoá những yêu cầu của Nghị định thư Cartagena mà Chính phủ Việt Nam
đã cam kết áp dụng vào hệ thống pháp luật Việt Nam đồng thời “nâng cấp” Quy chế quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen trong nghị định của Chính phủ,(8) thiết nghĩ những nội dung khoa học sau đây cần được trao đổi, bình luận và đi đến thống nhất:
- Về những nội dung chính cần điều chỉnh:
Có thể hình dung những nội dung chính của quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng
- Về những căn cứ thực tiễn cho việc
xây dựng văn bản: Để có căn cứ thực tiễn
cho việc xây dựng Nghị định về quản lí
ATSH đối với sinh vật biến đổi gen, công tác tổng kết việc thi hành pháp luật về quản
lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen là yêu
Kiểm soát các tác động tiêu cực của GMO đến môi trường, đa dạng sinh học và sức khỏe con người
Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; khảo nghiệm, phóng thích GMO
Xuất khẩu, nhập khẩu, lưu giữ và vận chuyển GMO
Đánh giá rủi ro do GMO gây ra
đối với môi trường, đa dạng sinh học
và sức khỏe con người
Trang 4cầu bắt buộc.(9) Cụ thể là phải tiến hành
tổng kết 3 năm thi hành quy chế 212, trong
đó xác định rõ kết quả thực tế của tất cả các
hoạt động có liên quan đến sinh vật biến đổi
gen và sản phẩm của chúng (từ hoạt động
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ,
khảo nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng
đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, vận
chuyển, lưu giữ, phóng thích ); kết quả
triển khai, tổ chức thực hiện quy chế của
các bộ, ngành (trong đó tập trung vào các
ngành tài nguyên và môi trường; nông
nghiệp và phát triển nông thôn, y tế, công
thương, khoa học và công nghệ); kết quả
hoạt động thực tiễn của lực lượng hải quan,
của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công
nghệ sinh học; của các địa phương có quy
hoạch vùng khảo nghiệm sinh vật biến đổi
gen Bên cạnh đó còn phải có các kết quả
khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội
liên quan đến nội dung chính của Nghị
định, xác định nhu cầu điều chỉnh của pháp
luật đối với lĩnh vực này
- Về các căn cứ pháp lí để xây dựng văn
bản: Ngoài các căn cứ chính là Luật bảo vệ
môi trường năm 2005; Luật đa dạng sinh học
2008 như đã nêu trên, việc xây dựng nghị
định còn phải căn cứ vào Luật bảo vệ sức
khỏe nhân dân năm 1989, Luật khoa học và
công nghệ năm 2000; Pháp lệnh giống cây
trồng năm 2004; Pháp lệnh giống vật nuôi
năm 2004; Luật chất lượng sản phẩm, hàng
hoá năm 2007; Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008
- Về tên gọi của văn bản: Hiện có các
loại ý kiến khác nhau như sau: Một là Nghị
định về quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen Ưu điểm của tên gọi này là ngắn gọn, dễ hiểu và đảm bảo độ tương thích ở mức độ cao với tên gọi của Nghị định thư Cartagena song lại chưa bao quát được việc quản lí ATSH đối với sản phẩm của sinh vật
biến đổi gen; hai là, sử dụng lại tên gọi của
Quy chế 212 - Quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen Ưu điểm của tên gọi này là thể hiện rõ các đối tượng quản lí song lại gây khó hiểu khi sử dụng cụm từ “có nguồn gốc” từ sinh vật biến đổi gen Thêm nữa, không nhất thiết phải có tên gọi “hàng hoá” khi đã sử dụng tên gọi “sản phẩm” vì thuật ngữ hàng hoá chỉ phản ánh sự lưu thông trên thị trường
của sản phẩm mà thôi; ba là, Nghị định về
quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen Tên gọi này dựa trên quy định của Luật đa dạng sinh học năm 2008 Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì tên gọi sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen đã bao gồm cả mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen nên không nhất thiết tên gọi phải bao gồm 2 nội dung như vậy;
sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen Tên gọi này được nhiều người cho là phù hợp hơn
- Về phạm vi điều chỉnh của văn bản Mặc dù tên gọi của nghị định là quản lí
Trang 5ATSH đối với sinh vật biến đổi gen và sản
phẩm của chúng song phạm vi điều chỉnh
của nghị định không nên chỉ giới hạn ở các
quy định về quản lí nhà nước về ATSH mà
nên mở rộng phạm vi quản lí cho các chủ
thể khác nữa Cần thống nhất quan điểm là
quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen
không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều này
sẽ đảm bảo mức độ tương thích cao hơn của
pháp luật Việt Nam đối với Nghị định thư
Cartagena đồng thời cũng thể hiện rõ xu
hướng đa dạng hoá các cách thức, phương
pháp quản lí ATSH đối với sinh vật biến
đổi gen và sản phẩm của chúng
Do mục đích chính của quản lí ATSH
nói chung, quản lí ATSH đối với sinh vật
biến đổi gen và sản phẩm của chúng là kiểm
soát được rủi ro, đánh giá được các tác động
của sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của
chúng tới môi trường, đa dạng sinh học và
sức khỏe con người nên phạm vi điều chỉnh
của nghị định cần phải bao gồm cả những
nội dung này
- Về những nội dung cụ thể cần điều chỉnh:
- Với mỗi hoạt động có liên quan đến
sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng,
những nội dung cần pháp luật điều chỉnh
bao gồm:
hành hoạt động có liên quan đến sinh vật
biến đổi gen và sản phẩm của chúng, trong
đó đặc biệt chú ý đến các điều kiện về chủ
thể tiến hành hoạt động cũng như các điều
kiện về cơ sở vật chất, về chuyên môn,
nghiệp vụ, kĩ thuật Ví dụ, đối với hoạt
động nghiên cứu khoa học về sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng, ngoài việc phải tuân theo các yêu cầu của Luật khoa học và công nghệ đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung, còn phải tuân theo các điều kiện đặc thù về cơ sở vật chất, kĩ thuật, thiết bị, công nghệ và cán bộ chuyên môn phù hợp với hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ đối với sinh vật biến đổi gen Cụ thể là tổ chức, cá nhân chỉ được phép tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
về sinh vật biến đổi gen thuộc danh mục được pháp luật cho phép và phải có phòng thí nghiệm được Bộ khoa học và công nghệ công nhận
tiến hành các hoạt động Ví dụ, đối với hoạt
động nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, lưu giữ sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng cần phải tuân theo các quy định về thủ tục nhập khẩu; các quy định về xác nhận đã nhận được thông báo của bên xuất khẩu; các quy định về thông báo việc vận chuyển xuyên biên biên giới có chủ định sinh vật biến đổi gen với ý định sử dụng trực tiếp làm lương thực hoặc thức ăn gia súc hoặc làm nguyên liệu chế biến
hợp pháp của các hoạt động Ví dụ, đối với
hoạt động khảo nghiệm, cần tuân theo các quy định về công nhận tư cách pháp lí của
Trang 6các chủ thể khảo nghiệm gồm cơ sở đủ
điều kiện khảo nghiệm sinh vật biến đổi
gen, tổ chức trực tiếp tiến hành việc khảo
nghiệm sinh vật biến đổi gen; giá trị pháp
lí của các kết quả khảo nghiệm Tương tự
là các quy định về công nhận tư cách pháp
lí của các chủ thể tiến hành thử nghiệm
sinh vật biến đổi gen
vụ của các chủ thể tiến hành các hoạt động
liên quan đến sinh vật biến đổi gen và sản
phẩm của chúng: Ví dụ, cần có các quy định
về quyền và nghĩa vụ của các cơ sở nghiên
cứu khoa học, phát triển công nghệ trong
quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
việc quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi
gen: Ví dụ, trách nhiệm của Bộ tài nguyên
và môi trường trong việc giúp Chính phủ
thống nhất quản lí nhà nước về ATSH đối
với sinh vật biến đổi gen; trách nhiệm của
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
trong việc quản lí ATSH đối với giống cây
trồng, giống vật nuôi là sinh vật biến đổi
gen; quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi
gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen làm
thức ăn chăn nuôi; quản lí rủi ro đối với đa
dạng sinh học thuộc phạm vi quản lí của
Bộ; trách nhiệm của Bộ y tế về quản lí
ATSH trong quá trình sử dụng sinh vật biến
đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen
làm thực phẩm
- Trong quản lí ATSH đối với sinh vật
biến đổi gen, đánh giá rủi ro, kiểm soát các tác động tiêu cực của sinh vật biến đổi gen đối với sức khỏe con người, môi trường và
đa dạng sinh học vừa là yêu cầu vừa là mục đích nên các quy định về vấn đề này cần được thiết kế theo hướng vừa có quy định chung đối với tất cả các hoạt động vừa có quy định riêng đối với từng hoạt động căn cứ vào tính chất của hoạt động; mục đích sử dụng, cách thức, phương pháp
sử dụng và đối tượng tiếp nhận sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng, trong
đó đặc biệt chú ý đến các quy định về nội dung đánh giá rủi ro, bao gồm xác định tính chất nguy hại tiềm ẩn và mức độ thiệt hại có thể xảy ra đối với môi trường, đa dạng sinh học và sức khoẻ con người trong các hoạt động liên quan đến sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen đồng thời đề ra các biện pháp an toàn
để ngăn ngừa, xử lí và khắc phục những rủi
ro đối với môi trường đa dạng sinh học và sức khoẻ con người
- Ngoài những nội dung nêu trên, việc ban hành văn bản về quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng còn cần phải chú ý đến một số vấn đề pháp lí sau đây:
văn bản quy phạm pháp luật năm 2008,(10)
để nghị định về ATSH được ban hành cần
có bản báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo nghị định(11) trong đó nội dung của báo cáo phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó; chi
Trang 7phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi
phí, lợi ích của các giải pháp Đây là quy
định mới mang tính bắt buộc, giúp cho công
tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
hiệu quả, chất lượng hơn Theo đó, báo cáo
đánh giá tác động của Dự thảo Nghị định
cần đề cập những nội dung sau:
- Xác định các loại lợi ích về kinh tế-xã
hội-môi trường mà việc xây dựng Nghị định
quản lí ATSH mang lại
- Đánh giá các tác động, phân tích những
vấn đề được ưu tiên giải quyết trong Nghị
định quản lí ATSH, hay còn gọi là đánh giá
các tác động, phân tích những điểm tối ưu
của những nội dung chính cần ban hành
trong nghị định, bao gồm: các tác động kinh
tế (chi phí tiết kiệm, số việc làm được tạo
ra ); các tác động khác (nâng cao nhận thức
của người dân, bảo vệ môi trường, đa dạng
sinh học, sức khoẻ con người )
- Với mỗi vấn đề phải thể hiện được
những nội dung:1) Xác định vấn đề; 2) Thực
trạng của vấn đề; 3) Mục tiêu cơ bản cần đạt
được; 4) Các phương án lựa chọn; 5) Đánh
giá tác động của từng phương án; 6) Kết
luận và kiến nghị
bảo đảm thực thi pháp luật, trong đó có việc
xây dựng các chế tài xử lí hành vi vi phạm
các quy định về quản lí ATSH đối với sinh
vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng
Thực tiễn chưa có vụ việc vi phạm nào trong
lĩnh vực này bị xử lí trong thời gian qua cho
thấy trước hiệu lực, hiệu quả thực tế của việc
áp dụng các quy định về quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen Khiếm khuyết này cần phải được khắc phục trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học nói chung, đặc biệt là các quy định
về xử lí vi phạm pháp luật về quản lí ATSH Trong phạm vi của nghị định này cần thể hiện qua các điều khoản cấm thực hiện một
số hành vi nhất định liên quan đến sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng làm căn
cứ cho việc quy định các chế tài xử lí vi phạm trong thời gian tới./
(1) Protein trong hội chứng xốp não - Bệnh bò điên (2) Các cấp 1, 2, 3, 4
(3).Xem:http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/An_ to%C3%A0n_sinh_h%E1%BB%8Dc_(biosafety) (4) Còn gọi là sinh vật biến đổi di truyền
(5) Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Cartagena về
an toàn sinh học vào ngày 21/1/2004 và trở thành thành viên chính thức vào ngày 20/4/2004
(6) Ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/8/2005 (7) Được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kì họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2009 (8) Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường số 95/2009/QĐ-BTNMT ngày 20/1/2009 phê duyệt Chương trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2009 thuộc phạm vi quản lí nhà nước của Bộ Theo đó, Bộ tài nguyên và môi trường chủ trì soạn thảo nghị định về quản lí ATSH đối với sinh vật biến đổi gen trình Chính phủ ban hành trong thời gian tới
(9) Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
(10) Điều 61 khoản 2 điểm c Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
(11) Còn gọi là sử dụng phương pháp RIA trong việc đánh giá dự thảo văn bản