Do thể chế chính trị của nước Bỉ nên trong hệ thống các đạo luật giáo dục của nước này, các quy định điều chỉnh một cách hài hoà quyền hạn, nhiệm vụ giữa nhà vua và chính phủ.. Bộ giáo d
Trang 1* Vụ pháp chế
Bộ giáo dục và đào tạo
Ths Lª ThÞ Kim Dung * ghị quyết của Quốc hội số 27/2008/QH12
ngày 15/11/2008 về Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của
Quốc hội nhiệm kì khoá XII (2007 - 2011)
đã đưa việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật giáo dục vào Chương
trình xây dựng luật và dự kiến thông qua vào
tháng 10/2009
Việc tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng luật
giáo dục của một số nước trên thế giới là
việc làm cần thiết trong quá trình soạn thảo,
xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật giáo dục Việt Nam Bài viết này
giới thiệu Luật giáo dục của Vương quốc Bỉ,
Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan và Liên bang Nga
Vương quốc Bỉ là nước nhỏ nhưng có
nhiều thành tựu về giáo dục và kinh nghiệm
quản lí nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh
vực giáo dục Quốc gia này là một trong số ít
các nước còn duy trì chế độ quân chủ lập
hiến ở châu Âu Hiện nay, Bỉ là nước có nền
kinh tế và đời sống khá cao Chính phủ Bỉ có
truyền thống quan tâm đến nền giáo dục
nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực Bỉ là
một trong những nơi có nhiều trường đại học
uy tín ở châu Âu Giáo dục ở Bỉ là bắt buộc
và miễn phí trong 12 năm đầu Bỉ có hệ
thống những đạo luật về giáo dục, trong đó
bao gồm các luật chuyên ngành điều chỉnh
những đối tượng, cấp, bậc học cụ thể Bao
gồm: Luật về bảo vệ những học vị cấp cao
ngày 11/9/1933), Luật bắt buộc sinh viên các trường đại học quốc gia, các cơ sở giáo dục cao đẳng quốc gia tương đương với các trường đại học về việc khám sức khoẻ để phát hiện bệnh lây ngày 31/12/1949, Luật về giáo dục nghệ thuật ngày 14/5/1955, Luật về giáo dục sư phạm phối hợp ngày 30/4/1957, Luật về giáo dục kĩ thuật phối hợp ngày 30/4/1957, Luật về giáo dục trung học phối hợp ngày 30/4/1957, Luật về giáo dục tiểu học phối hợp ngày 20/8/1957, Luật về chế
độ ngôn ngữ trong giáo dục ngày 30/7/1963, Luật về kiểm tra sức khoẻ trong các nhà trường ngày 21/3/1964… Trong các luật chuyên ngành cụ thể này quy định các đối tượng được điều chỉnh theo từng nội dung và phạm
vi áp dụng của luật Ví dụ: Luật về bảo vệ
những học vị cấp cao, quy định cụ thể những học vị hàn lâm và tốt nghiệp đại học, thời gian đào tạo và được cấp các văn bằng, công nhận các học vị tương ứng tại Điều 1 như
sau: “Không người nào được chấp nhận để
thi học vị phó tiến sĩ nếu người ấy không có một trong những điều kiện được luật phối hợp này quy định về dự thi tốt nghiệp phó tiến sĩ về triết học và văn, phó tiến sĩ khoa học, phó tiến sĩ về khoa học tự nhiên và y học, phó tiến sĩ kĩ sư dân sự, hay phó tiến sĩ
kĩ sư về nông học; nhà vua quyết định một
N
Trang 2trong các điều kiện đó mà thí sinh phải thực
hiện” Do thể chế chính trị của nước Bỉ nên
trong hệ thống các đạo luật giáo dục của
nước này, các quy định điều chỉnh một cách
hài hoà quyền hạn, nhiệm vụ giữa nhà vua
và chính phủ Ví dụ: Điều 3 Luật về giáo
dục trung học phối hợp quy định: “Nhà vua
lập các cơ sở, trường, lớp cần thiết cho
giáo dục trung học Việc lập các cơ sở giáo
dục do nhà vua quyết định theo đề nghị của
hội đồng bộ trưởng” Điều 4 quy định:
“Nhà vua cho phép tổ chức kí túc xá thuộc
các cơ sở giáo dục trung học của nhà nước
nếu thấy cần thiết Các kí túc xá do chính
phủ quy định”
Thực tiễn lịch sử cho thấy hiện đại hoá
đất nước ở Nhật Bản không phải là quá trình
mang tính tự phát do tác dụng của cách
mạng khoa học-kĩ thuật như ở nhiều nước
phương Tây mà đây là công cuộc được nhà
nước chủ động tiến hành, lấy việc giáo dục
nâng cao ý thức con người làm cơ sở để thực
hiện Do vậy, vai trò của nền giáo dục Nhật
Bản và pháp luật về giáo dục được xem là
nhân tố quan trọng hàng đầu của quá trình
hiện đại hoá Lịch sử nền giáo dục hiện đại ở
Nhật Bản bắt đầu vào thời kì Minh Trị (1868
- 1912) Do chịu ảnh hưởng Nho giáo theo
truyền thống nặng về đức trị Nhật Bản ngay
từ thời Minh Trị đã thành lập bộ giáo dục
(9/1872) và ban hành Luật về giáo dục gồm
213 điều với 3 đặc điểm chính: Nhà trường
cho mọi người, kiến thức dựa vào Âu - Mỹ;
đào tạo con người làm giàu cho tổ quốc, bảo
vệ đất nước; xây dựng nhiều trường học, mở
rộng các trường cao đẳng và chuyên nghiệp
(để tiếp thu kĩ thuật Âu – Mỹ) Trên cơ sở đó
Nhật Bản đã ban hành Luật cưỡng bức giáo dục 8 năm (sau đó giảm xuống 6 năm) Chương trình học được xây dựng theo mô hình Hoa Kỳ, quản lí giáo dục được xây dựng theo kiểu Pháp Nhật Bản đã ban hành nhiều đạo luật nhằm thực hiện các yêu cầu phát triển giáo dục theo từng thời kì như năm 1893 ban bố Luật hướng nghiệp cho học sinh, Luật mở riêng đại học cho nữ và củng cố các trường chuyên nghiệp Năm
1962 ban hành Luật về cải tiến các trường phổ thông kĩ thuật và năm 1979 ban hành Luật về mở rộng các trường bồi dưỡng Có thể nói các chủ trương, chính sách và các giải pháp phát triển giáo dục Nhật Bản trong nhiều năm qua đều được thể chế thành các luật của Chính phủ và là yếu tố quan trọng
để thực thi trong thực tiễn
Nước Mỹ là đất nước của người nhập cư
từ khắp nơi trên thế giới đến sinh sống tạo thành Hợp chủng quốc Hiến pháp Mỹ quy định bộ máy, quyền lực và các hoạt động của Chính phủ Các hoạt động chính quyền khác
là trách nhiệm của từng tiểu bang Mỗi tiểu bang cũng xây dựng hiến pháp và pháp luật của tiểu bang đó Hiến pháp nước Mỹ chia quyền lực của Chính phủ ra làm ba phần: lập pháp, hành pháp và tư pháp Về mặt giáo dục, Mỹ là quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hoá, phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương các bang
và các quận giáo dục (một đơn vị về quản lí giáo dục) về các mặt trong quản lí giáo dục
và có tính hướng thị trường rất mạnh trong đào tạo Bộ giáo dục liên bang là cơ quan quản lí về giáo dục ở cấp liên bang mới được thành lập năm 1979 trong khi nước Mỹ
Trang 3thành lập cách đây đã hơn 200 năm (1789)
Bộ giáo dục Liên bang chỉ tập trung thực
hiện một số chức năng chính sau: Xây dựng
và triển khai thực hiện các mục tiêu chiến
lược phát triển giáo dục quốc gia và được thể
chế hoá bằng Luật giáo dục Mỹ năm 2000;
quản lí và điều phối các chương trình trợ
giúp của liên bang dành cho công tác giáo
dục mà trước đây thuộc chức năng của Bộ y
tế, giáo dục và phúc lợi Quản lí và giám sát
các khoản tài trợ cho tiểu học, trung học và
đại học Như vậy, Bộ giáo dục Hoa Kỳ
không thực hiện nhiều chức năng quản lí nhà
nước trực tiếp và toàn diện các mặt giáo dục
đối với toàn bộ hệ thống giáo dục Hoa Kỳ
Chính quyền các bang, các quận giáo dục
và nhà trường đặc biệt là các trường đại học
có tính tự chủ rất cao trong việc quản lí mọi
mặt hoạt động của nhà trường trong khuôn
khổ pháp luật liên bang và pháp luật của
từng bang Trách nhiệm quản lí giáo dục
chủ yếu thuộc về chính quyền các bang và
các quận là các đơn vị hành chính-lãnh thổ
với 90% kinh phí cho giáo dục là nguồn
kinh phí của các bang và các quận Các đạo
luật và điều lệ liên bang kiểm tra và giám
sát các bang và các địa phương việc phân
kinh phí các khoản tiền này, ở đâu và cho
đối tượng nào Các đạo luật, điều lệ của bang
và địa phương kiểm tra, giám sát nội dung,
phương pháp giảng dạy cho tất cả học sinh
Các cơ quản lí giáo dục của bang có trách
nhiệm và quyền hạn rất lớn trong quản lí
giáo dục trong phạm vi của bang từ xây
dựng kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục
của bang cho đến công tác phân bổ nguồn tài
chính, quản lí giáo viên… đến nội dung,
chương trình đào tạo của các loại hình giáo dục trên cơ sở luật pháp liên bang và luật pháp của từng bang Trong quản lí giáo dục của Mỹ, vai trò của các cộng đồng, các cơ quan lập pháp địa phương với đại diện của nhiều tầng lớp xã hội, giới doanh nghiệp có vai trò và vị trí rất quan trọng Các hội đồng bang đứng đầu là thống đốc bang có quyền lực thực sự trong việc quyết định những vấn
đề phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục của địa phương, xem xét và thông qua các luật, các quy định có liên quan đến giáo dục của bang mình, quản lí tổ chức nhân sự của
cơ quan quản lí giáo dục của bang như bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan quản lí giáo dục
Ở Thái Lan, Luật giáo dục được ban hành năm 1999, theo đó Bộ giáo dục, tôn giáo và văn hoá sẽ phân quyền về quản lí và điều hành giáo dục liên quan đến các vấn đề
về học thuật, ngân sách, tổ chức nhân sự và tổng hợp trực tiếp cho các cơ sở giáo dục Luật giáo dục quy định tất cả các cơ sở giáo dục có thẩm quyền cấp văn bằng phải có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động không hạn chế Mỗi cơ sở giáo dục có thể phát triển hệ thống quản lí và điều hành một cách linh hoạt và tự do về chương trình giảng dạy theo sự giám sát của hội đồng các
cơ sở giáo dục được thực thi theo Luật cơ
sở giáo dục Hiện nay, Thái Lan đang tổ chức lại hệ thống quản lí giáo dục theo nguyên tắc thống nhất trong chính sách và
đa dạng trong việc thực hiện cũng như thực hiện phân cấp quản lí với các khu vực giáo dục, cơ sở giáo dục và các cơ quan quản lí địa phương Cuộc cải tổ này do cơ quan cải
Trang 4cách giáo dục đề xuất và hiện đang hoàn
thiện Trong hệ thống các quy định pháp luật
về giáo dục,, kiến nghị về các chính sách đối
với công tác quản lí và điều hành giáo dục
do các cơ quan quản lí địa phương đề xuất
Hình thành Dự thảo luật về giáo dục tư nhân
và Dự thảo luật về cơ sở giáo dục đại học tư
nhân Đang thực hiện nghiên cứu về quản lí
giáo dục dạy nghề tư nhân
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,
chính trị sau khi Liên Xô tan vỡ, nền giáo
dục Liên bang Nga gặp rất nhiều khó khăn
nhưng chất lượng giáo dục ở Nga vẫn được
bạn bè quốc tế đánh giá cao, đặc biệt là các
nước phương Tây Thời gian gần đây, Liên
bang Nga liên tục có những cải cách hệ
thống pháp luật về giáo dục Riêng về giáo
dục đại học và sau đại học thì ngoài Luật
giáo dục của Liên bang Nga còn có Luật
liên bang về giáo dục đại học và sau đại
học Nhiệm vụ của luật pháp Liên bang Nga
trong lĩnh vực giáo dục là phân định thẩm
quyền trong lĩnh vực giáo dục giữa các cơ
quan chính quyền trung ương và các cơ
quan quản lí giáo dục của các cấp khác
nhau Bảo đảm và bảo vệ quyền học tập của
công dân được quy định trong Hiến pháp
Xây dựng và bảo đảm về mặt pháp lí cho
các hoạt động và phát triển tự do của hệ
thống giáo dục Liên bang Nga Xác định
các quyền và nghĩa vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của các pháp nhân và thể nhân trong
lĩnh vực giáo dục, cũng như sự điều chỉnh
của pháp luật và các quan hệ của chúng
trong lĩnh vực này Tính dân chủ trong giáo
dục gắn liền với tính công khai được thể
hiện trong hệ thống luật pháp về giáo dục,
cao nhất là Luật giáo dục Liên bang Nga, trong các điều lệ của nhà trường, các chương trình hoạt động của Bộ giáo dục và các cấp quản lí giáo dục, qua đó nguyên tắc lớn này trở thành những quy định có hiệu lực pháp lí Tính dân chủ không chỉ giới hạn trong nội bộ ngành giáo dục, các tổ chức tham gia giáo dục mà còn bao hàm cả vai trò giám sát của công dân về sự quản lí giáo dục của Nhà nước Tính dân chủ bảo đảm quyền được học tập trong các cơ sở giáo dục có chất lượng, được tự do lựa chọn của công dân tham gia giáo dục Luật giáo dục có những quy định thể hiện tính dân
chủ, ví dụ tại Điều 1: “Chương trình Liên
bang phát triển giáo dục phải là luật Liên bang, chương trình đó được xây dựng thông qua thi tuyển do Chính phủ tổ chức; báo cáo hàng năm của Bộ giáo dục thực hiện chương trình Liên bang phát triển giáo dục phải trình hai viện quốc hội và công bố trước các cơ quan thông tin đại chúng.”
Điều 2 về các nguyên tắc quốc gia trong
hoạt động giáo dục quy định: “Tự do, đa
nguyên trong giáo dục, quản lí giáo dục theo tính chất dân chủ, xã hội-nhà nước Tính tự trị của các cơ sở giáo dục” Nhìn chung, tư tưởng có tính nguyên tắc cơ bản chỉ đạo chính sách quản lí nhà nước, nhà trường của Liên bang Nga là tính dân chủ hoá sâu sắc (dân chủ và công khai) gắn với tính nhân bản và nhân văn, kế thừa và phát huy cao hơn nhiều so với truyền thống giáo dục Xô Viết và thể hiện xu thế giáo dục thế giới hiện nay
Các xu thế thay đổi quản lí giáo dục ở một số nước, trong đó có mức độ tập quyền
Trang 5hoá của việc biên soạn chương trình Việc
biên soạn chương trình của phần lớn các
nước đều do cơ quan chính phủ kiểm soát
nhưng khi thực hiện chương trình cụ thể,
mức độ tự chủ của các cơ quan địa phương,
trường học, giáo viên còn có sự khác biệt
khá lớn Ở một số nước như Lào, Nhật Bản,
Malaysia, Hàn Quốc, Philippines việc phát
triển chương trình thể hiện sự tập quyền cao
độ Một số nước có đề cương và hướng dẫn
chương trình cấp quốc gia, từ đó các vùng
căn cứ vào điều kiện thực tế mà tiến hành
điều chỉnh cho phù hợp Việc biên soạn
chương trình do Chính phủ quyết định
nhưng trong quá trình này, sự tham gia của
nhiều lực lượng trong xã hội là biện pháp
quan trọng nhằm trợ giúp cho việc biên
soạn và thực hiện chương trình có hiệu quả
hơn Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc
tế đang tạo ra những cơ hội và thách thức
tác động trực tiếp đến sự phát triển của giáo
dục-đào tạo và khoa học-công nghệ của các
quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam
Qua việc nghiên cứu pháp luật về giáo
dục của một số quốc gia chúng ta có thể
thấy có những sự khác biệt nhất định Trong
các nước đó không có sự khác biệt nhiều
giữa trường công và trường tư Uy tín của
nhà trường dựa trên thành quả đào tạo và
nghiên cứu của mỗi trường Các trường đại
học hàng đầu ở Mỹ như Harvard, Johns,
Yale, Stanford… đều là những trường đại
học tư “Lợi nhuận” nếu có trong các
trường này cũng chỉ được dùng để phát
triển trường và tuyệt đối không chia cho cổ
đông và những người sáng lập như các
doanh nghiệp và như các trường ngoài công lập ở Việt Nam Chính vì thế mà trường đại học Havard có trên 4 tỉ USD trong ngân hàng để sinh lời nhằm phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển giáo dục, khoa học Triết lí giáo dục và chiến lược dạy-học của đại học các nước cũng rất khác với Việt Nam Theo quan niệm giáo dục mới, sinh viên chủ động trong các hoạt động học tập còn giáo viên chỉ hướng dẫn
Từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, nhiều quốc gia đã tiến hành chuẩn bị và triển khai cải cách giáo dục, tập trung vào giáo dục phổ thông mà trọng điểm là cải cách chương trình và sách giáo khoa Chương trình của các nước đều hướng tới việc thực hiện yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, trực tiếp góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sống của con người, khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng ảnh hưởng đến sức khoẻ, hứng thú và niềm tin đối với việc học tập của học sinh Tình trạng giáo dục thoát
li đời sống, quá nhấn mạnh đến tính hệ thống, yêu cầu quá cao về mặt lí thuyết mà coi nhẹ những tri thức và kĩ năng có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của học sinh khiến năng lực hoạt động thực tiễn của người học bị hạn chế Khắc phục tình trạng sản phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh và đa dạng của xã hội, sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp nhận giáo dục mà biểu hiện chủ yếu là sự cách biệt về điều kiện, về trình độ giữa các địa phương và khu vực, cách biệt giữa giới tính
và địa vị xã hội./