1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Quốc gia - vấn đề tranh luận gay gắt trong tiến trình chống khủng bố quốc tế " potx

10 324 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 230,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lincoln bị ám sát vào năm 1865 và Napoleon bị ám sát năm 1858, Bỉ, Pháp cũng ngay lập tức điều chỉnh luật pháp trong nước bằng việc bổ sung thêm các “điều khoản mưu sát” của luật dẫn độ,

Trang 1

Gs la c−¬ng *

1 Quốc gia có thể là chủ thể hợp pháp

trong tiến trình chống khủng bố quốc tế

hay không?

Vấn đề này, các học giả đưa ra hai

quan điểm khẳng định và phủ định Những

người khẳng định cho rằng xét về mặt thực

tiễn, quốc gia là chủ thể cơ bản của luật

quốc tế trong tiến trình chống khủng bố

Từ cuối thế kỉ XIX, rất nhiều quốc gia đã

thông qua đạo luật chống khủng bố quốc tế

Sau khi tổng thống Mỹ A Lincoln bị ám

sát vào năm 1865 và Napoleon bị ám sát

năm 1858, Bỉ, Pháp cũng ngay lập tức điều

chỉnh luật pháp trong nước bằng việc bổ

sung thêm các “điều khoản mưu sát” của

luật dẫn độ, họ quy định phạm tội mưu sát

các nguyên thủ quốc gia và gia đình không

phải là tội phạm chính trị, cần phải dẫn

độ.(1) Những năm gần đây, nhiều quốc gia

đã quy định hành vi khủng bố là tội phạm

hình sự, một số quốc gia còn đưa ra đạo

luật chống khủng bố quốc tế riêng như Anh,

Pháp, Đức, Mỹ, Nga Thực tiễn quốc tế đã

chứng minh, các quốc gia đã liên kết thành

lực lượng chủ yếu trong tiến trình chống

khủng bố quốc tế như hành động của Mỹ

và đồng minh tại Afghanistan và Iraq Về

mặt lí luận nếu quốc gia bị thiệt hại bởi

khủng bố quốc tế thì có thể căn cứ vào quy

định tại Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc

để áp dụng các hành vi quân sự đơn phương hoặc tập thể để tự vệ, trước khi Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc cho phép áp dụng các biện pháp cụ thể.(2)

Những người ủng hộ quan điểm phủ định cho rằng về mặt thực tiễn, quốc gia chưa được Liên hợp quốc trao quyền mà có hành động đơn phương hoặc tập thể tấn công tội phạm khủng bố quốc tế, xuất quân tấn công vào một quốc gia có chủ quyền là hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia, là sự lạm dụng và trái với quyền tự vệ.(3) Về mặt lí luận, bản thân Nghị quyết số 1368 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc cũng không được hiểu rằng đã trao cho

Mỹ quyền sử dụng vũ trang Trong ý kiến tư vấn về Namibia của Toà án quốc tế năm 1971

chỉ rõ: “Phải phân tích kĩ nội dung nghị quyết

của Hội đồng bảo an, tức là vừa phải suy nghĩ

về từ ngữ chuyên dùng cần phải giải thích, lại phải suy nghĩ nội dung thoả thuận để đi đến nghị quyết, những điều khoản Hiến chương đã viện dẫn và mọi tình huống có thể dẫn tới hậu

tố này, Nghị quyết số 1368 không được giải thích là Hội đồng bảo an đã viện dẫn Chương

7 Hiến chương Liên hợp quốc trao cho Mỹ

* Khoa luật Trường đại học tổng hợp Vân Nam Trung Quốc

Trang 2

quyền dùng vũ trang Nếu so sánh Nghị

quyết số 678 khi nổ ra chiến tranh vùng

Vịnh với Nghị quyết số 1368 ta thấy Nghị

quyết số 678 đã xác định rõ trao quyền cho

nước hội viên hợp tác với Kuwait để có

những biện pháp cần thiết, còn Nghị quyết

1368 không có hai chữ “trao quyền” mà

chỉ nhắc lại quyền tự vệ đơn phương và tập

thể Ngày 28/09/2001, Hội đồng bảo an lại

thông qua nghị quyết toàn diện hơn, tức là

Nghị quyết số 1373 Nghị quyết này tuyên

bố tài trợ hoặc che chở cho khủng bố là

hành vi phi pháp, nhắc lại tính tất yếu phải

có biện pháp cần thiết để đối phó với sự đe

dọa của những hành vi khủng bố đối với

hoà bình và an ninh quốc tế Nội dung của

Nghị quyết này rất rộng, không chỉ riêng

với Afghanistan Nghị quyết yêu cầu các

nước không được tài trợ cho khủng bố, xác

định rõ hoạt động riêng rẽ hay tập thể của

khủng bố là hành vi phạm tội và phải

phong toả tiền, các tài sản khác của các tổ

chức khủng bố Mục đích của Nghị quyết

là ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố trên

phạm vi toàn thế giới, biểu thị công khai

các biện pháp quốc tế khống chế chủ nghĩa

khủng bố trên phạm vi toàn thế giới, chứ

không phải chỉ nhằm vào quốc gia nào hay

tổ chức khủng bố nào Nghị quyết còn

nhằm hướng tới việc đưa ra hàng loạt biện

pháp chống khủng bố cho các nước trong

tương lai chứ không phải chỉ chống khủng

bố trước mắt Bởi vậy, sau sự kiện 11/09

tại Mỹ hai nghị quyết của Hội đồng bảo an

không thể coi là cơ sở pháp lí trao quyền

sử dụng vũ lực cho quốc gia.(4)

Chúng tôi cho rằng quốc gia có thể trở thành chủ thể hợp pháp chống tội phạm khủng

bố quốc tế hay không, trước hết phải xem xét nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về “cấm đe doạ, sử dụng vũ lực và giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế” đồng thời phải căn cứ vào quy định của Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc: Không có điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng bảo an chưa áp dụng những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình

và an ninh quốc tế

Dựa vào tự vệ để sử dụng vũ trang trở thành ngoại lệ của nguyên tắc luật quốc tế cấm

sử dụng vũ trang Có nghĩa là cá thể hay tập thể quốc gia có hành động quân sự đối với một nước khác (đương nhiên kể cả hành vi quân sự lấy cớ tấn công tội phạm khủng bố quốc tế), theo Hiến chương Liên hợp quốc cần phải có

đủ 3 điều kiện:

1) Khi bị tấn công vũ trang

2) Trước khi Hội đồng bảo an có biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh thế giới 3) Có thể sử dụng quyền tự vệ đơn phương hay tập thể

Theo chúng tôi, điều kiện 1 và 2 có thể coi

là điều kiện tiên quyết của điều kiện 3 – sử dụng quyền tự vệ cá thể hoặc tập thể hoặc coi

đó là điều kiện tiên quyết, tức là chỉ có sẵn hai điều kiện 1 và 2 mới có thể sử dụng quyền trong điều kiện 3 - quyền tự vệ chính đáng Chúng tôi cho rằng để đánh giá một quốc gia

có thể trở thành chủ thể hợp pháp để tấn công tội phạm khủng bố quốc tế hay không, không

Trang 3

thể đánh đồng như nhau, không thể đưa ra

phán đoán khẳng định hay phủ định một

cách đơn giản, trừu tượng mà phải căn cứ

vào trình trạng cụ thể của từng vụ việc,

phải áp dụng tổng hợp cả 3 điều kiện trên

để đưa ra phán xét

1.1 Về vấn đề “bị tấn công bằng vũ trang”

“Bị tấn công bằng vũ trang” bao gồm

hai ý nghĩa: Nhận định về tấn công bằng

vũ trang và giới định thời gian bị tấn công

bằng vũ trang Thứ nhất, lí giải về tấn công

bằng vũ trang phải suy xét về hoàn cảnh

lịch sử do Hiến chương Liên hợp quốc quy

định Hiến chương Liên hợp quốc lấy

Chiến tranh thế giới lần thứ II làm bài học

và đúc rút ra kinh nghiệm cho nhân loại

Trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, Đức

xâm lược Ba Lan, Nhật Bản tấn công vũ

trang Trung Quốc với quy mô lớn Luật

quốc tế Rence cho rằng tấn công bằng vũ

trang thông thường có hai trường hợp: Một

chỉ một quốc gia đưa quân đội chính

quy vượt biên giới quốc gia để trực tiếp tấn

công nước khác Hai là chỉ một quốc gia

đưa quân hoặc đại diện cho quốc gia này

đưa quân đội hoặc lính đánh thuê gián tiếp

tấn công nước khác Vấn đề nghiêm trọng

của hành vi tấn công gián tiếp này cũng

tương tự như tấn công bằng vũ trang của

quân đội chính quy Xét hai yếu tố trên,

chúng tôi cho rằng khái niệm tấn công

bằng vũ trang phải hội đủ hai điểm quan

trọng: Một là bất luận là tấn công bằng vũ

trang trực tiếp hay tấn công bằng vũ trang

gián tiếp, thông thường phía phát động tấn

công là quốc gia Hai là tính nghiêm trọng

của việc tấn công bằng vũ trang của quân đội chính quy xâm phạm lãnh thổ Nếu quan điểm này được thừa nhận và ta coi đó là tiêu chuẩn

để xem xét “tập kích khủng bố” mà nước Mỹ thường lấy cớ phát động chiến tranh (lí do chủ yếu để Mỹ phát động chiến tranh ở Afghanistan)

có phải thuộc về tấn công bằng vũ trang hay không? Ngày 11/09/2001, Trung tâm thương mại thế giới và Lầu 5 góc của Mỹ bị tấn công Người ta đều thừa nhận vết thương do đòn tấn công này gây ra không kém gì vết thương khi quân đội chính quy của một nước tấn công nước khác trong chiến tranh xâm lược, tức là điểm thứ hai của tấn công bằng vũ trang – tính nghiêm trọng của tấn công đã rất rõ ràng Vấn

đề ở đây là ở chỗ cách tấn công mà nước Mỹ gặp phải không phải là từ quốc gia mà là từ những phần tử khủng bố quốc tế Tuy Afghanistan bị tố cáo là che chở cho tổ chức khủng bố do Binladen cầm đầu để tấn công nước Mỹ nhưng bản thân hành động tấn công bằng vũ trang vào nước Mỹ thì lại không phải

do quốc gia Afghanistan tiến hành Thế nhưng

Mỹ lại coi Afghanistan như kẻ phát động tấn công từ đó lấy cớ quyền tự vệ hành xử để tấn công Afghanistan

Điều đáng tiếc là cộng đồng quốc tế dường như đã chấp nhận kiểu lí giải này của Mỹ như một phát kiến mới Một số học giả thậm chí còn ca ngợi và cho rằng đó là một kiểu đột phá:

“Kiểu đột phá này vô cùng to lớn, có nghĩa là quyền tự vệ của một quốc gia không chỉ thích hợp với tấn công bằng vũ trang do quốc gia phát động mà còn thích hợp với cả sự tấn công bằng vũ trang do chủ nghĩa khủng bố phát

động Nhất là, với quyền tự vệ này, đối tượng

Trang 4

nhằm vào còn có thể là quốc gia che chở

không thể hiểu đơn giản hành vi nói trên

của Mỹ thuộc cái gọi là đột phá: Xét về

mặt lí luận, trước khi Hiến chương Liên

hợp quốc được sửa đổi theo đúng trình tự,

nó vẫn phải được tôn trọng và thi hành triệt

để Đồng thời, khi cho rằng một nước che

chở tội phạm khủng bố, phải có các tiêu

chuẩn để xác định: Trong thực tiễn thì xác

định như thế nào là một quốc gia có che

chở khủng bố hay không cũng không phải

là việc đơn giản Thực tiễn quốc tế những

năm gần đây cho thấy nếu tán đồng lí luận

nêu trên là sự đột phá thì đó chỉ là thứ đột

phá lí luận tìm thấy ở chủ nghĩa bá quyền

và thứ chính trị cường quyền

bị tấn công bằng vũ trang Vấn đề này trên

thực tế liên quan tới điều kiện thời gian để

thực hiện quyền tự vệ trong trường hợp

quốc gia đơn phương hoặc tập thể có hành

động quân sự đối với quốc gia khác Về lí

luận, thời gian chuẩn để quốc gia sử dụng

quyền tự vệ phải là thời gian đang bị tấn

công bằng vũ trang Trong thực tế có hai

khả năng đó là thời gian sử dụng quyền tự

vệ trước khi bắt đầu tấn công bằng vũ

trang hoặc thời gian sau khi bị tấn công

bằng vũ trang Đó chính là “phòng vệ

trước” và “phòng vệ sau”

1.2 Về vấn đề “trước khi Hội đồng

bảo an có biện pháp cần thiết để duy trì

hoà bình và an ninh quốc tế”

Chúng tôi cho rằng điều kiện thứ hai

có hai vấn đề cần làm rõ Trước hết, quốc

gia không thể sử dụng quyền tự vệ sau khi Hội đồng bảo an có biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Khi Hội đồng bảo

an có hành động tương ứng, quốc gia không được đơn phương hay tập thể có hành động quân sự - sử dụng quyền tự vệ đối với quốc gia khác Sau nữa là biện pháp mà Hội đồng bảo

an sử dụng phải là cần thiết là tất yếu Sự cần thiết ở đây theo chúng tôi phải hiểu là sự cần thiết với “sức nặng" của nó Tức là biện pháp

mà Hội đồng bảo an dùng tới phải đủ để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế Nhưng nếu biện pháp mà Hội đồng bảo an đưa ra không

đủ để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế thì giải quyết vấn đề này như thế nào? Trước cục diện khó xử của khả năng này liệu có cho phép quốc gia bị tấn công bằng vũ trang, khi mà các biện pháp mà Hội đồng bảo an đã áp dụng gây thất vọng và quốc gia đó tự đứng lên cứu lấy mình, tức là bản thân lại phải sử dụng hành động đồng thời cùng với hành động của Hội đồng bảo an được không? Câu trả lời là được

1.3 Về vấn đề “có thể sử dụng quyền tự vệ

đơn phương hoặc tập thể”

Để hiểu điều kiện thứ 3 phải nắm vững 3 điểm quan trọng:

- “Có thể” không có nghĩa là “phải”, tức là

sử dụng quyền tự vệ chỉ là quyền để lựa chọn chứ không phải biện pháp phải sử dụng Quốc gia có liên quan còn có thể sử dụng biện pháp khác để giải quyết vấn đề (như hiệp thương, hoà giải…) Chúng tôi cho rằng sử dụng quyền

tự vệ phải hiểu là hạ sách, tốt nhất vẫn là giải quyết bằng biện pháp hoà bình

- Sử dụng quyền tự vệ đơn phương hoặc tập thể phải hiểu là: 1) Quốc gia riêng rẽ bị tấn

Trang 5

công bằng vũ trang, có quyền tự sử dụng

quyền tự vệ 2) Nhiều quốc gia bị tấn công

bằng vũ trang, có quyền tự mình riêng rẽ

sử dụng quyền tự vệ, hoặc liên hiệp lại để

sử dụng tập thể quyền tự vệ 3) Một quốc

gia riêng lẻ hoặc nhiều quốc gia bị tấn

công bằng vũ trang, căn cứ vào cơ chế tập

thể, hiệp định hoặc mối quan hệ hữu hảo

nào đó, liên kết với quốc gia khác không bị

tấn công bằng vũ trang để có hành động

quân sự tập thể Lí giải đối với vấn đề 1, 2

nói chung đều có thể chấp nhận được

Nhưng cách hiểu ở vấn đề 3 còn có nhiều

quan điểm khác nhau Trước hết quan điểm

tán đồng cho rằng giữa một số nước, cho

dù có cơ chế tập thể hoặc có kí kết hiệp

định nào đó hay có quan hệ hữu hảo thì

giữa họ đã kết thành một cộng đồng lợi ích

Như chúng ta đều biết, chỉ cần một quốc

gia trong đó bị tấn công bằng vũ trang thì

chính là tiến hành tấn công cho khối lợi ích

chung Trong khối lợi ích chung này, các

quốc gia khác mặc dù chưa bị tấn công

bằng vũ trang nhưng để bảo vệ lợi ích tập

thể (trên thực tế kể cả lợi ích của mình),

đương nhiên là có quyền tham gia vào hành

động quân sự tập thể, thực hiện quyền tự

vệ tập thể

Bên cạnh đó, quan điểm phản đối cho

rằng những quốc gia chưa bị tấn công

bằng vũ trang đứng trước hiện thực nêu

trên, tham gia vào hành động quân sự tập

thể là trái với tôn chỉ của Hiến chương

Liên hợp quốc - chỉ có những nước bị tấn

công bằng vũ trang mới có quyền sử dụng

quyền tự vệ

Chúng tôi cho rằng để hiểu vấn đề 3 nêu trên có thể chia làm hai phần: Nếu cơ chế tập thể hoặc hiệp định nào đó được xây dựng trên

cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và những quy định liên quan phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tức là cơ chế tập thể hoặc hiệp định này mang tính hợp pháp thì quốc gia chưa bị tấn công bằng vũ trang, khi tham gia sử dụng quyền tự vệ tập thể là hợp pháp Ngược lại, là không hợp pháp Còn quốc gia chưa bị tấn công bằng vũ trang, lấy

lí do là “quan hệ hữu hảo” để tham gia hành động quân sự với nước khác thì bị coi là thiếu tính hợp pháp

Bởi vậy, căn cứ vào các quy định liên quan của luật quốc tế, lí luận của luật quốc tế và những kinh nghiệm thực tế quốc tế, chủ thể hợp pháp tấn công tội phạm khủng bố quốc tế phải bao gồm Liên hợp quốc, các quốc gia và

tổ chức hợp tác khu vực

Chúng tôi cho rằng trong cuộc đấu tranh với tội phạm khủng bố quốc tế phải tăng cường hơn nữa vai trò của Liên hợp quốc đồng thời trên cơ sở tuân thủ những quy định của luật pháp quốc tế, phải phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức quốc tế khu vực Về tính hợp pháp của các quốc gia khi tấn công tội phạm khủng bố quốc tế, phải phân tích cụ thể, không thể gộp làm một, đánh đồng như nhau Đối với hành vi của một số ít các nước chưa bị tấn công bằng vũ trang và trước lí do “quan hệ hữu hảo”, để tham dự vào hành động quân sự với nước khác, xét theo quan điểm lí luận của luật quốc tế thì không có đầy đủ căn cứ Xét

về thực tiễn quốc tế trong những năm gần đây thì lợi bất cập hại, cái mất lớn hơn cái lợi

Trang 6

nhiều Đối với vấn đề này, chúng ta cần

nhìn nhận một cách nghiêm túc và tăng

cường khống chế từ khâu lập pháp

2 Quốc gia có thể trở thành chủ thể

phạm tội khủng bố quốc tế hay không?

Lí giải theo mặt ngữ nghĩa, tội phạm

khủng bố quốc gia chính là hành vi khủng

bố được tiến hành bởi chủ thể là quốc gia,

tức là quốc gia là chủ thể tội phạm Có

những học giả chia hình thức biểu hiện

của khủng bố quốc gia (tội phạm) thành 3

loại sau:(6) Một là tiến hành khủng bố, trực

tiếp với danh nghĩa quốc gia dân tộc Nếu

như nước Đức trong thời kì Chiến tranh

thế giới lần thứ II coi chính sách diệt

chủng là quốc sách cơ bản của họ thì đó

thuộc về hành vi phạm tội khủng bố phi

chiến tranh Hai là với sự gợi ý và trao

quyền của nhà nước, các hoạt động khủng

bố do tổ chức bí mật của quốc gia hoặc tổ

chức khác do quốc gia chỉ đạo thực hiện.(7)

huấn luyện các phần tử khủng bố quốc tế

để thực hiện các hoạt động phạm tội

khủng bố của mình

Chúng tôi cho rằng chủ thể phạm tội

quốc tế là chỉ những người có hành vi gây

nguy hại tới cộng đồng quốc tế, theo luật

hình sự quốc tế, là người chịu trách nhiệm

hình sự Nói chung, chủ thể của tội phạm

khủng bố quốc tế là chủ thể thông thường,

tức là cá nhân hoặc tổ chức, không nên bao

gồm cả quốc gia Bởi vì trong luật hình sự

quốc tế hiện nay chưa thấy có quy định

bằng văn bản coi quốc gia là chủ thể tội

phạm quốc tế, cho nên việc quốc gia có thể

là chủ thể của tội phạm hay không vẫn còn là vấn đề đang tranh cãi

Lí do chính để phủ nhận quốc gia là chủ

thể tội phạm quốc tế là: Thứ nhất, có vấn đề về

chủ thể có thể truy cứu trách nhiệm hình sự

quốc gia đảm nhận trách nhiệm hình sự Thứ

ba, tội phạm quốc gia còn thiếu điều kiện chủ quan quan trọng (lỗi) Còn quan điểm khác lại cho rằng những lí do này là chưa đủ, quốc gia cũng có thể trở thành chủ thể của hành vi phạm tội khủng bố quốc tế.(8) Quan điểm này đưa ralí do như sau:

1 Trong Dự thảo điều khoản về trách nhiệm quốc gia của Uỷ ban luật pháp quốc tế Liên hợp quốc năm 1976 đã thông qua khái niệm “nước bị hại”, mở rộng phạm vi chủ thể

có thể truy cứu quốc gia có trách nhiệm về hành vi phạm tội quốc tế Điều 40 Dự thảo này định nghĩa “nước bị hại” như sau:

- “Nước bị hại” là một quốc gia bị hành vi phạm pháp của quốc gia khác theo quy định tại phần một, cấu thành hành vi phạm pháp xâm phạm quyền lợi quốc gia đó

- Ngoài ra, nếu hành vi phạm pháp quốc tế cấu thành tội phạm quốc tế thì “nước bị hại” chỉ tất cả các nước khác Do Điều 19 của Dự thảo đã định nghĩa hành vi phạm tội quốc tế là hành vi của một nước làm trái với nghĩa vụ quốc tế bảo vệ lợi ích cơ bản của cộng đồng quốc tế Bởi vậy, Uỷ ban luật pháp quốc tế đã

mở rộng nước bị hại do hành vi phạm tội quốc

tế, bao gồm tất cả các nước khác, không nằm trong nước bị hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây nên, là kết quả phù hợp với logic của định nghĩa này Theo các nguyên tắc cơ bản về

Trang 7

trách nhiệm quốc gia, nước bị hại có quyền

truy cứu trách nhiệm đối nước có hành vi

vi phạm Quy định của Dự thảo về “nước

bị hại” do hành vi phạm tội quốc tế đã

khiến cho các nước, ngoài nước bị hại trực

tiếp có liên quan tới hành vi phạm tội,

cũng trở thành chủ thể truy cứu trách

nhiệm hành vi quốc gia

2 Về trách nhiệm phạm tội quốc tế của

quốc gia, Uỷ ban luật pháp quốc tế đã có

quy định ở một chương riêng trong “Nội

dung, hình thức và mức độ của trách nhiệm

quốc gia” phần thứ 2 Dự thảo điều khoản

trách nhiệm quốc gia Theo quy định của

Dự thảo này, về trách nhiệm pháp lí, nước

có hành vi cần phải thực hiện nghĩa vụ

đình chỉ các hành vi phạm pháp và phải có

nghĩa vụ bồi thường đầy đủ cho nước bị

hại theo phương thức riêng rẽ hoặc tổng

hợp, các khoản bồi thường, đầy đủ và đảm

bảo không có hành vi tái phạm tương tự

nhằm phục hồi nguyên trạng

Đương nhiên, Uỷ ban luật pháp quốc

tế chủ yếu xuất phát từ mặt tiêu cực để

quy định trách nhiệm pháp lí của nước có

hành vi phạm tội quốc tế Về trách nhiệm

hình sự phạm tội quốc tế của quốc gia, các

học giả có những lí luận và phân tích sâu

hơn, tỉ mỉ hơn Khá đông các học giả về

luật quốc tế cho rằng trách nhiệm pháp lí

hình sự quốc tế của quốc gia gồm có mấy

loại dưới đây:

1) Hạn chế chủ quyền, gồm chiếm lĩnh

quân sự, quản chế quân sự, hạn chế lực

lượng vũ trang quốc gia

2) Bồi thường

3) Chế tài quốc tế, tức là Hội đồng bảo an Liên hợp quốc căn cứ Điều 41, Điều 42 của Hiến chương Liên hợp quốc quyết định dùng biện pháp vũ trang hay phi vũ trang Điều 19

Dự thảo trách nhiệm quốc gia của Liên hợp

quốc, quy định: “Hành vi của một nước nếu

cấu thành tội làm trái nghĩa vụ quốc tế, tức là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế mà không

Về vấn đề này người phụ trách soạn Dự thảo này đã giải thích: Những yếu tố quan trọng cấu thành hành vi vi phạm pháp luật quốc tế bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan là chỉ hành động hoặc không hành động những vấn đề có thể quy về nguyên nhân quốc gia, tức là những việc làm đó đều được coi là hành vi của quốc gia Yếu tố khách quan là chỉ hành động hoặc không hành động các vấn đề trái với nghĩa vụ quốc tế mà quốc gia có trách nhiệm Về vấn đề này, GS Vương Thiết Nha - học giả về luật quốc tế nổi tiếng của Trung Quốc cũng có quan điểm như trên

Ông cho rằng: “Gọi là yếu tố chủ quan là chỉ

một hành vi nào đó có thể quy nguyên nhân về

khủng bố quốc tế và yếu tố chủ quan của hành

vi vi phạm pháp quốc tế nói chung của quốc gia là giống nhau, tức là hành vi nào đó có thể quy trách nhiệm cho quốc gia Yếu tố chủ quan phạm tội quốc tế của quốc gia không phải là sự cố ý và sơ suất của hành vi mà là tính chất có thể quy trách nhiệm của hành vi hoàn toàn quyết định bởi tính chất đặc thù của chủ thể phạm tội quốc tế do quốc gia thực hiện Quốc gia là chủ thể trừu tượng, mặc dù tham chiếu lí luận về quy định của luật hình sự

Trang 8

trong nước về pháp nhân, có thể nói quốc

gia có thể thông qua quyết định của cơ

quan nhà nước và người lãnh đạo nhà nước

để thể hiện ý chí của mình nhưng để tránh

những cuộc thảo luận không có hồi kết về

vấn đề quốc gia có giống như cá nhân có

năng lực phạm tội hay không Và có thể

quy trách nhiệm của hành vi là yếu tố chủ

quan cấu thành tội phạm quốc gia, không

phải là biện pháp khôn ngoan

Cũng có học giả có ý kiến phản đối.(9)

Lí do của họ là:

1) Không nên lẫn lộn “khủng bố nhà

nước” với khủng bố có liên quan đến quốc

gia.(10) Nhà nước hoặc chính phủ lợi dụng

bọn khủng bố để duy trì sự thống trị đối

với nhân dân ở nước mình thì đó thuộc về

vấn đề chính trị trong nước Vì vậy, định

nghĩa về chủ nghĩa khủng bố quốc tế nên

loại trừ vấn đề này

2) Không thể lẫn lộn “khủng bố nhà

nước” với hành vi của quốc gia vi phạm

luật quốc tế Khi quốc gia hoặc tổ chức do

quốc gia ủng hộ có hành vi bạo lực tiến

hành khủng bố mục tiêu nào đó của quốc

gia khác vì mục đích chính trị thì hành vi

này không phải là hành vi của “khủng bố

nhà nước” mà là hành vi xâm lược Chúng

ta không nên coi mọi hành vi có tính chất

khủng bố đều là hành vi phạm tội khủng

bố Ví dụ chiến tranh hoặc xung đột vũ

trang sẽ có một số cảnh tượng mang tính

chất khủng bố nào đó gây hậu quả cho

thường dân vô tội nhưng việc sử dụng bạo

lực hoặc hành vi vũ trang trong chiến tranh

hoặc xung đột vũ trang cho dù đó là hành

vi quốc gia cũng không thể coi là “khủng bố nhà nước”, đương nhiên cũng sẽ không phải

“tội phạm khủng bố quốc gia”

3) Cho đến nay, trong các văn kiện quốc tế

có liên quan tới khủng bố quốc tế, giữa quốc gia với các cá nhân hoặc tổ chức có hành vi khủng bố quốc tế vẫn tồn tại đường ranh giới ngầm Cho dù sau khi nổ ra sự kiện khủng bố quốc tế 11/9, trong hàng loạt các nghị quyết nhằm đánh vào khủng bố quốc tế mà Liên hợp quốc và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã thông qua, Liên hợp quốc cũng vẫn phân biệt rạch ròi giữa quốc gia với các cá nhân hoặc tổ chức tiến hành hành vi khủng bố quốc tế Không hề đề cập cái gọi là khủng bố nhà nước

bảo an Liên hợp quốc đã đặc biệt nhấn mạnh:

“Để tăng cường hợp tác quốc tế, các nước cần phải thông qua mọi hình thức hợp pháp và áp dụng nhiều biện pháp hơn nữa ngay trong lãnh thổ của mình để phòng ngừa và ngăn chặn việc tài trợ hoặc chuẩn bị cho bất kì

có nghĩa vụ không được tổ chức, kích động, phối hợp hoặc tham gia những hành động khủng bố ở nước khác, hoặc ngấm ngầm đồng

ý tiến hành ngay trong nước mình các hoạt

động có tổ chức để vi phạm vào loại hành vi

này” “Không chủ động hoặc bị động ủng hộ

dưới bất kì hình thức nào cho cá nhân hoặc thực thể tham gia hành vi khủng bố, kể cả chặn đứng các tổ chức khủng bố chiêu mộ nhân viên và xoá bỏ việc cung cấp vũ khí cho

trợ giúp, vạch kế hoạch, hỗ trợ giúp sức hoặc phạm vào các hành vi khủng bố, đối địch với

Trang 9

các nước khác”.(11) Tóm lại, các cụm từ

“khủng bố nhà nước” hoặc “tội phạm khủng

bố quốc gia” không xuất hiện trong công

ước quốc tế liên quan

Chúng tôi cho rằng “quốc gia có thể

trở thành chủ thể của tội phạm quốc tế

(bao gồm tội phạm khủng bố quốc tế), chỉ

có điều là phương thức mà quốc gia gánh

trách nhiệm khác với cá nhân gánh trách

khái niệm “khủng bố nhà nước đã được

nêu ra tại Điều 30 Tuyên ngôn quốc tế về

nhân quyền năm 1948, Điều 30 Công ước

quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn

hoá năm 1966, Điều 5 Công ước quốc tế

về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,

Điều 17 Công ước nhân quyền châu Âu

Tất cả những quy định của các điều khoản

này đều giống nhau Ví dụ, trong Điều 30

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền ghi

nhận: “Không điều khoản nào trong Tuyên

ngôn này có thể giải thích để cho phép một

quốc gia, một tổ chức hay cá nhân nào

được quyền có những hành vi hay tham gia

bất kì hoạt động nào nhằm phá hoại quyền

Điều có thể khẳng định là những điều

khoản của văn kiện đã nêu ở trên đều vừa

thừa nhận cá nhân có thể là chủ thể tấn

công, vừa thừa nhận quốc gia (khủng bố

nhà nước) có thể là khách thể phạm tội tấn

công Theo đó, giữa những hành vi cá nhân

và người thay mặt nhà nước thực hiện

được coi là khủng bố, theo văn bản này

chúng đều như nhau Còn quốc gia chịu

trách nhiệm hình sự như thế nào, một số

người cho rằng trách nhiệm hình sự quốc tế của quốc gia tự thân nó độc lập Ý kiến khác lại cho rằng trách nhiệm của quốc gia và cá nhân là mối quan hệ gia tăng Đây là lí do làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quốc tế của quốc gia, bao gồm tội phạm khủng bố quốc gia Rất nhiều chính phủ các nước cho rằng khủng

bố là kết quả của hành vi tự thân cá nhân Thật

ra không phải như vậy, “nếu quốc gia và

người thay mặt quốc gia hành động, làm những việc trái với luật quốc tế, hành vi này,

do tính nghiêm trọng, tính tàn khốc và coi thường sinh mạng con người của nó mà nó

được liệt vào hành vi phạm tội được luật pháp

các nước văn minh thừa nhận, quốc gia và kẻ thay mặt quốc gia hành động đều phải chịu

cho rằng xét từ góc độ thực tế, coi quốc gia là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự quốc tế còn cần phải có quá trình Xuất phát điểm xem xét quan điểm này là liệu quốc gia có thể trở thành chủ thể của tội phạm quốc tế và chủ thể chịu trách nhiệm hình sự hay không? Điều đó không chỉ là vấn đề nên hay không nên, có thể hay không có thể mà còn là vấn đề có khả năng như thế hay không?( 14 ) Vấn đề này, chúng tôi không thể tuỳ tiện khẳng định, khi

mà các hành vi phạm tội khủng bố quốc tế ngày càng gia tăng, việc nhanh chóng, kịp thời ngăn chặn tội phạm khủng bố quốc gia là điều cần làm và mang tính tất yếu hiện thực Trong điều kiện vai trò của luật quốc tế ngày càng được tăng cường, cơ chế tương ứng cũng từng bước được hoàn thiện, hoàn toàn có thể dựa vào luật quốc tế, bằng các trình tự hợp pháp để truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế của các

Trang 10

quốc gia liên quan Đó là việc hoàn toàn có

thể thực hiện được./

(1).Xem: Thịnh Nguyên, Luật chống khủng bố quốc

tế và sự hình thành của luật chống khủng bố quốc tế,

thông tin tư liệu quốc tế, tr 7, kì 6, năm 2003

(2).Xem: Giản Cơ Tùng, Nghiên cứu các vấn đề về

luật quốc tế và một vài vấn đề về chống khủng bố

quốc tế, Khoa học pháp luật, tr 99, kì 4, năm 2002

Trong tài liệu này chỉ ra: Sau sự kiện 11/9, Hội đồng

bảo an Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số

1373 tuyên bố các quốc gia có liên quan có thể sử

dụng quyền tự vệ đơn phương hoặc tập thể, Mỹ và

các nước đồng minh áp dụng các hành động quân sự

với Afghanistan cũng nằm trong trường hợp đó

(3).Xem: Mộ Á Bình, Đại Trung Hiện, Quốc tế chống

hoạt động khủng bố cần tuân thủ nguyên tắc và quy

phạm của luật quốc tế, xem: http://Chinalawinfo.com

ngày 31/3/2009

(4).Xem: Lê Vi Vi, “Chủ nghĩa khủng bố quốc tế và

việc sử dụng vũ lực trong luật quốc tế”, Tạp chí

chuyên ngành của Học viện pháp luật và chính trị

Hoa Đông, kì 5 năm 2003

(5).Xem: Giản Cơ Tùng, Nghiên cứu các vấn đề về

luật quốc tế và một vài vấn đề về chống khủng bố

quốc tế, Khoa học pháp luật, tr 99, kì 4 năm 2002

(6).Xem: Hoa Vân Hồng, Bình luận về khủng bố

nhà nước và mối đe doạ của nó, Giáo học và

nghiên cứu, tr 59, kì 4 năm 2003

(7) Cục tình báo quân sự của Liên Xô cũ (KGB) và

cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) và các tổ chức

liên quan của Ixaren như cơ cấu tình báo Mossad

(8).Xem: Bàng Sĩ Bằng, Thôi Bân, “Nghiên cứu tội

phạm khủng bố quốc tế”, Tạp chí pháp luật, tr 29 - 30,

kì 3 năm 2002

(9).Xem: Bạch Quế Mai, Xem xét chủ nghĩa khủng

bố quốc tế dưới góc độ luật quốc tế, Quan hệ quốc

tế hiện đại, tr 31-32, kì 10 năm 2002

(10) Cassese đã lấy mối quan hệ giữa chủ nghĩa khủng

bố quốc tế và quốc gia để chia làm 6 cấp độ khác nhau dựa vào sự khác biệt:

1 Do các quan chức chính phủ trực tiếp tham gia vào hoạt động chống khủng bố

2 Chính phủ thuê mướn các quan chức phi chính phủ gián tiếp chống chủ nghĩa khủng bố

3 Chính phủ chỉ tài trợ tài chính và cung cấp vũ khí

4 Chính phủ hỗ trợ về hậu cần

5 Chính phủ ngầm chấp thuận sự xâm chiếm của chủ nghĩa khủng bố trên lãnh thổ

6 Chính phủ không có bất kì hành động gì

Xem: Antonio Cassese, The International Community, Legal Response to Terrorism, Vol.38, International and Comparative Law Quarterly 589, 1989, p 598

(11).Xem: Nghị quyết số 1373 của Hội đồng bảo an liên hợp quốc (xem: http://www.un.Org/Chinese/aboutun/ prinorgs/sc/sres/01/s1373.htm); tham khảo tuyên bố và nghị quyết đã được Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và đại hội liên hiệp quốc thông qua trước và sau sự kiện khủng bố quôc

tế ngày 11/09 (Xem: http:// www.un.Org/Chinese/terrorism/)

(12).Xem: Trương Húc, Những vấn đề cơ bản của luật hình sự quốc tế, Nxb Đại học Cát Lâm, 2000, tr 144

(13) Adwards, Làn sóng khủng bố thật sự, 2004, tr 417 Chuyển dẫn từ: Bàn về khủng bố nhà nước, Khoa báo

chí Đại học dân tộc nội Mông Cổ, Nxb Khoa học xã hội, tr 80, kì 2 năm 2003

(14) Tóm lại, nhìn từ góc độ tự nhiên, quốc gia là chủ thể phạm tội quốc tế và phải chịu trách nhiệm hình sự phạm tội quốc tế, tuy nhiên trong điều kiện hiện nay vẫn không

dễ dàng để có thể coi quốc gia là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự quốc tế, cùng với sự mở rộng về lợi ích giữa các quốc gia và sự tăng cường một cách cần thiết về việc bảo hộ lợi ích toàn vẹn của loài người thì trách nhiệm hình sự quốc gia đương nhiên sẽ dần được phân rõ Xem: Trương Húc,

Dự thảo trách nhiệm hình sự phạm tội quốc tế, Khoa báo chí khoa học xã hội Đại học Cát Lâm, tr 49, kì 2 năm 2001

Ngày đăng: 09/03/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm