Tính cấp thiết của đề tài Trong xu hướng toàn cầu hoá, tăng trưởng và phát triển kinh tế đã vàđang trở thành mục tiêu hàng đầu, là thước đo về sự tiến bộ trong mỗi giaiđoạn phát triển c
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
ĐỀ TÀI 15:
PHÂN TÍCH HỌC THUYẾT VỀ “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN” VÀ CÚ HUÝCH TỪ BÊN NGOÀI CỦA PAUL SAMUELSON LIÊN HỆ VỚI VAI TRÒ CỦA VỐN FDI ĐỐI
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : LÊ THỊ ANH Sinh viên thực hiện : PHẠM VŨ KHÁNH LINH Lớp : 211ECO06A03
Mã sinh viên : 23A4010363
Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT VỀ “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN” VÀ “CÚ HUÝCH” TỪ BÊN NGOÀI CỦA PAUL ANTHONY SAMUELSON 3
1.1 Sơ lược về Paul Anthony Samuelson 3
1.2 Nội dung học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài 3
1.3 Đánh giá về học thuyết 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN FDI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 7
2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam 7
2.2 Thực trạng thu hút vốn FDI tại Việt Nam 8
2.3 Vai trò của vốn FDI trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 10
2.3 Tiêu cực của Việt Nam trong thu hút vốn FDI 12
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG VỐN FDI CHO KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 15
3.1 Giải pháp để tăng cường vốn FDI cho Việt Nam giai đoạn hiện nay .15 3.2 Liên hệ trách nhiệm của bản thân 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hoá, tăng trưởng và phát triển kinh tế đã vàđang trở thành mục tiêu hàng đầu, là thước đo về sự tiến bộ trong mỗi giaiđoạn phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Trong quá trình đổi mới đất nước, mở cửa và phát triển đầu tư nướcngoài đã thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế nước ta, nâng cao nănglực cạnh tranh, tăng cường quan hệ đối ngoại với các nước, tiến tới hội nhậpquốc tế, từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu Tuy nhiên, cácquốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng là những nước cóthu nhập thấp, đang mắc phải “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khó Để tăngtrưởng và phát triển kinh tế buộc chúng ta phải có “cú huých” từ bên ngoài,nhằm phá vỡ, cũng như thoát “cái vòng luẩn quẩn” đó Thực tế cho thấy, đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang là “cú huých” mạnh mẽ nhất, được nhìnnhận như một trong những trụ cột tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Như vậy,việc quan tâm đến sự tăng trưởng kinh tế và tác động của nguồn vốn FDI đối
đất nước là một điều hết sực cần thiết Do đó, em đã chọn đề tài: “Phân tích
học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson Liên hệ với vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và cúhuých từ bên ngoài của Paul Samuelson từ đó có một nhận thức đúng đắn vềtác động của “cú huých” từ bên ngoài đối với sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế, từ đó liên hệ vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế ở ViệtNam và những giải pháp giúp nước ta tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu “cái vòng
luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson, nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài ở Việt Nam và giải pháp tăng cường vốn FDI cho tăngtrưởng kinh tế
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: bài tiểu luận tập trung nghiên cứu học thuyết về “cái vòng
luẩn quẩn” và cú huých từ bên ngoài của Paul Samuelson, tác động của FDIđến nền kinh tế Việt Nam
Thời gian: Thời gian nghiên cứu được xác định là từ khi Việt Nam thức
thông qua Luật Đầu tư nước ngoài, văn bản pháp lý quan trọng nhất chínhthức hóa việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài ở nước ta vào năm 1987 cho đếnthời điểm kết thúc năm 2021
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với cácphương pháp như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quáthóa và hệ thống hóa
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT VỀ “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN” VÀ “CÚ HUÝCH” TỪ BÊN NGOÀI
CỦA PAUL ANTHONY SAMUELSON1.1 Sơ lược về Paul Anthony Samuelson
Paul Anthony Samuelson (1915 – 2009) là nhà kinh tế học người Hoa
Kỳ có nhiều đóng góp to lớn trong quốc tế, tài chính công, kinh tế học vi mô
và kinh tế học vĩ mô Ông đóng góp vào lý thuyết tân cổ điển về giá cả và lĩnhvực phân tích tính ổn định Là người theo trường phái Keynes, ông ủng hộquan điểm cho rằng chính sách tiền tệ và tài chính cần phải được phối hợp vớinhau để ngăn chặn lạm phát và suy thoái kinh tế Trong các công trình nghiêncứu của mình, ông kết hợp sự phân tích chặt chẽ bằng toán học với các vấn đềchính sách và đã cho xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về các lĩnh vực lýthuyết kinh tế khác nhau Tuy nhiên, các thế hệ lãnh đạo chính trị, kinh doanh
ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới biết đến ông chủ yếu nhờ cuốn giáo trìnhKinh tế học Trong thời gian dài, đây là cuốn giáo trình chuẩn được sử dụng ởcác trường đại học danh tiếng nhất của Mỹ và trên thế giới
1.2 Nội dung học thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài
Đây là học thuyết do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, trong đó cóPaul A Samuelson Theo ông, để tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chungphải đảm bảo bốn nhân tố đó là nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơcấu tư bản và kỹ thuật Cụ thể:
a Về nhân lực
Yếu tố về năng lực, chất lượng nguồn năng lực là yếu tố tiên quyết,quan trọng nhất trong tăng trưởng nền kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc Cácyếu tố như tư bản, nguyên vật liệu, kỹ thuật đều có thể mua bán hoặc vaymượn từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển, còn với yếu tố về nhân lực thì
Trang 6khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc, thiết bị, nguyên vậtliệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy tối đa hiệu quả khi quốc gia
đó có trình độ văn hóa, sức khỏe và kỷ luật lao động tốt
Các quốc gia nghèo trên thế giới có tuổi thọ trung bình thấp (từ 57-58tuổi), trong khi đó ở các nước tiên tiến tuổi thọ trung bình là từ 72 - 75 tuổi
Do đó, phải có chương trình kiểm soát bệnh tật, nâng cao sức khỏe và đảmbảo dinh dưỡng để họ làm việc có năng suất cao hơn, đòi hỏi phải xây dựngbệnh viện, hệ thống bảo vệ sức khỏe, coi đó là những vốn xã hội có lợi íchsống còn chứ không phải là hàng xa xỉ phẩm
Ở các nước đang phát triển, số người lớn biết chữ chỉ chiếm từ 32 52% Do đó cần phải đầu tư cho việc xóa nạn mù chữ, trang bị cho con ngườinhững kỹ thuật mới trong nông nghiệp, công nghiệp; phải gửi những ngườithông minh ra nước ngoài để lấy kiến thức và kỹ thuật kinh doanh
-Phần lớn lực lượng lao động của các nước đang phát triển làm việctrong nông nghiệp chiếm 70% Do vậy, cần phải chú ý tới tình trạng thấtnghiệp trá hình - lãng phí trong sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, năngsuất lao động không cao; sản lượng sẽ không giảm nhiều khi lao động nôngthôn chuyển nhiều sang công nghiệp
b Về tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong việc phát tiển kinh
tế Nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển cũng có hạn, nhưng dân sốlại đông, điều này dẫn đến tài nguyên bình quân đầu người thấp Tài nguyênquan trọng nhất của các nước đang phát triển chính là đất nông nghiệp Dovậy, việc sử dụng đất đai có hiệu quả sẽ tác dụng làm tăng sản lượng quốcdân Muốn vậy phải có chế độ bảo vệ đất đai, canh tác hợp lý, thực hiện tưhữu hóa đất đại để kích thích chủ trại đầu tư cải tạo đất
Trang 7c Về cấu thành tư bản
Ở các nước đang phát triển, năng suất lao động thấp, chỉ đảm bảo chodân cư có mức sống tối thiểu, không có tiết kiệm Do đó không có vốn để pháttriển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng Để có tư bản các nước này phải đi vaynước ngoài Nhưng hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tưvào các nước nghèo vì môi trường đầu tư không thuận lợi như tình hình chínhtrị - xã hội không ổn định nên không đảm bảo an toàn cho vốn đầu tư, đồngthời các nước đang phát triển thường là những con nợ lớn và khả năng trả nợkém, thậm chí vỡ nợ Vì vậy, tự bản đối với các nước này là vấn đề nan giải
d Về kỹ thuật
Các nước đang phát triển có trình độ kỹ thuật thấp, lạc hậu, nhưng cólợi thế của người đi sau, có thể bắt chước được kỹ thuật và công nghệ tiên tiếncủa các nước đi trước thông qua con đường nhận chuyển giao công nghệ Đây
là con đường có hiệu quả để các nước đang phát triển nắm bắt được khoa họccông nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế của đất nước
Samuelson cho rằng các yếu tố này ở các nước đang phát triển đều khanhiếm nên việc kết hợp bốn yếu tố này gặp khó khăn trở ngại lớn và ở nhiềunước nghèo khó khăn lại càng tăng thêm trong “cái vòng luẩn quẩn” của sựnghèo khổ, có thể được biểu thị qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ cái vòng luẩn quẩn của các nước nghèo
Tiết kiệm và đầu tư thấp
Trang 8Để tăng trưởng và phát triển thì cần phải có “cú huých từ bên ngoài”nhằm phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” Tức là các quốc gia này cần có sự đầu tư
từ bên ngoài về về vốn, công nghệ, chuyên gia Vì vậy, các nước đang pháttriển cần phải có đầu tư nước ngoài, phải tạo điều kiện thuận lợi để kích thíchđầu tư nước ngoài nhằm vực dậy và phát triển nền kinh tế
1.3 Đánh giá về học thuyết
Học thuyết chỉ ra đặc điểm nền kinh tế phổ biến của các nước đang pháttriển, trong đó có Việt Nam, là các nguồn lực sản xuất bị khan hiếm Họcthuyết cũng chỉ ra, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,cần phải có những đánh giá chính xác nguồn lực của nước mình để có kếhoạch khai thác phát triển và sử dụng hợp lý, có hiệu quả cao
Học thuyết gợi mở một giải pháp cho sự tăng trưởng đối với các nướcđang phát triển là cần phải dựa vào đầu tư của các nước phát triển Trong điềukiện cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và xu hướng quốc tế hoá đờisống kinh tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc mở rộng kinh tế đối ngoại,tranh thủ các nguồn lực nhất là vốn và công nghệ của các nước đi trước là rấtcần thiết để một nước đang phát triển mở rộng sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu,thúc đẩy tăng trưởng, qua đó có điều kiện phá vỡ tình trạng nước nghèo Đó
có thể là cú huých về vốn đầu tư, về công nghệ, chuyên gia… Trong đó vốnđầu tư nước ngoài FDI được coi là cú huých giúp quốc gia chủ quản giảiquyết được vấn đề về đầu tư thấp thông qua chuyển giao vốn bằng tiền hoặctài sản khác vào nền kinh tế, thúc đẩy lượng tích lũy vốn tăng cao Áp dụngcông nghệ cao trong sản xuất, kinh doanh, quản lí,… giúp nâng chất lượngsản phẩm, đáp ứng nhu cầu không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu ra nướcngoài giúp tăng nguồn thu cho đất nước Giải quyết vấn đề việc làm, nâng caochất lượng tay nghề người lao động cũng là một “cú huých”, một động lựcgiúp thúc đẩy kinh tế tại các nước đang phát triển tiến bộ
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN FDI CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
Bài làm xem xét nền kinh tế Việt Nam trên 4 phương diện sau:
Về nhân lực, dân số Việt Nam tính đến 1/1/2022 là 98.565.478 người,
đa số sinh sống ở vùng nông thôn với tỉ lệ là 61,95 Độ tuổi trung bình ở ViệtNam là 33,3 tuổi, tuổi thọ trung bình mỗi người là 73,7 tuổi Theo báo cáonăm 2020, hơn 97% người Việt biết chữ Đó là kết quả của công cuộc vậnđộng xóa mù chữ của nhà nước trong những năm gần đây Song dù dân sốđông, tỉ lệ dân trong độ tuổi lao động cao nhưng lực lượng lao động tại ViệtNam nhìn chung về trình độ còn thấp, thiếu sự đầu tư cho chất xám Tư duylàm việc còn đóng khung, rập khuôn nên ít có sự sáng tạo, đổi mới Tỉ lệ laođộng có chuyên môn kĩ thuật bậc cao chỉ chiếm 8% (2020)
Về tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam vốn là nước có tài nguyên thiênnhiên dồi dào, tuy nhiên nguồn khoáng sản còn bị khai thác manh mún, nhỏ lẻ,trái phép; xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô; công nghệ khaithác, chế biến còn lạc hậu, chậm được đổi mới dẫn đến tổn thất, lãng phínguồn tài nguyên không tái tạo quan trọng này Bên cạnh đó, tài nguyên nướcchưa được khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu dẫn đến hiệu quả thấp; tìnhtrạng thiếu nước theo mùa, cục bộ theo vùng còn nghiêm trọng; diện tích chephủ của rừng có tăng nhưng chất lượng rừng giảm, rừng tự nhiên xuống cấpmạnh; nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, năng suất, hiệu quả khai thácthấp…
Về cấu thành tư bản, thu nhập bình quân của người dân Việt Nam năm
2021 là 4,2 triệu đồng/ tháng Đây là mức thu nhập tương đối thấp, một phần
do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Điều đó dẫn đến việc mức sống củangười dân chỉ được đảm bảo ở mức tối thiểu đến tương đối, không có tiết
Trang 10kiệm Dó đó không có vốn để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng Để tưbản cần phải đi vay nước ngoài
Về kĩ thuật, hiện nay Việt Nam đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên trình độ kĩ thuậtcòn thấp, chưa áp dụng được các thành tựu công nghệ cao vào sản xuất nênnăng suất còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc
tế, do đó bị hạn chế về đầu ra và ảnh hưởng đến vị thế của quốc gia trêntrường quốc tế
Từ những phân tích nêu trên có thể kết luận, Việt Nam những năm gầnđây có sự tăng trưởng và tiến bộ vượt bậc, song vẫn chưa đạt được những yếu
tố của một nước phát triển Như vậy, Việt Nam được xếp vào loại các quốc giađang phát triển cần một “cú huých” để thoát khỏi vòng luẩn quẩn tù túng màmình đang gặp phải mà cụ thể chính là nguồn vốn đầu tư FDI
2.2 Thực trạng thu hút vốn FDI tại Việt Nam
FDI (foreign direct investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật
Đầu tư Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu
tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia khác để
có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tếtại quốc gia này, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình
Với lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư thông thoáng, môi trườngchính trị ổn định, môi trường kinh tế vĩ mô phát triển ổn định, nguồn nhân lựcdồi dào với chi phí thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn vớinhà đầu tư nước ngoài Nhờ các lợi thế đó, dòng vốn FDI vào Việt Namnhững năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam thamgia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương
Bảng: Số lượng vốn và dự án FDI vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Năm Tổng vốn FDI đăng ký (Tỷ USD) Vốn FDI thực hiện (Tỷ USD) Số dự án đăng ký mới
Trang 11Giai đoạn từ năm 2010 - 2014 vốn FDI đăng ký có sự dao động liên tục
và tăng nhẹ từ 19,89 tỷ USD năm 2010 lên 21,92 tỷ USD vào năm 2014 Từsau năm 2015 tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ vàliên tục, với tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2015 là 22,7 tỷ USD, thì đếnnăm 2019 con số này tăng lên 38,95 tỷ USD
Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bịảnh hưởng nghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có
sự sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019
Theo: Cục đầu tư nước ngoài
Trang 12Theo Tổng cục thống kê, tính đến 20/9/2021 tổng FDI đăng ký vào ViệtNam tăng 4,4% so với cùng kỳ 2019 Trong 9 tháng đầu năm 2021, có 94 quốcgia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam Singapore là nước dẫn đầu vớitổng vốn 6,28 tỷ USD, chiếm 28,4%; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn
3,91 tỷ USD chiếm 17,7% Nhật Bản đứng thứ 3 đạt 3,27 tỷ USD, chiếm
14,7% Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Các nhà đầu tưnước ngoài này đã đầu tư vào 58 tỉnh, thành phố
Có thể thấy, giai đoạn 2010- 2020 Việt Nam đã đạt được những thànhtựu đáng kể trong việc thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế - xã hội Đảng vànhà nước cũng có các chủ trương tạo điều kiện, thu hút nguồn vốn đầu tư từnước ngoài vào Việt Nam Trong văn kiện đại hội XII của Đảng khẳng định:
“Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, có vai trò lớn trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ, phương thứcquản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu” Như vậy, vốn FDI chính làmột cú huých đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
2.3 Vai trò của vốn FDI trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
a FDI giúp tăng cường nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển kinh tế
Chính sách mở cửa cho FDI và thương mại của nước ta cho tới nay rõràng đã giúp đẩy mạnh việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, tham gia vàomạng lưới sản xuất khu vực và đa dạng hóa xuất khẩu Đồng thời, tạo ra sốlượng lớn việc làm cho một lực lượng dân số trẻ và đang gia tăng, từ đó cảithiện được nguồn thu của Nhà nước và cán cân thanh toán Thực tế cũng chothấy vốn FDI đã bắt đầu tạo ra những lợi ích gián tiếp đáng kể nhờ tạo hiệuứng lan toả sang những lĩnh vực khác của nền kinh tế, như giới thiệu các côngnghệ, bí quyết kinh doanh mới, các chuẩn mực quốc về sản xuất và dịch vụ,phát triển kỹ năng cho lực lượng lao động, cũng như tạo việc làm trong cácngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ