Việt Nam là một nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới và có tới 70% lực lượng lao động sống bằng nghề nông, vì vậy việc tìm hiểu thấu đáo các nguyên tắc và quy định trong Hiệp định N
Trang 2Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của WTO và
cam kết từ 11/1/2007 thực thi đầy đủ các nghĩa vụ của mình Hiệp
định Nông nghiệp WTO (AoA) gồm 13 phần, 21 điều khoản và 5
phụ lục, là một văn bản quan trọng quy định đầy đủ các hoạt động
có liên quan tới thương mại nông sản
Nhiều người đều biết sản xuất và thương mại nông sản tại
nhiều nước thành viên của WTO, nhất là các nước phát triển không
chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính chính trị và xã hội Do đó
các nước này có xu hướng bảo hộ cao cho sản xuất nông nghiệp
trong nước Hiệp định Nông nghiệp WTO ràng buộc các nước từng
bước cam kết cắt giảm bảo hộ và làm cho thương mại nông sản
công bằng hơn Việt Nam là một nước xuất khẩu nông sản lớn trên
thế giới và có tới 70% lực lượng lao động sống bằng nghề nông, vì
vậy việc tìm hiểu thấu đáo các nguyên tắc và quy định trong Hiệp
định Nông nghiệp WTO là hết sức cần thiết để một mặt xúc tiến tốt
hơn thương mại nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới và quan
trọng hơn là để tránh bị áp đặt những biện pháp hạn chế khả năng
tiếp cận thị trường đối với hàng nông sản của ta
Để giúp các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước ngành
nông nghiệp và PTNT, các doanh nghiệp và nhà sản xuất nông sản
thực phẩm hiểu cặn kẽ Hiệp định Nông nghiệp, qua đó vận dụng tốt
hơn Hiệp định này trong thực tế sản xuất và thương mại nông sản tại
thị trường trong nước và xuất khẩu, Vụ Hợp tác Quốc tế và Văn
phòng Hỗ trợ Quốc tế (ISG), Bộ Nông nghiệp và PTNT đã biên
soạn cuốn sách “Hỏi - Đáp về Hiệp định Nông nghiệp WTO”, trong
đó giải thích chi tiết nội dung các điều khoản của Hiệp định
TS Lê Văn Minh
Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế
Bộ Nông nghiệp và PTNT
vào nền kinh tế toàn cầu
Trang 3Lời nói đầu
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HS Hệ thống đánh số hài hoà hoá (Mã số HS - sử dụng
trong phân loại hàng hoá quốc tế để tính thuế xuất
nhập khẩu)
ISG Văn phòng Hỗ trợ Quốc tế (Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ
Nông nghiệp và PTNT)
S&D Quy định đối xử đặc biệt và khác biệt
SPS Hiệp định về Vệ sinh và Kiểm dịch động thực vật
SSG Biện pháp tự vệ đặc biệt
PHẦN I Hỏi - Đáp về Hiệp định Nông nghiệp WTO
Nông nghiệp là một lĩnh vực nhạy cảm trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước Vì một số lý do:
- Là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, và là lực lượng đáng kể tác động đến sự ổn định chính trị - xã hội của từng quốc gia
- Lĩnh vực sản xuất này chịu nhiều tác động từ thiên nhiên, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm
- Các nước đều cố gắng đảm bảo tự túc lương thực để không phải phụ thuộc và các nước khác về an ninh lương thực
- Các nước muốn thông qua nông nghiệp để bảo vệ “những giá trị không đếm được”, ví dụ như bảo vệ môi trường, bảo tồn cộng đồng và cảnh quan nông thôn
Do vậy hầu hết các nước đều có khuynh hướng bảo hộ nền sản xuất nông nghiệp của nước mình bằng cách dựng hàng rào thuế quan thật cao, đề ra những tiêu chuẩn khắt khe, đồng thời tăng cường trợ cấp cho nông dân trong nước Vì lẽ đó, nông sản thường
là loại hàng hoá gặp nhiều trở ngại nhất trong thương mại quốc tế và
là chủ đề của những cuộc tranh cãi quyết liệt tại các diễn đàn thương mại
Hiệp định AoA ra đời để cải cách thương mại nông sản và làm cho các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường hơn
Về dài hạn, Hiệp định nhằm nâng cao khả năng dự báo và an ninh cho các quốc gia nhập khẩu cũng như xuất khẩu
Câu hỏi 1:
Vì sao cần phải có Hiệp định Nông nghiệp (AoA) trong khuôn khổ WTO?
Trả lời:
Trang 5Hiệp định Nông nghiệp WTO được ban hành năm nào?
Mục tiêu và nội dung chính của Hiệp định là gì?
Hiệp định Nông nghiệp của WTO được thông qua tại thời
điểm kết thúc Vòng đàm phán Uruguay vào cuối năm 1994 Mục
tiêu của Hiệp định Nông nghiệp là nhằm cải cách thương mại nông
sản và làm cho các chính sách nông nghiệp có định hướng thị
trường hơn Về dài hạn, Hiệp định nhằm nâng cao khả năng dự báo
và an ninh cho các quốc gia nhập khẩu cũng như xuất khẩu
Mặc dù có cách hành văn khá phức tạp, nhưng nhìn chung
Hiệp định Nông nghiệp đề cập đến hai vấn đề chính:
- Mở cửa thị trường nông nghiệp: thuế quan hoá các biện pháp
phi thuế quan, cắt giảm và ràng buộc thuế quan đối với các mặt
hàng nông sản;
- Quy định về các khoản trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp trong nước
đối với nông sản
Hiệp định có quy định cụ thể đối với ngành nông nghiệp
trong các lĩnh vực mở cửa thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp
xuất khẩu Những lĩnh vực được coi là 3 trụ cột chính của Hiệp
định Theo nghĩa rộng các trụ cột này được định nghĩa như sau:
- Mở cửa thị trường: các hạn chế thương mại ảnh hưởng tới nhập
khẩu
- Hỗ trợ trong nước: trợ cấp trong nước và các chương trình khác,
bao gồm các biện pháp nhằm nâng hoặc đảm bảo giá sản xuất và
thu nhập của nông dân
- Trợ cấp xuất khẩu: các khoản trợ cấp được sử dụng để tạo khả
năng cạnh tranh giả tạo trong xuất khẩu
Tất cả các Hiệp định và Bản ghi nhớ của WTO về thương mại hàng hoá đều áp dụng cho nông nghiệp, bao gồm Hiệp định GATT 1994
và các Hiệp định WTO khác như Định giá hải quan, Thủ tục cấp phép nhập khẩu, Kiểm tra hàng trước khi vận chuyển, Biện pháp tự
vệ khẩn cấp, trợ cấp và các rào cản kỹ thuật trong thương mại Tuy nhiên, nếu xảy ra xung đột giữa các hiệp định và quy định này với Hiệp định Nông nghiệp thì các quy định của Hiệp định
Nông nghiệp sẽ được áp dụng Hiệp định WTO về Thương mại dịch vụ và về các khía cạnh thương mại liên quan đến Sở hữu trí tuệ cũng được áp dụng trong nông nghiệp
Mối quan hệ giữa Hiệp định Nông nghiệp với các Hiệp định khác của WTO?
Thời gian thực hiện các cam kết trong Hiệp định của các nước thành viên WTO có khác nhau không?
Trang 6Các mặt hàng từ Chương 1 đến chương 24 của biểu thuế
(HS) và một vài mặt hàng khác được coi là nông sản và chịu tác
động bởi các quy định của Hiệp định Nông nghiệp
Các mặt hàng nông sản cũng tạm thời được chia thành hai
nhóm: nông sản nhiệt đới (chủ yếu từ các nước đang phát triển, ví
dụ: chè, cà phê, ca cao, bông, chuối, xoài) và nông sản ôn đới (chủ
yếu từ các nước phát triển, ví dụ: lúa mỳ, ngô, thịt, sữa) Các nước
phát triển đã giảm dần thuế quan và xoá bỏ các biện pháp phi thuế
quan đối với nông sản nhiệt đới, nhưng vẫn duy trì bảo hộ cao đối
với nông sản ôn đới
Các nước kém phát triển không phải cam kết giảm thuế, hoặc cắt
giảm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Câu hỏi 5:
Các mặt hàng nào được coi là hàng nông sản và nằm trong
phạm vi điều tiết của Hiệp định?
Trả lời:
Hiệp định Nông nghiệp quy định thiết lập một Uỷ ban Nông nghiệp Uỷ ban này sẽ theo dõi việc thực hiện Hiệp định và tạo cơ hội cho các quốc gia thành viên tư vấn về các vấn đề liên quan đến thực thi cam kết, bao gồm cả các cam kết quy định chung Để đạt được mục tiêu này, Uỷ ban tổ chức họp thường xuyên 4 lần trong một năm Các cuộc họp đặc biệt sẽ được triệu tập nếu thấy cần thiết
Cơ quan nào giám sát việc thực hiện Hiệp định Nông nghiệp
và tạo điều kiện cho phép các nhà sản xuất trong nước có thể bán sản phẩm của họ với giá cao hơn
24%
14%
(*) AMS: Tổng hỗ trợ gộp (tham khảo thêm ở câu 23)
(**) Trị giá trợ cấp - % của tổng chi ngân sách cho trợ cấp; Số lượng trợ cấp: % của tổng lượng xuất
Khẩu được trợ cấp
Trang 7Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) đã tạo khung pháp
lý cho việc tăng cường mở cửa thị trường thông qua cắt giảm thuế,
chuyển đổi từ các biện pháp phi thuế sang bảo vệ bằng thuế quan
một cách minh bạch hơn (thuế hoá các biện pháp phi thuế) và áp
dụng hệ thống hạn nghạch thuế quan (TRQs)
Mở cửa thị trường trong nông nghiệp thể hiện ở các điểm:
- Bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan đang áp dụng đối với sản
phẩm nông nghiệp nhập khẩu
- Các nước được phép thuế hoá khi bãi bỏ các biện pháp phi thuế
quan, nhưng phải ràng buộc mức thuế sau khi đã thuế hoá
- Tiếp đó, các nước cũng phải cắt giảm dần mức thuế quan sau khi
đã thuế hoá Yêu cầu đặt ra là các nước phát triển phải cắt giảm ít
nhất 36% mức thuế trong vòng 6 năm, các nước đang phát triển
phải cắt giảm ít nhất 24% mức thuế trong vòng 10 năm (Tham
khảo thêm phần trả lời trong câu hỏi 4)
- Giảm trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước (Tham khảo thêm
phần trả lời trong câu hỏi 4)
ưu đãi trước đây, nước nhập khẩu với mức thuế suất trong hạn ngạch rất thấp, còn thuế suất ngoài hạn ngạch bằng thuế suất sau khi đã thuế quan hoá Mức hạn ngạch thuế quan này là căn cứ trên
số lượng hàng nông sản nhập khẩu được hưởng ưu đãi và gọi là mức cam kết hiện tại về mở cửa thị trường
Mức cam kết tối thiểu về mở cửa thị trường là thế nào?
Câu hỏi 10:
Trả lời:
Một số sản phẩm như sữa, thịt, rau quả trước đây đã từng được bảo hộ bằng những biện pháp ngặt nghèo đến mức các sản phẩm của nước ngoài gần như không thể nhập vào những nước có bảo hộ cao như vậy Hiệp định Nông nghiệp yêu cầu những nước này phải mở cửa thị trường cho nông sản nhập khẩu bằng cách dành hạn ngạch thuế quan ở mức ít nhất bằng 3% lượng tiêu thụ trong nước thời kỳ 1986-1988 Con số 3% này chính là mức cam kết tối thiểu về mở cửa thị trường nông sản Các nước phát triển phải tăng lên 5% vào cuối năm 2000, còn các nước đang phát triển thì thời hạn là 2004 Trong trường hợp này để đảm bảo giá trị của cam kết tối thiểu thuế suất trong hạn ngạch thường không được quá 1/3 thuế suất ngoài hạn ngạch
Trang 8Câu hỏi 11:
Cắt giảm thuế quan đối với hàng nông sản diễn ra như thế nào?
Trả lời:
Các nước phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi phải
cắt giảm thuế quan trung bình 36% trong thời gian 6 năm (tức là đến
ngày 1-1-2001) Thuế suất đối với mỗi sản phẩm phải ít giảm nhất
15%
Các nước đang phát triển phải cắt giảm thuế quan trung bình
24% trong thời gian 10 năm (tức là từ ngày 1-1-2005) Thuế suất đối
với mỗi sản phẩm phải giảm ít nhất 10%
Các nước kém phát triển không có nghĩa vụ phải giảm thuế
quan đối với hàng nông sản (Tham khảo thêm phần trả lời trong câu
Nhìn chung, việc ràng buộc thuế quan đối với hàng nông
sản cũng giống như hàng công nghiệp Tuy nhiên, thuế quan của tất
cả các mặt hàng nông sản đều phải ràng buộc, trong khi không phải
tất cả các mặt hàng công nghiệp đều phải làm như vậy
Trong bối cảnh hàng nông sản vốn là loại hàng nhạy cảm và
luôn luôn được bảo hộ cao thì việc ràng buộc thuế quan tất cả các
mặt hàng nông sản có một ý nghĩa lớn đối với tự do hoá thương mại
trong ngành nông nghiệp
Cam kết về hạn ngạch thuế quan được quy định trong Hiệp định như thế nào?
Câu hỏi 13:
Trả lời:
Bên cạnh việc thuế quan hoá các sản phẩm, các thành viên của WTO được yêu cầu duy trì cơ hội mở cửa nhập khẩu với mức tương đương với lượng hàng hoá nhập khẩu tính trên cơ sở giai đoạn 1986-1988 Nếu như việc mở cửa ở thời điểm hiện tại là thấp hơn 5% mức tiêu thụ trong nước đối với sản phẩm cần xem xét trong khoảng thời gian cơ sở, thì phải tạo (thêm) cơ hội tiếp cận thị trưởng tối thiểu trên nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) Điều này nhằm đảm bảo rằng trong năm 1995, tổng mức tiếp cận thị trường hiện tại và tối thiểu phải chiếm ít nhất 3% của mức tiêu thụ ở giai đoạn cơ sở và liên tục mở cho tới khi đạt 5% của mức tiêu thụ tương ứng trong năm 2000 (đối với các nước thành viên phát triển) hoặc
2004 (đối với các nước thành viên đang phát triển)
Cơ hội tiếp cận thị trường hiện tại và tối thiểu nhìn chung được thực thi dưới hình thức hạn ngạch thuế quan (TRQ) Trong trường hợp tiếp cận thị trường tối thiểu, mức thuế áp dụng phải ở mức thấp và tối thiểu, thấp ở mức thấp nhất có thể hoặc ít nhất là theo mức thuế quan thông thường áp dụng cho bất cứ hàng nhập khẩu nào ngoài hạn ngạch Những hạn ngạch thuế quan này, bao gồm mức thuế áp dụng và các điều kiện khác liên quan đến hạn ngạch thuế quan, được xác định cụ thể trong lộ trình của các nước thành viên WTO quan tâm
Trang 9Hạn ngạch thuế quan khác gì với hạn ngạch thông thường?
Câu hỏi 14:
Trả lời:
Như tên gọi của nó, hạn ngạch thuế quan là mức hạn ngạch
mà ở đó thuế quan có sự thay đổi Hạn ngạch chỉ ra một số lượng
mặt hàng nhất định, nhập khẩu dưới mức đó được hưởng thuế quan
ưu đãi (thuế trong hạn ngạch), còn nhập khẩu trên mức đó phải chịu
thuế suất thông thường hoặc thuế suất mang tính phân biệt đối xử
(thuế ngoài hạn ngạch)
Ví dụ: Việt Nam cam kết hạn ngạch thuế quan cho mặt hàng
đường là 55.000 tấn, thuế suất trong hạn ngạch là 25% (đường thô),
thuế suất ngoài hạn ngạch là 85% Như vậy, 55.000 tấn đường đầu
tiên nhập khẩu về sẽ được hưởng thuế suất 25% Từ tấn đường nhập
khẩu thứ 55.001 sẽ phải chịu thuế suất 85%
Các nước nhập khẩu nông sản có được phép áp dụng các biện
pháp phi quan thuế không?
Câu hỏi 15:
Trả lời:
Điều 4 khoản 2 của Hiệp định Nông nghiệp cấm sử dụng
các biện pháp phi thuế quan cụ thể trong nông nghiệp Các biện
pháp này bao gồm hạn chế số lượng nhập khẩu, thay đổi mức thuế
nhập khẩu, giá nhập khẩu tối thiểu, thủ tục cấp phép nhập khẩu tuỳ
ý, thoả thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện và các biện pháp phi thuế
quan được duy trì thông qua các doanh nghiệp thương mại quốc
Doanh Các biện pháp tương tự áp dụng với hàng nhập khẩu ngoài thuế quan thông thường cũng bị cấm không được sử dụng
Tuy nhiên, điều 4 khoản 2 của Hiệp định Nông nghiệp không cấm sử dụng các hạn chế nhập khẩu phi thuế quan phù hợp với các quy định của GATT hoặc các hiệp định WTO khác được áp dụng trong thương mại hàng hoá (công nghiệp hoặc nông nghiệp) Những biện pháp này bao gồm những biện pháp được duy trì theo quy định về cân bằng thanh toán (Điều XII và XVIII của Hiệp định GATT), các quy định về tự vệ (Điều XIX, GATT và các hiệp định WTO liên quan), các loại trừ chung (Điều XX, GATT), Hiệp định
về Áp dụng các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động và thực vật (SPS), Hiệp định về Rào cản kỹ thuật đối với thương mại và các quy định chung khác phi nông nghiệp của WTO
Trang 10Tự vệ đặc biệt là gì?
Câu hỏi 16:
Trả lời:
Các biện pháp tạm thời được đặt ra để giảm bớt nhập khẩu
nhằm giúp một ngành sản xuất nào đó tự điều chỉnh mình để thích
ứng với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các nhà sản xuất nước
ngoài gọi là Biện pháp tự vệ (Safeguard) Các Biện pháp tự vệ
thường được áp dụng cho hàng phi nông sản
Biện pháp tự vệ đặc biệt (Special Safeguard) là một cơ chế
trong Hiệp định Nông nghiệp dành cho các nước thành viên đã
chuyển các biện pháp phi thuế quan sang bảo hộ bằng thuế quan
Nó cho phép các nước thành viên đánh thuế bổ sung các sản phẩm
nông nghiệp nếu khối lượng hàng nông sản nhập khẩu vượt quá
mức độ cho phép hoặc giá cho phép Các biện pháp tự vệ đặc biệt do
đó tạo ra một cơ chế bảo đảm an toàn cho các nước nhập khẩu trong
trường hợp nhu cầu nhập khẩu gia tăng Các biện pháp tự vệ phải
được sử dụng một cách công khai
Khi nào phải thực hiện nghĩa vụ thông báo?
Các cam kết ràng buộc về thuế quan và hạn ngạch thuế quan trong nông nghiệp được nêu trong lộ trình của quốc gia thành viên WTO Không có quy định yêu cầu các nước thành viên phải thông báo mức thuế của họ đối với Uỷ ban Nông nghiệp Tuy nhiên, các loại thuế được áp dụng phải được đệ trình cho các cơ quan khác của WTO, bao gồm Uỷ ban mở cửa thị trường, và trong khuôn khổ cơ chế Giám sát chính sách thương mại
Các nước có quy định hạn ngạch thuế quan và quyền sử dụng quy định về tự vệ đặc biệt được yêu cầu thực hiện các thông báo tức thời và thường niên cho Uỷ ban Nông nghiệp Ngay khi bắt đầu giai đoạn thực hiện, phải có nghĩa vụ thông báo trước, trong đó nêu rõ cách thức quản lý hạn ngạch thuế quan Thông báo này phải trình bày rõ, ví dụ, nhập khẩu được thực hiện trên nguyên tắc “ai đến trước được hưởng trước” hay nếu sử dụng giấy phép nhập khẩu, cần có sự chỉ rõ ai là người có thể được cấp phép và chúng được phân bổ như thế nào Cần phải có thông báo tức thời nếu có bất kỳ thay đổi nào trong phương pháp phân bổ hạn ngạch Cuối mỗi năm, phải có thông báo lượng nhập khẩu trong khuôn khổ hạn ngạch thuế quan
Các quốc gia thành viên có quyền sử dụng các quy định về
tự vệ đặc biệt phải thông báo khi bắt đầu áp dụng nhằm cho phép các đối tác thương mại thiết lập được các tham số của hành động tự
vệ đặc biệt, như là số lượng hoặc giá cả được sử dụng để khởi tạo biện pháp tự vệ đặc biệt Trong trường hợp khống chế giá, cần có thông báo trước về mức giá tham chiếu Thêm vào đó, một thông báo tóm tắt thường niên về việc sử dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt cũng là bắt buộc
Câu hỏi 17:
Trả lời:
Trang 11Hỗ trợ trong nước là gì?
Câu hỏi 18:
Trả lời:
Hỗ trợ trong nước bao gồm các khoản hỗ trợ và trợ cấp của
Chính phủ cho nông dân Biện pháp hỗ trợ trong nước bóp méo
thương mại do các nước giàu áp dụng tác động tiêu cực đến lợi ích
xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển do chúng khuyến
khích sản xuất quá mức và làm mất giá nông sản trên thị trường thế
giới
Sau Vòng đàm phán Uruguay, các quy định cụ thể liên quan
tới trợ cấp trong nước đã được xây dựng để phân biệt giữa các biện
pháp trợ cấp bóp méo thương mại, với những biện pháp có tác động
ít hơn đến thương mại
Các nước điển hình sử dụng hỗ trợ trong nước như EU, Hoa
Kỳ, Nhật bản đã thông báo trong những năm gần đây mỗi nước có
mức độ hỗ trợ vào khoảng hàng chục tỉ USD Vì vậy, một trong
những nhiệm vụ đề ra cho vòng đàm phán Doha là giảm đáng kể các
biện pháp hỗ trợ trong nước bóp méo thương mại, và đưa ra các quy
định và các hạn chế phù hợp để ngăn các thành viên WTO không
tăng mức hỗ trợ, tạo ra bất ổn định và khó khăn cho nông dân ở các
đề thường là phức tạp hơn Hiệp định Nông nghiệp không có hộp
đỏ, hỗ trợ trong nước vượt quá mức và phải cam kết cắt giảm thì bị cấm và được đưa vào hộp hổ phách Hộp xanh nước biển dành cho các loại trợ cấp gắn với các chương trình hạn chế sản xuất Các nước đang phát triển cũng được hưởng một số ngoại lệ, thường được gọi là “đối xử đặc biệt và khác biệt” (S&D), như được quy định trong Điều 6 khoản 2 của Hiệp định)
HỖ TRỢ TRONG NƯỚC
Trang 12Thế nào là Hộp Hổ phách (Amber Box)?
Câu hỏi 20:
Trả lời:
Tất cả các biện pháp hỗ trợ trong nước được xem là bóp méo
sản xuất và thương mại (cũng có một số ngoại lệ) nằm trong hộp hổ
phách và được quy định trong Điều 6 của Hiệp định Nông nghiệp -
là toàn bộ các biện pháp hỗ trợ trong nước, ngoại trừ các biện pháp
thuộc hộp xanh nước biển và hộp xanh lá cây Chúng bao gồm các
biện pháp trợ giá, hoặc trợ cấp trực tiếp tới khối lượng sản xuất
Các hỗ trợ này là tuỳ thuộc vào mức hạn chế de minimis
(giới hạn), hỗ trợ tối thiểu được phép (5% đối với sản xuất nông
nghiệp ở các nước phát triển và 10% ở các nước đang phát triển)
Cam kết cắt giảm được đề cập trong thuật ngữ “Tổng gộp hỗ trợ ”
(Total AMS) bao gồm tất cả các hỗ trợ đối với các sản phẩm cụ thể,
cùng với những hỗ trợ mà không nhằm đến một sản phản cụ thể nào
Trong các phiên đàm phán gần đây, hàng loạt các đề xuất nhằm giải
quyết xem nên tiếp tục giảm bao nhiêu các trợ cấp này và liệu có
nên thiết lập các giới hạn đối với các sản phẩm cụ thể hay tiếp tục sử
dụng một giới hạn “tổng gộp” duy nhất Trong Hiệp định Nông
nghiệp, AMS được định nghĩa tại điều 1 và Phụ lục 3 và 4 (Tìm
hiểu thêm về AMS ở câu 23 và 24)
Thế nào là Hộp Xanh lơ (Blue Box)?
Câu hỏi 21:
Trả lời:
Đây là “Hộp hổ phách có điều kiện” Các điều kiện được thiết kế để hạn chế bóp méo thương mại Bất cứ một hỗ trợ được xác định nằm tại hộp hổ phách, đều được đều được đưa vào hộp xanh lơ nếu như các hỗ trợ này cũng đòi hỏi nông dân hạn chế sản xuất (các quy định cụ thể được ghi rõ trong khoản 5, Điều 6, Hiệp định Nông nghiệp)
Hiện tại, không có các giới hạn đối với chi trả trợ cấp trong hộp xanh lơ Trong các cuộc đàm phán hiện nay, một số quốc gia muốn giữ hộp xanh lơ không thay đổi vì họ coi nó là công cụ quan trọng để bãi bỏ các trợ cấp bóp méo thương mại trong hộp Hổ phách
mà không gây căng thẳng quá mức Một số quốc gia khác muốn
Trang 13Thế nào là Hộp Xanh lá cây (Green Box)?
Câu hỏi 22:
Trả lời:
Trợ cấp theo hộp xanh lá cây nhất thiết không được bóp méo
thương mại, hoặc chỉ bóp méo thương mại ở mức nhỏ nhất Chúng
phải được chi trả bởi Chính phủ (mà không bắt người tiêu dùng phải
trả một mức giá cao hơn) và phải không bao gồm hỗ trợ giá
Các hỗ trợ cấp này thường là các chương trình không nhắm
tới một sản phẩm cụ thể và bao gồm hỗ trợ thu nhập trực tiếp cho
nông dân không liên quan đến mức độ sản xuất và giá cả hiện tại
Các trợ cấp này bao gồm bảo vệ môi trường và các chương trình
phát triển vùng Trợ cấp theo “Hộp xanh lá cây” do đó được phép áp
dụng không giới hạn, với điều kiện chúng phù hợp với các tiêu
chuẩn cụ thể về chính sách được nêu ra trong Phụ lục 2
thiết lập những giới hạn hoặc cam kết cắt giảm, một số thì bảo vệ
việc chuyển các hỗ trợ này sang hộp hổ phách
Trang 14Tổng hỗ trợ gộp (AMS) là gì?
Câu hỏi 23:
Trả lời:
AMS là từ viết tắt tiếng Anh, hàm nghĩa “tổng hợp hỗ trợ
trong nước”, tức là tổng giá trị các trợ cấp hộp hổ phách Đây là
con số căn cứ để các nước đưa ra cam kết cắt giảm trợ cấp trong
nước Các nước phát triển phải giảm trợ cấp trong nước (hộp hổ
phách) trị giá ít nhất bằng 20% AMS trong thời gian 1995-2000,
các nước đang phát triển phải giảm ít nhất 13% AMS trong thời
AMS được tính toán bằng tổng của trợ cấp trong nước thuộc
diện cắt giảm dành cho từng mặt hàng nông sản cộng với số trợ cấp
chung không dành riêng cho một mặt hàng nào
AMS= trợ cấp mặt hàng A + trợ cấp mặt hàng B +…+ trợ
cấp chung
Chi tiết về cách xác định AMS được nêu trong Phụ lục 3 của
Hiệp định nông nghiệp
Hoa Kỳ và EU là hai ví dụ điển hình về trợ cấp xuất khẩu Xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu sẽ ngăn các quốc gia này không sử dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu nhằm giảm sản xuất dư thừa khỏi thị trường tiêu thụ trong nước và khuyến khích các nhà sản xuất hiệu quả hơn theo định hướng thị trường
Các biện pháp nào được coi là nhằm mục đích trợ cấp xuất khẩu?Câu hỏi 26:
Trả lời:
Theo quy định của Hiệp định Nông nghiệp, trợ cấp xuất khẩu được định nghĩa như là “các trợ cấp đặc trưng đối với hoạt động xuất khẩu, bao gồm các trợ cấp xuất khẩu liệt kê cụ thể trong Điều 9 của Hiệp định” Như được đề cập chi tiết trong Điều 9 Khoản 1 của Hiệp định, danh mục này bao gồm hầu hết các thực
Trang 15tiễn trợ cấp xuất khẩu phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp, điển
hình như:
- Trợ cấp xuất khẩu trực tiếp đặc trưng đối với hoạt động xuất
khẩu
- Bán các loại hàng nông sản tồn kho phi thương mại cho xuất
khẩu với giá thấp hơn mức giá so sánh của các sản phẩm đó
trong thị trường nội địa
- Các khoản trợ cấp tài chính cho nhà sản xuất như các chương
trình của Chính phủ có yêu cầu thu thuế trên các sản phẩm, sau
đó được dùng để trợ cấp xuất khẩu cho một phần nhất định của
sản phẩm đó
- Các biện pháp giảm chi phí khác như trợ cấp giảm chi phí tiếp
thị sản phẩm cho xuất khẩu, biện pháp này có thể bao gồm các
chi phí ví dụ như nâng cấp và quản lý, vận chuyển quốc tế
- Trợ cấp vận tải trong nước chỉ được áp dụng cho hàng xuất
khẩu, như các trợ cấp để vận chuyển các sản phẩm có thể xuất
khẩu được tới điểm gửi hàng, và
- Các trợ cấp được gắn với sản phẩm thô và chế biến, cụ thể các
trợ cấp đối với nông sản như bột mỳ, nguyên liệu để sản xuất
bánh quy xuất khẩu
Tất cả các khoản trợ cấp xuất khẩu này đều phải cam kết cắt
giảm cả về số lượng hàng xuất khẩu được trợ cấp và chi phí ngân
sách cho các trợ cấp này
Trang 16Câu hỏi 27:
Trả lời:
Trợ cấp xuất khẩu đối với hàng công nghiệp đã bị cấm theo quy
định của Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng Vậy
còn trợ cấp xuất khẩu cho hàng nông sản thì sao?
Tại một số nước, do chi phí sản xuất cho các mặt hàng nông
sản cao mà nhu cầu tiêu dùng trong nước lại đã đáp ứng đủ nên các
mặt hàng này phải tìm cách tiêu thụ ở thị trường bên ngoài, và
chúng chỉ có thể xuất khẩu được khi có trợ cấp của chính phủ EU,
Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Ba Lan, Mêhicô, Phần Lan, Thuỵ Điển, Canađa
từng là những nước đã sử dụng trợ cấp xuất khẩu cho hàng nông
sản
Hiệp định nông nghiệp không yêu cầu các nước xoá bỏ
ngay trợ cấp xuất khẩu cho hàng nông sản, nhưng buộc các nước
phải giảm mức độ trợ cấp cả về mặt giá trị cũng như số lượng mặt
hàng được trợ cấp Các nước phát triển phải cam kết giảm ít nhất
36% (riêng Niu Dilân bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu), các nước
đang phát triển phải cam kết giảm ít nhất là 24%
và chi phí ngân sách tương ứng cho các trợ cấp xuất khẩu ở mức 36% Đối với các thành viên đang phát triển, mức cắt giảm được yêu cầu là 14% trong thời gian 10 năm có đối với số lượng, và 24% trong khoảng thời gian tương tự đối với chi phí ngân sách
Các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện có thể tận dụng quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt trong Hiệp định (Điều 9 Khoản 4), quy định này cho phép các nước này trợ cấp chi phí tiếp thị và vận chuyển nội địa với điều kiện là các chi phí này không được áp dụng theo cách ngầm phá hỏng các cam kết cắt giảm trợ cấp
Trả lời:
Trang 17Có ngoại lệ về cắt giảm trợ cấp xuất khẩu nào đối với hàng nông
sản không?
Câu hỏi 29:
Trả lời:
Hiệp định Nông nghiệp cấm sử dụng Điều 9 khoản 1 về các
khoản trợ cấp xuất khẩu đối với bất cứ nông sản nào mà không phải
là đối tượng cam kết cắt giảm như được quy định trong lộ trình của
nước thành viên đó (ngoại trừ, trong quá trình thực hiện, giai đoạn
mà trong đó đang được hưởng thụ đối xử đặc biệt và khác biệt)
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp trong thương mại nông sản,
cơ chế giải quyết như thế nào?
Câu hỏi 30:
Trả lời:
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến các quy
định của Hiệp định Nông nghiệp, các thủ tục chung về giải quyết
tranh chấp của WTO được áp dụng Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy
định một số cơ chế nhất định có thể được các nước thành viên sử
dụng để giải quyết các quan ngại của họ mà không nhất thiết phải sử
dụng các thủ tục đó Cụ thể, quá trình xem xét của Ủy ban Nông
nghiệp tạo ra một diễn đàn cho thảo luận và tư vấn Quá trình này
chủ yếu dựa trên việc thông báo và quy định tại Điều 18 Khoản 6
cho phép bất cứ một nước thành viên nào đưa ra một vấn đề tại bất
cứ thời điểm nào liên quan đến việc thực hiện các cam kết theo
chương trình cải cách đã được vạch ra trong Hiệp định Ngoài ra
cũng có một quy định về phản hồi thông báo Ngoài ra, thủ tục làm
việc của Uỷ ban Nông nghiệp cho phép các nước thành viên yêu cầu Chủ tịch làm trung gian đối với những vấn đề có thể xảy ra giữa các nước đó Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ dưới sự bảo trợ của Uỷ ban Nông nghiệp không ngăn bất cứ một thành viên nào trong việc tìm kiếm giải quyết tranh chấp một cách chính thức tại mọi thời điểm
Trang 18PHẦN II Hiệp định Nông nghiệp WTO (AoA)
HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP (AoA)
Các Thành viên,
Quyết định thiết lập cơ sở cho việc tiến hành quá trình cải
cách thương mại trong nông nghiệp phù hợp với mục tiêu đàm phán
đã được đề ra trong Tuyên bố Punta del Este;
Ý thức rằng mục tiêu dài hạn như đã được thống nhất tại
Phiên Rà soát Giữa kỳ củaVòng Uruguay là "thiết lập một hệ thống
thương mại nông nghiệp công bằng và định hướng thị trường, và
quá trình cải cách cần được tiến hành thông qua việc đàm phán cam
kết về trợ cấp và bảo hộ và thông qua việc thiết lập những luật lệ và
quy tắc chặt chẽ và thực thi có hiệu quả hơn của GATT ";
Ý thức thêm rằng "mục tiêu dài hạn trên đây là nhằm giảm
đáng kể và nhanh chóng trợ cấp và bảo hộ nông nghiệp liên tục
trong một khoảng thời gian được thoả thuận, nhằm hiệu chỉnh và
ngăn chặn những hạn chế và bóp méo thương mại trên thị trường
nông sản thế giới";
Cam kết đạt được những cam kết ràng buộc cụ thể trong
từng lĩnh vực sau đây: tiếp cận thị trường; hỗ trợ trong nước; cạnh
tranh xuất khẩu; và đạt được một hiệp định về các vấn đề vệ sinh
dịch tễ và kiểm dịch động, thực vật;
Nhất trí rằng trong khi thực hiện các cam kết tiếp cận thị
trường, các Thành viên phát triển sẽ xem xét đầy đủ đến các nhu cầu
và điều kiện cụ thể của các Thành viên đang phát triển bằng cách cải
thiện hơn nữa các cơ hội và điều kiện tiếp cận thị trường cho những
nông sản có lợi ích đặc biệt của các Thành viên này, kể cả tự do hoá
hoàn toàn thương mại nông sản nhiệt đới, như đã thống nhất tại Phiên Rà soát Giữa kỳ, và cho những sản phẩm có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đa dạng hoá sản xuất để tránh việc trồng các cây thuốc gây nghiện không hợp pháp;
Ghi nhận rằng các cam kết trong chương trình cải cách cần
phải đạt được một cách bình đẳng giữa tất cả các Thành viên, có xem xét đến các yếu tố phi thương mại, kể cả an ninh lương thực và nhu cầu bảo vệ môi trường, có xem xét đến thoả thuận rằng đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển là yếu tố không tách rời trong đàm phán, và có tính đến các hậu quả tiêu cực
có thể có của việc thực hiện chương trình cải cách đối với các nước kém phát triển và các nước đang phát triển chủ yếu nhập lương thực;
Dưới đây thoả thuận như sau:
PHẦN 1
Điều I
Định nghĩa các thuật ngữ
Trong Hiệp định này, trừ khi phạm vi có yêu cầu khác:
(a) "Lượng hỗ trợ tính gộp" và "AMS" có nghĩa là mức hố trợ
hàng năm tính bằng tiền cho một sản phẩm nông nghiệp dành cho các nhà sản xuất một loại sản phẩm cơ bản, hoặc là mức hỗ trợ không cho một sản phẩm cụ thể dành cho các nhà sản xuất nông nghiệp nói chung, khác với hỗ trợ theo các chương trình có đủ tiêu chuẩn được miễn trừ cắt giảm tại Phụ lục 2 của Hiệp định này, bao gồm:
(i) Hỗ trợ trong giai đoạn cơ sở nêu cụ thể tại các bảng
tài liệu hỗ trợ liên quan được hợp thành và dẫn chiếu tại Phần IV Danh mục của một Thành viên; và
Trang 19(ii) Hỗ trợ được cung cấp trong bất kỳ năm nào trong
giai đoạn thực hiện và các năm sau đó được tính toán phù hợp với quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định này và có tính đến số liệu hợp thành và phương pháp được sử dụng tại các bảng hỗ trợ liên quan được dẫn chiếu tại Phần IV của Danh mục của một Thành viên,
(b) "Sản phẩm nông nghiệp cơ bản" có liên quan đến các cam
kết về hỗ trợ trong nước được định nghĩa là sản phẩm gần
nhất với điểm bán đầu tiên được nêu cụ thể tại Danh mục
của một Thành viên và tài liệu hỗ trợ có liên quan;
(c) "Chi tiêu ngân sách" hoặc "chi tiêu" bao gồm các khoản
đáng lẽ phải thu ngân sách nhưng lại bỏ qua.;
(d) "Lượng hỗ trợ tương đương" có nghĩa là mức hỗ trợ hàng
năm tính bằng tiền dành cho các nhà sản xuất một sản phẩm
nông nghiệp cơ bản thông qua việc áp dụng một hoặc nhiều
biện pháp mà mức trợ cấp này không thể tính được theo
phương pháp AMS, khác với trợ cấp trong các chương trình
có đủ tiêu chuẩn được miễn trừ cắt giảm tại Phụ lục 2 của
Hiệp định này, bao gồm :
(i) Hỗ trợ được cung cấp trong giai đoạn cơ sở nêu cụ
thể tại các bảng tài liệu hỗ trợ liên quan được hợp thành và dẫn chiếu tại Phần IV của Danh mục của một Thành viên; và
(ii) Hỗ trợ được cung cấp trong bất kỳ năm nào trong
giai đoạn thực hiện và các năm sau đó được tính toán phù hợp với quy định tại Phụ lục 4 của Hiệp định này và có tính đến số liệu hợp thành và phương pháp được sử dụng tại các bảng hỗ trợ liên quan được dẫn chiếu tại Phần IV của Danh mục của một Thành viên;
(e) "Trợ cấp xuất khẩu" là những trợ cấp dựa trên kết quả
thực hiện xuất khẩu, kể cả các loại trợ cấp xuất khẩu
trong danh mục tại Điều 9 của Hiệp định này;
(f) "Giai đoạn thực hiện" có nghĩa là giai đoạn 6 năm kể từ năm
1995, ngoại trừ, vì mục đích của Điều 13, là giai đoạn 9 năm
kể từ năm 1995;
(g) “Các nhượng bộ tiếp cận thị trường” bao gồm toàn bộ các
cam kết tiếp cận thị trường được thực hiện theo Hiệp định này;
(h) "Tổng lượng hỗ trợ tính gộp" và "Tổng AMS " có nghĩa là
tổng tất cả hỗ trợ trong nước dành cho các nhà sản xuất nông nghiệp, được tính bằng tổng lượng hỗ trợ tính gộp cho các sản phẩm nông nghiệp cơ bản, tổng lượng hỗ trợ tính gộp không cho các sản phẩm cụ thể và tổng lượng hỗ trợ tương đương cho sản phẩm nông nghiệp, và bao gồm:
(i) Hỗ trợ được cung cấp trong giai đoạn cơ sở (gọi là
Tổng AMS cơ sở) và hỗ trợ tối đa được phép cung cấp tại bất kỳ năm nào trong giai đoạn thực hiện và sau đó (gọi là”các mức cam kết cuối cùng và hàng năm”), như quy định tại Phần IV của Danh mục của một Thành viên; và
(ii) Mức hỗ trợ thực tế tại bất kỳ năm nào trong giai
đoạn thực hiện và sau đó (gọi là "Tổng AMS hiện hành"); được tính theo quy định của Hiệp định này,
kể cả Điều 6, và với số liệu hợp thành và phương pháp sử dụng tại các bảng hỗ trợ trong tài liệu được dẫn chiếu tại Phần IV trong Danh mục của một Thành viên;
(i) "Năm" tại khoản (f) trên đây và có liên quan đến các
cam kết cụ thể của một Thành viên là năm dương lịch, tài chính hoặc năm tiếp thị được quy định tại Danh mục liên quan đến Thành viên đó