1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf

48 404 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Chủ Trương Và Biện Pháp Mới Trong Giai Đoạn 2006-2010 Về Công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá Nông Nghiệp Và Nông Thôn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị kinh tế
Thể loại Báo cáo, Tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 591,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHẬN THỨC MỚI VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN TỪ NHỮNG CHUYỂN BIẾN VÀI THẬP KỶ VỪA QUA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp lu

Trang 1

NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN

MỤC LỤC

I NHẬN THỨC MỚI VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN TỪ NHỮNG CHUYỂN BIẾN VÀI THẬP KỶ VỪA QUA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2 Những yếu kém và những vấn đề cần giải quyết

III NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI NHẰM ĐẨY NHANH CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010

1 Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững

2 Phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn

3 Phát triển các ngành, nghề phi nông nghiệp trong kinh tế nông thôn

4 Xây dựng đời sống văn hoá- xã hội mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc ở nông thôn

KẾT LUẬN

Trang 2

I NHẬN THỨC MỚI VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN TỪ NHỮNG CHUYỂN BIẾN VÀI THẬP KỶ VỪA QUA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữ một vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội, nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu( khi ngoại thương phát triển) Bước vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái,… nông nghiệp được dự báo là vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy Trong thế kỷ XX, nông nghiệp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, phát triển từ giai đoạn sản xuất nông nghiệp truyền thống sang giai đoạn hiện đại hoá nông nghiệp, nhờ vậy kinh tế nông thôn và đời sống của người dân nông thôn cũng có nhiều chuyển biến Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh chóng của những xu thế lớn trên thế giới, như cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những sự thay đổi

Ở Việt Nam chúng ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, những thành tựu của

20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,… đã góp phần làm thay đổi nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân Phần này trình bày khái quát những nhận thức mới trên thế giới

và ở Việt Nam

1 Trên thế giới

Nhìn lại quá trình hiện đại hoá nông nghiệp thế giới trong thế kỷ XX, có thể thấy nổi lên ba đặc điểm cơ bản: (1) hiện đại hoá công cụ sản xuất nông nghiệp, có nghĩa là sử dụng một cách rộng rãi thiết bị cơ giới để thay thế sức người, gia súc và công cụ sản xuất truyền thống; (2) hiện đại hoá kỹ thuật sản xuất, có nghĩa là ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; và (3) hiện đại hoá phương thức sản xuất, có nghĩa là chuyển nông nghiệp từ sản xuất cá thể tự cung tự cấp sang sản xuất xã hội quy mô lớn, có tính chuyên nghiệp hoá cao Những đặc điểm này đã chi phối nhận thức của con người về phát triển nông nghiệp trong phần lớn thời gian của thế kỷ XX Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1980, cùng với sự hình thành và tiến triển nhanh chóng của nhiều xu thế mới trên thế giới, nhận thức của con người về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những thay đổi

Trang 3

- Thứ nhất, sự ra đời và phát triển của quan điểm “Phát triển bền vững” đã

làm nổi rõ vai trò của môi trường sinh thái trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, hình thành nên quan niệm “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” (SARD) Khái niệm “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” lần đầu tiên được đưa ra

ở Hội nghị về Nông nghiệp và Môi trường của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) tại Hertogenbosch năm 1991 Khái niệm này đã được khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro năm 1992 trong Chương 14 của Chương trình Nghị sự 21, và tiếp tục được tái khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002

Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là một quá trình đa chiều, bao gồm: (1) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến người tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (2) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; và (3) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng Quan niệm về phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đã có ảnh hưởng đến các cách thực hành trong nông nghiệp Các cách thực hành này phải đảm bảo tính chất bền vững,

có nghĩa là phải đáp ứng đồng thời ba mục tiêu: (1) bền vững về sinh thái; (2) lợi ích

về kinh tế; và (3) lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng

Trong số ba mục tiêu nêu trên, mục tiêu bền vững về sinh thái được coi là rất mới Để đạt được mục tiêu này, các chủ thể canh tác nông nghiệp phải đồng thời thực hiện quản lý đất bền vững, quản lý sâu bệnh bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học Trong nông nghiệp, đa dạng sinh học được coi là nền tảng cơ bản của hệ thống canh tác, nó bao gồm nhiều dạng tài nguyên sinh học như:

+ Tài nguyên di truyền- vật liệu sống cơ bản cho sinh vật

+ Thực vật và các loại cây trồng nông nghiệp: các giống bản địa, giống hiện đại (bao gồm giống lai và giống tạo bằng vật liệu di truyền công nghệ sinh học)

+ Các sinh vật sống trong đất có ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất, cấu trúc

và chất lượng đất

+ Các công trình xuất hiện tự nhiên, vi khuẩn, nấm có khả năng kiểm soát côn trùng và bệnh hại đối với động vật, thực vật bản địa

Trang 4

+ Các dạng và thành phần hệ sinh thái nông nghiệp (đa canh/độc canh, quy

mô lớn hay nhỏ, thuộc dạng có tưới nước hay nhờ nước mưa,…) không thể thiếu đối với chu kỳ dinh dưỡng, tính ổn định và sức sản xuất

+ Nguồn tài nguyên “hoang dại” (loài và đơn vị loài/giống) của nơi cư trú tự nhiên có thể phục vụ nông nghiệp, thí dụ như côn trùng và tính ổn định của hệ sinh thái

Xét theo nghĩa rộng, đa dạng sinh học nông nghiệp không chỉ gồm tập hợp loài rộng lớn mà còn gồm nhiều phương thức nông dân có thể dựa vào để khai thác

sự đa dạng sinh học trong sản xuất và quản lý cây trồng, đất, nước, côn trùng và các sinh vật khác Ở nhiều quốc gia, đã có những đề xuất phải đánh giá hiện trạng của đa dạng sinh học, làm cơ sở xây dựng các chiến lược quốc gia nhằm bảo vệ và sử dụng bền vững đa dạng sinh học và đưa các chiến lược này trở thành một bộ phận của các chiến lược tổng thể phát triển quốc gia

Cùng với nông nghiệp, phát triển nông thôn bền vững đang trở thành chủ đề ngày càng được các quốc gia quan tâm Phát triển nông thôn là lĩnh vực đa ngành, đặt trong mối quan hệ phức tạp giữa xã hội, tài nguyên thiên nhiên và môi trường bền vững Nhận thức phổ biến trên thế giới cho rằng, để đạt được sự phát triển nông thôn bền vững, cần đảm bảo người dân nông thôn có phương kế sinh sống bền vững

và được sống trong hệ sinh thái lành mạnh Phát triển nông nghiệp bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển nông thôn bền vững Quan niệm “Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững” xứng đáng được đặt ở vị trí trọng tâm trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia đang phát triển Hơn nữa, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giúp các quốc gia sớm đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), bởi vì nó

có mối liên kết chặt chẽ với các mục tiêu này, cụ thể là xoá đói giảm nghèo và bảo

vệ môi trường (Sơ đồ 1)

Trang 5

Sơ đồ 1 Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững (SARD) với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, do Liên Hiệp Quốc nêu ra

(MDG)

Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững (SARD)

nguyên thiên nhiên

Xoá đói giảm nghèo ( MDG)

Bền vững môi trường ( MDG)

- Thứ hai, cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đã có

tác động sâu rộng đến nông nghiệp Công nghệ sinh học ngày nay có một nội dung rất quan trọng là sử dụng các kiến thức truyền thống và công nghệ hiện đại nhằm làm thay đổi vật chất gien trong thực vật, động vật, vi sinh vật và tạo ra các sản phẩm mới Trong vài thập kỷ vừa qua, việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ sinh học

đã từng bước làm cho nông nghiệp có sự nhảy vọt về chất Cụ thể, việc ứng dụng công nghệ sinh học được thể hiện ở những điểm chính sau đây:

+ Kỹ thuật tạp giao vô tính: dùng kỹ thuật biến tính hiện có tạo ra những sinh vật kiểu mới hoặc lấy những đặc tính tốt của nhiều sinh vật khác nhau kết hợp làm một, định hướng cải biến di truyền

+ Sinh vật cố định đạm: thông qua việc tìm hiểu về gien cố định đạm có thể cấy trực tiếp gien vào DNA của cây trồng, từ đó làm cho bản thân cây trồng có thể

tự gom được đạm để giảm bớt lượng phân bón hoá học, hạn chế được ô nhiễm môi trường

+ Dùng chất kích thích sinh trưởng: sử dụng kỹ thuật DNA để sản xuất chất kích thích không có tính hoá học và vô hại, có thể dùng để nâng cao sản lượng, chất lượng và có thể thúc đẩy hay kéo dài thời gian sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi

+ Tác dụng quang hợp: tạo ra chất hữu cơ quan trọng của cây trồng, do vậy nâng cao hiệu suất quang hợp dẫn đến năng suất cây trồng có thể tăng lên

Trang 6

+ Phòng và chữa trị bằng sinh học: chế tạo ra thuốc diệt trùng, diệt cỏ thiên nhiên bảo đảm an toàn cho người sử dụng thuộc cũng như người tiêu thụ sản phẩm

Những lợi ích của việc ứng dụng công nghệ trong sinh học là rõ ràng Bên cạnh việc nâng cao năng suất sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra nhiều sản phẩm mới, công nghệ sinh học còn đáp ứng các cơ hội mới về quan hệ đối tác toàn cầu giữa những nước phát triển có tiềm lực công nghệ mạnh và những nước đang phát triển giàu tài nguyên sinh vật nhưng thiếu vốn và kiến thức để khai tác các tài nguyên đó Tuy vậy, công nghệ sinh học cũng gây ra những thách thức đối với phát triển nông nghiệp bền vững Sự ra đời của các sản phẩm biến đổi gien, trong đó

có các sinh vật biến đổi gien (GMO), là nguyên nhân làm dấy lên các cuộc tranh cãi dai dẳng về việc ứng dụng loại công nghệ mới này Những vấn đề được nhiều người quan tâm là ảnh hưởng của các sản phẩm biến đổi gien đến sức khoẻ con người, tác động của việc ứng dụng công nghệ sinh học đến môi trường sinh thái, vấn đề đạo đức gắn liền với các sinh vật biến đổi gien, v.v Vì vậy, nhiều người cho rằng, việc

áp dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là một xu hướng hiện hữu trong thế

kỷ XXI, tuy nhiên người dân phải nhận thức được rõ những lợi ích và những rủi ro của công nghệ sinh học Đây là một yêu cầu không thể thiếu theo đúng những nguyên tắc đã được thoả thuận trên tầm quốc tế về việc đánh giá rủi ro và quản lý mọi khía cạnh của công nghệ sinh học

- Thứ ba, trong xu thế phát triển mạnh của kinh tế thị trường và công nghiệp

hoá, đô thị hoá, hiện đại hoá, nhận thức về kinh tế nông thôn đã có những thay đổi Quan niệm về nông thôn truyền thống rằng “nông thôn là một xã hội được tổ chức trên nền tảng sản xuất nông nghiệp và dân cư của nó là những người làm ruộng” đã dần dần được thay thế bằng những quan niệm mới Trên tầm quốc tế, hiện nay, quan niệm về nông thôn là không đồng nhất giữa các quốc gia, tuy nhiên có một số nét chung sau đây:

+ Nông thôn thường bao quát, trải dài theo không gian và thời gian của một quốc gia; nó gắn liền với lịch sử phát triển của quốc gia đó

+ Nông thôn là nơi sinh sống, hoạt động của những người chủ yếu làm nghề nông, tức là nông dân

+ Nông thôn luôn có sự phân tán và không đồng đều giữa các vùng

+ Kết cấu hạ tầng vùng nông thôn thường kém hơn so với đô thị

+ Hoạt động sản xuất đặc trưng và tiêu biểu ở vùng nông thôn là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn

Trang 7

+ Nông thôn có bản sắc văn hoá, có truyền thống, có quan hệ xã hội mang tính đặc thù của cộng đồng theo phong tục của từng dân tộc, theo thiết chế của các dòng họ, luôn được xác định và lưu giữ lâu dài

Về kinh tế nông thôn, bên cạnh nông nghiệp, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành, nghề phi nông nghiệp như tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đáng chú ý là ở nhiều vùng nông thôn, nông nghiệp chỉ còn chiếm bộ phận nhỏ trong nền kinh tế và cảnh quan các nơi đó không khác nhiều so với cảnh quan đô thị

Do vậy, phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt xã hội, văn hoá ở các vùng nông thôn ngày nay đã thay đổi căn bản so với nông thôn truyền thống Trong bối cảnh đó, đã hình thành mối quan hệ gắn kết giữa phần nông nghiệp và phần phi nông nghiệp ở nông thôn, và mối quan hệ này ngày càng được tính đến trong các chiến lược, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn của các quốc gia Ở nhiều nước, “Bộ Nông nghiệp” đã được chuyển thành “Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn”, hay nói chung hơn, “nông nghiệp” và “nông thôn” đã thành hai nội dung không thể tách rời trong quá trình hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển của các quốc gia có liên quan đến nông nghiệp và nông thôn

- Thứ tư, sự đa dạng hoá các ngành, nghề của kinh tế nông thôn như nêu trên

đây đã dẫn tới sự đa dạng hoá nghề nghiệp của những người dân nông thôn Số người dân nông thôn không làm nông nghiệp ngày càng tăng cả về số lượng tuyệt đối và về tỷ trọng trong dân số nông thôn Quá trình dịch chuyển lao động này là tất yếu và chắc chắn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới Vượt ra ngoài phạm trù kinh tế, hiện tượng này làm nảy sinh các vấn đề cần lưu tâm về cơ cấu dân cư, cơ cấu xã hội, các mối quan hệ xã hội, đời sống xã hội, văn hoá ở nông thôn Xét ở khía cạnh khác, sự hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau ở nông thôn có ảnh hưởng đáng kể đến tính đại diện của các chủ thể xã hội nông thôn trong việc ra quyết định, thực hiện và kiểm tra thực hiện quyết định Điều này đã khuyến khích sự tham gia của người dân nông thôn vào việc hoạch định và thực thi các kế hoạch, chương trình, chính sách phát triển, góp phần làm cho “cách tiếp cận có sự tham gia” (PA) dần dần trở thành một thông lệ ngày càng phổ biến trên phạm vi toàn thế giới

2 Ở Việt Nam

Sau 20 năm đổi mới, bối cảnh kinh tế, xã hội của đất nước ta đã có những thay đổi rất to lớn Quá trình đổi mới đã được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, và cho đến nay, nông nghiệp, nông thôn vẫn là một trong những trọng tâm của đổi mới Điều rất đáng chú ý là hiện nay nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có nhiều thay đổi rõ rệt so với trước đây Sự thay đổi này có thể

Trang 8

được coi là một sự đổi mới, phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội mới của đất nước

và những xu hướng chuyển biến trên tầm quốc tế như đã nêu trong phần I.1

- Thứ nhất, về tầm quan trọng và ý nghĩa của CNH, HĐH nông nghiệp và

nông thôn:

Nghị quyết 5 Trung ương khoá IX1 đã vạch ra rằng một nhận thức về vai trò,

vị trí của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chưa đầy đủ và chưa sâu sắc Đây là nguyên nhân chủ quan, có ảnh hưởng lớn đến các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn ở nước ta trong nhiều năm kể từ sau khi đổi mới Khắc phục khiếm khuyết về nhận thức này, Nghị quyết Trung ương 5 đã khẳng định quan

điểm: “Coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn

bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn”2 Đây là nhận thức làm cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới

- Thứ hai, về phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững:

Quan điểm phát triển bền vững ngày càng trở nên thịnh hành trên phạm vi toàn thế giới Ở nước ta, những cột trụ cơ bản của phát triển bền vững đang được các cơ quan hoạch định chính sách quan tâm, và chúng được tính toán để đưa vào hệ thống các chính sách phát triển kinh tế- xã hội trong thời gian tới Trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Nghị quyết 5 Trung ương khoá IX đã khẳng định quan

điểm: “Ưu tiên bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững… Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất

và văn hoá của người dân nông thôn;… giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục”3 Quan điểm phát triển bền vững được đề cập ngày càng nhiều trong các tài liệu nghiên cứu của những nhà nghiên cứu về chủ đề này Nhìn chung, các nhà nghiên cứu cho rằng phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là đòi hỏi đương nhiên và khả năng hiện thực, ở nước ta nó là một nhân tố then chốt để có thể đạt được các mục tiêu tổng thể về phát triển kinh tế- xã hội bền vững

1 Nghị quyết 5 Trung ương khoá IX về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010, được Ban Chấp hành Trung ương thông qua ngày 18/3/2002.

2 Đảng CSVN (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 94.

3 Đảng CSVN (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 94, 95.

Trang 9

- Thứ ba, về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong nông

nghiệp và kinh tế nông thôn:

Đảng ta đã khẳng định chủ trương “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá

độ lên CNXH Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn là thành tố không thể tách rời trong mô hình tổng quát đó Tuy nhiên, cũng giống như mô hình tổng quát, nhiều vấn đề liên quan đến phát triển kinh

tế thị trường định hướng XHCN trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn chưa thực

sự được làm sáng rõ Cơ chế thị trường đã hiển hiện rõ nét ở hầu khắp các vùng, miền trên cả nước, thậm chí, trong chừng mực nào đó, thị trường nông sản hiện là một trong những thị trường có tính cạnh tranh cao nhất Nhưng trên thực tế, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và phát triển các loại thị trường ở các khu vực nông thôn đã gặp nhiều rào cản Người dân nông thôn phải đối mặt với không ít vấn

đề bức xúc về kinh tế và xã hội Trong bối cảnh đó, nhu cầu làm sáng tỏ những vấn

đề liên quan đến phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong nông nghiệp

và kinh tế nông thôn ở nước ta là hết sức cấp bách, trong đó cần chỉ ra những nét đặc thù và những nét khác biệt tương đối so với mô hình phát triển chung

- Thứ tư, về chế độ sở hữu và hình thức sở hữu trong nông nghiệp và kinh tế

quyết 5 của Trung ương khoá IX khẳng định quan điểm: “Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn”4 Sự đổi mới nhận thức đã mở đường cho sự ra đời của hàng loạt các chính sách đổi mới nông-lâm trường quốc doanh, các HTX nông nghiệp, và chính sách

4 Đảng CSVN (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 94, 95.

Trang 10

khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp dân doanh và kinh tế hộ ở nông thôn Chúng ta cũng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ liên kết giữa các loại hình tổ chức sản xuất- kinh doanh trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản Một số kinh nghiệm thành công gần đây về sự liên kết giữa người nông dân, người nuôi trồng, đánh bắt thuỷ- hải sản với các doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu, hoặc mô hình liên kết giữa ba nhà (nhà nông- nhà doanh nghiệp- nhà khoa học), đã gợi ra rằng mối quan hệ liên kết giữa các thành phần kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn là một xu hướng ưu trội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

- Thứ năm, về quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn:

Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, công tác quy hoạch phát triển kinh tế-

xã hội nói chung, quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm Trong những năm qua, ngành nông nghiệp, nông thôn đã xây dựng quy hoạch các vùng kinh tế nông nghiệp, quy hoạch các ngành hàng chủ lực như lúa, ngô, cà phê, cao su, chè, rau hoa quả, điều, mía đường, chăn nuôi bò sữa, v.v Công tác quy hoạch đã góp phần tích cực cho việc hoạch định và thực hiện kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn ở các vùng, các tỉnh, làm căn cứ cho việc xây dựng các dự án đầu tư, hợp tác quốc tế, kêu gọi đầu tư, đồng thời góp phần hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn theo hướng CNH, HĐH Tuy vậy, công tác quy hoạch nông nghiệp, nông thôn thời gian qua còn bộc lộ những nhược điểm, trong đó nổi lên vấn đề nhận thức chưa đầy đủ, chưa thống nhất của các cấp, các ngành đối với công tác này Do vậy,

đã dẫn đến tình trạng thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, giữa các địa phương trong việc quản lý, chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy hoạch, làm giảm hiệu quả và hiệu lực của công tác quy hoạch Một vấn đề đáng quan tâm nữa là công tác quy hoạch các khu dân cư, làng, xã, thị trấn ở nông thôn chưa được chú trọng đủ mức

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quy hoạch, Nghị quyết 5 của Trung ương khoá IX đã đặt giải pháp về công tác quy hoạch ở vị trí đầu tiên trong hệ thống giải pháp nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ 2001-

2010 Nghị quyết khẳng định: “Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và thị trường;… Chú trọng làm tốt quy hoạch những vùng sản xuất hàng hoá tập trung (cây, con, sản phẩm, ngành nghề…); quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã

Trang 11

hội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây dựng làng, xã, thị trấn; gắn kết chặt chẽ với an ninh- quốc phòng, phòng chống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”5

- Thứ sáu, về xây dựng đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân

nông thôn:

Ở nước ta, việc nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân nông thôn đã luôn luôn được coi là mục tiêu then chốt của các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn Ngay từ trước đổi mới, Đảng ta đã nhận thấy sự cần thiết phải nâng cao thu nhập của nông dân Việc ban hành và thực hiện Chỉ thị 100 CT/TW đã cải thiện một bước quan hệ phân phối, khuyến khích lợi ích vật chất của người nông dân nhờ có phần thu nhập vượt khoán Trong hơn hai thập

kỷ qua, sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn phát triển đã có tác động rất rõ rệt đến đời sống vật chất của người dân nông thôn

Trong lĩnh vực văn hoá và tinh thần, sự đổi mới nhận thức thể hiện rõ nét ở chỗ chúng ta đã thừa nhận vai trò quan trọng của gia đình, dòng tộc và cộng đồng trong hoạt động quản lý xã hội Việc người dân được trao quyền rộng rãi hơn trong các hoạt động kinh tế, xã hội đã trở thành một xu thế phổ biến Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và các biện pháp cải cách hành chính đã tạo cơ hội cho người dân tham gia kiểm soát hoạt động nhà nước, quản lý xã hội và phát triển cộng đồng, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo của người dân nông thôn, đánh thức ý thức trách nhiệm và lòng tự hào của cá nhân và cộng đồng trong việc quản lý và làm chủ quê hương Đây là cơ sở rất quan trọng để người dân nông thôn đa dạng hoá và nâng cao đời sống văn hoá và tinh thần của mình

Hiện nay, việc xây dựng đời sống văn hoá- xã hội của người dân nông thôn được coi là một trong những chủ trương lớn của công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp

và nông thôn Nghị quyết 5 của Trung ương khoá IV khẳng định chủ trương: “Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, xã văn hoá, phục hồi và phát triển văn hoá truyền thống, phát huy tình làng, nghĩa xóm, sự giúp đỡ và hỗ trợ nhau phát triển trong cộng đồng dân cư nông thôn Nâng cao chất lượng, hiệu quả các thiết chế văn hoá, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ và phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân Phát triển công tác thông tin đại chúng và các hoạt động văn hoá, khuyến khích động viên những

5 Đảng CSVN (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 105.

Trang 12

tư, tín dụng, thị trường và các lĩnh vực đặc thù của nông nghiệp, nông thôn như khuyến nông, xóa đói giảm nghèo, v.v Tính đến nay, sau 20 năm đổi mới, nước ta

đã ban hành và thực hiện một hệ thống chính sách tương đối đồng bộ Ở mức độ khái quát, có thể kể ra những chính sách chủ yếu sau đây: (1) Chính sách ruộng đất; (2) Chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn; (3) Chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; (4) Chính sách tín dụng nông thôn; (5) Chính sách thị trường, giá cả và tỷ giá hối đoái; (6) Chính sách khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; (7) Chính sách xuất, nhập khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế và bảo trợ sản xuất; (8) Chính sách khuyến nông; (9) Chính sách việc làm và đào tạo nguồn nhân lực; (10) Chính sách xoá đói giảm nghèo; và (11) Chính sách về môi trường

Hiện nay, ở nước ta, việc đổi mới chính sách vẫn được coi là nhân tố then chốt để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Do những thay đổi của bối cảnh mới, tầm quan trọng tương đối của mỗi chính sách trong cả hệ thống có thể thay đổi Nội dung các chính sách có thể được bổ sung, hoặc có thể được tách ra từ

bộ phận của các chính sách nêu trên đây để trở thành các chính sách độc lập Chẳng hạn, bên cạnh chính sách ruộng đất, cần bổ sung chính sách mặt nước nuôi trồng thuỷ sản; hoặc chính sách đầu tư cần được phân chia thành các chính sách cụ thể hơn, trong đó có chính sách phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; hoặc chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng cần được phân chia thành các chính sách cụ thể hơn, trong đó có chính sách phát triển ngành nghề nông thôn; hoặc

6 Đảng CSVN (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 104.

Trang 13

cần bổ sung thêm những nội dung của phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững vào các chính sách hiện hành, v.v Đây là những nội dung đang được các cơ quan chức năng nghiên cứu, phục vụ cho việc xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010

II THỰC TRẠNG HIỆN NAY CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN VIỆT NAM

Dưới ánh sáng của những nhận thức mới được nêu trên đây, những đổi mới, cải cách về luật pháp, chính sách và hoạt động điều hành của Nhà nước đã được thực hiện Sau 20 năm, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có những bước phát triển lớn, đời sống của người dân nông thôn đã có những đổi thay rõ rệt Hiện nay là thời điểm thích hợp để đánh giá một cách toàn diện những hệ quả quan trọng của 20 năm đổi mới ấy Phần này trình bày một số nét đánh giá khái quát, đặc biệt chú trọng đến những nội dung của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

1 Những thành tựu

1.1 Thành tựu tăng trưởng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Thành tích rất ấn tượng của ngành nông nghiệp nước ta trong nhiều năm qua

là ngành đã đạt và duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục Tính bình quân trong thời kỳ 1990-2004, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm ngành nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) đạt 3,9%/năm (Hình 1) Đây là thành tích ấn tượng bởi lẽ trên thế giới rất ít nước có thể đạt và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong một thời kỳ dài như vậy

Trang 14

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản,

1990-2004 (tính theo giá so sánh năm 1994)

Đơn vị: %

1 2.18

6.88

3.28 3.37

4.8 4.4 4.33

3.53

5.23 4.63

2.79

4.25 3.19 3.5

an ninh lương thực quốc gia Đây là cơ sở vững chắc để nước ta tiến nhanh hơn trên con đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Hình 2 Sản lượng lương thực bình quân đầu người, 1995-2004

Trang 15

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trong nền nông nghiệp, đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn với tỷ trọng sản phẩm hàng hoá và xuất khẩu đạt cao, hình thành các mối liên kết giữa sản xuất- chế biến- tiêu thụ và xuất khẩu hàng hoá nông sản7 Bên cạnh đó, thị trường đối với hàng hoá nông nghiệp và ở các vùng nông thôn đã phát triển mạnh, thúc đẩy việc nâng cao năng suất và chất lượng của sản xuất, sản phẩm Đây là những yếu tố rất quan trọng tạo động lực cho phát triển nông nghiệp phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, góp phần định hình con đường CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn nước ta trong những năm qua và những năm tới

1.2 Thành tựu ứng dụng khoa học và công nghệ vào nông nghiệp

Thành tựu ứng dụng khoa học và công nghệ đã góp phần tạo ra sự chuyển biến về chất của nền nông nghiệp nước ta Nó không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất, sản phẩm, thúc đẩy sản xuất hàng hoá, mà còn góp phần đưa nền nông nghiệp tiến gần tới cách tiếp cận phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững Riêng trong giai đoạn 2001-2005, tổng kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp của cả nước là 1.008 tỷ đồng (trong đó đã đầu tư cho 3 phòng thí nghiệm trọng điểm chuyên nghiên cứu về công nghệ tế bào thực vật và công nghệ tế bào động vật), với sự tham gia nghiên cứu của 7.286 nhà khoa học (trong đó có 508 tiến sĩ, 815 thạc sĩ, 3.116 kỹ sư)8 Các nhà khoa học tính toán rằng việc ứng dụng khoa học và công nghệ đã làm tăng khoảng 30% giá trị của ngành nông nghiệp

Những thành tựu khoa học và công nghệ được tạo ra và ứng dụng rộng rãi trong những năm qua tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu sau đây: cơ cấu mùa vụ; cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi; các giống mới có năng suất cao, thích hợp với các điều kiện sinh thái, chống dịch bệnh; các giống lai; các biện pháp bảo vệ thực vật; các công nghệ tưới tiêu; phương thức canh tác; các công thức thức ăn; vắc-xin phòng bệnh; quy trình nuôi dưỡng; công nghệ sau thu hoạch; (Hộp 1) Đặc biệt, công nghệ sinh học đã được nghiên cứu và ứng dụng ngày càng sâu rộng trong nông nghiệp, mở ra triển vọng phát triển tốt trong tương lai Các nhà khoa học nhận định rằng, nếu thực hiện tốt việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, trong vòng 10-20 năm nữa, Việt Nam sẽ có đủ năng lực về con người và thiết bị để làm chủ được công nghệ sinh học hiện đại

7 Đến nay, trong nông nghiệp nước ta, đã hình thành 15 vùng sản xuất nông sản hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu, bao gồm: 2 vùng sản xuất lúa gạo, 2 vùng cao su, 2 vùng cà phê, 1 vùng trồng điều,

1 vùng mía đường, 1 vùng trồng tiêu, 2 vùng chè, 1 vùng cây ăn quả, 1 vùng chăn nuôi bò sữa và 1 vùng nuôi trồng thuỷ sản.

8 Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 144 (21/7/2005), tr 6.

Trang 16

Hộp 1 Thành tựu ứng dụng khoa học và công nghệ trong một số

lĩnh vực nông nghiệp

Trong giai đoạn 1996-2004, các nhà khoa học Việt Nam đã tuyển chọn, tạo được 345 giống cây trồng nông nghiệp mới, trong đó có 149 giống lúa, 44 giống ngô, 14 giống lạc, v.v Tính riêng trong hai năm 2003-2004, các giống cây trồng do các nhà khoa học Việt Nam tạo và sử dụng trong sản xuất chiếm tỷ

lệ diện tích như sau: lúa 45,1% (Đồng bằng Sông Cửu Long 72%); ngô 46,6%; lạc 70,1%; v.v

Cùng với giống, biện pháp canh tác tổng hợp đã được ứng dụng có hiệu quả: ứng dụng công nghệ hạt giống trong hệ thống sản xuất 4 cấp; kỹ thuật thâm canh lúa 3 giảm-3 tăng (giảm giống gieo, phân bón, thuốc trừ sâu và tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả) đã được phát triển thành công trên diện rộng ở Đồng bằng Sông Cửu Long, tăng thu nhập bình quân 1 triệu đồng/ha/vụ; kỹ thuật quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây ăn quả, cây công nghiệp,… đã làm giảm lượng thuốc trừ sâu 2-6 lần, giảm chi phí sản xuất 1,5 triệu đồng/ha/vụ; v.v

Trong lĩnh vực chăn nuôi, việc ứng dụng phương thức chăn nuôi công nghiệp, bán công nghiệp đã nâng tỷ trọng chăn nuôi trong toàn ngành nông nghiệp tăng từ 17,9% năm 1986 lên 20% năm 2004

Trong lĩnh vực thuỷ nông, các nhà khoa học Việt Nam đã hoàn thành luận cứ khoa học áp dụng cho công tác quy hoạch thuỷ lợi, tính cân bằng, bảo

vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước cho 7 vùng sinh thái, đảm bảo tưới cho 7,1 triệu ha lúa, hơn 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, tiêu úng cho 1,71 triệu

ha đất nông nghiệp, cấp 5 tỷ m3 nước/năm cho sinh hoạt và nông nghiệp Nhiều thành tựu cũng đạt được trong lĩnh vực cải tạo đất với việc cải tạo thau chua, rửa mặn cho 1 triệu ha đất phèn ở Đồng bằng Sông Cửu Long thành đất hai vụ lúa năng suất cao, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, tưới nhỏ giọt cho cây vùng đồi góp phần đưa năng suất lúa, cây ăn quả, cây công nghiệp tăng khoảng 1,2- 1,5 lần lại tiết kiệm 70% lượng nước tưới

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 144 (21/7/2005), tr 6

Một bước phát triển đáng chú ý nữa là sự hình thành các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta Đến nay, đã có một khu nông nghiệp công nghệ cao hoàn thành và đi vào hoạt động ở Hà Nội, hai khu đang trong quá trình triển khai xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng; và các địa phương khác như Lâm Đồng, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Dương, Sơn La, Bạc Liêu, Hưng Yên,

Trang 17

Thái Bình, Đồng Nai, Tây Ninh,… cũng đã có kế hoạch xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao Đây là những khu sản xuất nông nghiệp sử dụng công nghệ gien để sản xuất giống cây trồng vật nuôi, sử dụng kỹ thuật tự động hoá, công nghệ thông tin để điều khiển các quá trình sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi Khu nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội đi vào hoạt động từ tháng 9/2004 và cho đến nay được đánh giá là mang lại hiệu quả cao thực sự Mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được coi là một phương thức sản xuất mới và là xu thế tất yếu để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, nhất là ở những vùng đồng bằng và ven đô thị

1.3 Thành tựu phát triển các thành phần kinh tế ở nông thôn

Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên chế độ đa sở hữu

ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đã khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế ở nông thôn Sự phát triền này đã có hệ quả sâu rộng và to lớn đến nhiều lĩnh vực, đáng chú ý là: sự phát triển các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh ở nông thôn; sự phát triển các ngành, nghề ở nông thôn; sự phát triển của sản xuất hàng hoá quy mô lớn ở nông thôn; sự phát triển thị trường ở nông thôn; v.v

- Sự phát triển các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh ở nông thôn:

Bên cạnh các loại hình tổ chức sản xuất- kinh doanh vốn đã có từ thời kỳ trước đổi mới như doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp, nông-lâm trường quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp, thì nông thôn ngày nay đã chứng kiến sự nổi lên của một loạt các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh năng động khác như doanh nghiệp dân doanh, trang trại, hộ kinh tế, và kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, các DNNN, nông-lâm trường quốc doanh và HTX nông nghiệp đang trong quá trình cải cách mạnh mẽ để phù hợp với cơ chế mới, cho nên số lượng

đã giảm đi đáng kể so với trước đổi mới HTX, sau một thời gian sụt giảm mạnh hồi đầu những năm 1990, đã bắt đầu hồi phục kể từ khi nước ta thực hiện Luật Hợp tác

xã9 Đến nay, cả nước có khoảng 10 nghìn HTX cùng hàng nghìn tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn Sự phát triển của các HTX đã đáp ứng tốt nhu cầu liên kết, hợp tác của các chủ thể kinh tế nhỏ lẻ ở nông thôn trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường

Kinh tế trang trại là hình thức đặc trưng của kinh tế nông thôn Kể từ khi đổi mới, sau một thời gian phát triển tương đối mang tính tự phát, kinh tế trang trại nước

ta đã từng bước đi vào quỹ đạo phát triển thích hợp Đặc biệt, từ sau khi có Nghị

9 Luật Hợp tác xã được ban hành năm 1996, có hiệu lực từ ngày 1/1/1997, và được sửa đổi năm 2003.

Trang 18

quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, các trang trại đã gia tăng nhanh về số lượng, mở rộng về quy mô và bước đầu thể hiện tính chuyên môn hoá Theo ước tính, hiện nay cả nước có khoảng 72 nghìn trang trại (tăng 11 nghìn trang trại so với năm 2001), huy động tổng vốn đầu tư (không tính giá trị đất) đạt hơn 11,5 nghìn tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 370 nghìn lao động Trong nền kinh tế thị trường nước ta, kinh tế trang trại được coi là điểm tựa để phát triển kinh tế hàng hóa trên quy mô lớn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, mặt nước, tạo việc làm, đem lại cách làm mới, phá bỏ cách làm nhỏ lẻ, phát triển thị trường ở nông thôn

Bên cạnh các loại hình nêu trên, đặc biệt, kinh tế nông thôn Việt Nam càng sinh động bởi sự phát triển của các doanh nghiệp dân doanh, phản ánh rõ nét sự hiện diện của cơ chế thị trường Các doanh nghiệp dân doanh nông thôn tăng khá nhanh sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, và tính đến cuối năm 2004 trên toàn quốc có khoảng 15.600 doanh nghiệp nông thôn (chiếm khoảng 10% tổng số doanh nghiệp dân doanh của cả nước) Trong số đó, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 57%, công ty TNHH chiếm 37,5% và công ty cổ phần chiếm 5,5% Đây là một tín hiệu mới về việc nông dân đã nắm bắt được chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp hàng hoá và kinh tế nông thôn trên quy mô lớn Sự phát triển của các doanh nghiệp nông thôn được coi là động lực mới của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và tạo việc làm cho người lao động

Những chủ thể nêu trên đây cùng với khoảng 1,5 triệu hộ kinh doanh nông thôn đang trong quá trình vận động, có cạnh tranh và hợp tác, hướng tới một cơ cấu ngày càng có hiệu quả Theo xu hướng vận động này, các trang trại nông thôn và doanh nghiệp dân doanh nông thôn được dự báo sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng Nông trường Sông Hậu được đánh giá là một mô hình điển hình của mối liên

hệ vận động theo xu hướng này (Hộp 2)

Hộp 2 Nông trường Sông Hậu: một điển hình về chuyển đổi cơ cấu kinh tế

nông nghiệp

Kể từ năm 1996, Nông trường Sông Hậu bắt đầu bước vào giai đoạn đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông trường theo hướng CNH, HĐH Một trong những ưu tiên hàng đầu là Nông trường thực hiện hỗ trợ, liên kết với các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau để thực hiện “xã hội hoá sản xuất hàng xuất khẩu” trên phạm vi rộng nhằm tạo nguồn hàng lớn cho xã hội, tạo thêm sức mạnh trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Trang 19

Theo hướng đó, trong thời gian qua, Nông trường đã thực hiện hỗ trợ các

mô hình kinh tế trong nông nghiệp, thúc đẩy các thành phần kinh tế sản xuất nguyên liệu lớn, tạo nguồn cho chế biến xuất khẩu, đó là:

- Phát triển kinh tế hộ: Hỗ trợ các bà con trong Nông trường với việc giải

quyết 4 mâu thuẫn cơ bản trong sản xuất nông nghiệp hiện nay: cung cấp tiến

bộ khoa học và công nghệ; cung cấp đủ vốn sản xuất cho bà con nông trường viên; bảo hiểm giá nông sản; và bao tiêu sản phẩm

- Hỗ trợ kinh tế hợp tác: Nông trường hỗ trợ kinh tế địa phương về lĩnh

vực nông nghiệp như: các chương trình đê bao khép kín, giống cây trồng và vật nuôi; chương trình hỗ trợ HTX phát triển bằng các biện pháp như đầu tư giống mới, đầu tư phân bón trả chậm, hướng dẫn áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất (thí dụ, bón phân theo bảng so màu lá, hỗ trợ máy gieo lúa theo hàng…)

- Liên kết với các trang trại: Hỗ trợ về định hướng sản xuất, tiến bộ về

quản lý, về khoa học và công nghệ cũng như các thông tin; từng bước triển khai liên kết khai thác nguyên liệu, sản phẩm từ các trang trại để chế biến xuất khẩu

- Liên kết với các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Hỗ trợ kinh nghiệm, kỹ thuật

chế biến các sản phẩm nông nghiệp và Nông trường chịu trách nhiệm khâu tiêu thụ đầu ra

Nguồn: Chuyên đề Nông nghiệp, số 1/2004, Bộ Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn, có tại: http://www.agroviet.gov.vn

- Sự phát triển ngành, nghề ở nông thôn:

Sự phát triển của các loại hình tổ chức sản xuất- kinh doanh ở nông thôn đã thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành, nghề phi nông nghiệp ở nông thôn Bên cạnh

sự ra đời của các ngành, nghề mới là sự khôi phục của các ngành, nghề truyền thống gắn liền với sự hồi phục của nhiều làng nghề truyền thống trong cơ chế thị trường Theo thống kê, hiện nay cả nước có hơn 1.400 làng nghề, trong đó hai phần ba là làng nghề truyền thống có từ hàng trăm năm nay, bao gồm hàng triệu cơ sở sản xuất với nhiều loại hình tổ chức sản xuất từ hộ gia đình đến tổ sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp, thu hút khoảng 11 triệu lao động Các làng nghề truyền thống thuộc ba nhóm sản xuất chính là nhóm chế biến hàng nông lâm sản chiếm 27%, nhóm tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 33% và nhóm sản xuất và dịch

vụ khác chiếm 40%

Trang 20

Đặc biệt, những doanh nghiệp nông thôn thành lập theo Luật Doanh nghiệp

có xu hướng rõ rệt nghiêng về việc lựa chọn các ngành, nghề phi nông nghiệp, nhất

là công nghiệp Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông-lâm nghiệp và thuỷ sản trong tổng số doanh nghiệp nông thôn của cả nước đã giảm mạnh từ 13,2% năm 2000 xuống còn 5,2% năm 2003, trong khi tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đã tăng tương ứng từ 40,5% lên 49,0% (Hình 3)

Hình 3 Tỷ trọng doanh nghiệp nông thôn phân theo ngành, nghề tại thời điểm

xã viên và phát triển các ngành khác Đồng thời, đã xuất hiện ngày càng nhiều các trang trại hoạt động kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, sản xuất với chế biến và kinh doanh tổng hợp; có thể nói, hình thức hoạt động này chính là xu hướng phát triển của kinh tế trang trại trong tương lai

- Sự phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn ở nông thôn:

Đối với sản xuất nông nghiệp, bên cạnh các điều kiện về tự nhiên, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau là nhân tố

Trang 21

then chốt thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các vùng hàng hoá tập trung Những tổ chức sản xuất, kinh doanh quy mô lớn thường tập trung nhiều ở các vùng sản xuất hàng hoá lớn Điều này được thể hiện rõ bởi sự phân bố các trang trại ở nước ta, cụ thề là: (1) các trang trại thuỷ sản tập trung phát triển ở khu vực đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long; (2) các trang trại trồng cây lâu năm như cà phê, cao su, cây ăn quả tập trung ở những vùng

có khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp như miền Đông Nam Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên; và (3) các trang trại chăn nuôi tập trung nơi có thị trường tiêu thụ mạnh như đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ Sự phát triển của các cơ sở chế biến và tiêu thụ nông sản (bao gồm cả DNNN, doanh nghiệp dân doanh, HTX, hộ cá thể,…) cũng gắn liền với các vùng sản xuất hàng hoá tập trung Đây là yếu tố quan trọng giúp cho một số sản phẩm nông sản Việt Nam chiếm lĩnh thị trường thế giới

Đối với các ngành, nghề phi nông nghiệp, sự phát triển của các doanh nghiệp dân doanh nông thôn, các HTX, các hộ kinh tế cá thể đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển các khu, các cụm công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp Đặc biệt, ở những địa phương có nhiều làng nghề, việc tập trung các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các cụm công nghiệp làng nghề đang được coi là một hướng đi thích hợp Hiện nay, nhiều địa phương đã triển khai xây dựng hoặc có quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung, như Hà Nội (5 cụm), Bắc Ninh (18 cụm), Nam Định (13 cụm), Hà Tây (80 cụm), v.v Việc hình thành các khu, các cụm như vậy với nhiều chính sách thuận lợi sẽ thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá quy mô lớn ở nông thôn, đồng thời góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội, nhất là về môi trường

- Sự phát triển thị trường ở nông thôn:

Sự phát triển thị trường ở nông thôn trước tiên được đánh dấu bởi xu hướng sút giảm nhanh chóng tình trạng tự cung, tự cấp của kinh tế nông thôn Tỷ trọng hàng hoá trong nông nghiệp không ngừng tăng nhanh và hiện nay đạt khoảng hơn 50%, trong đó có một số sản phẩm xuất khẩu đạt tỷ trọng cao hơn 90% như cà phê, hạt điều, hạt tiêu,… Thị trường hàng nông sản hiện nay được đánh giá là một trong những thị trường có mức độ cạnh tranh cao nhất Bên cạnh thị trường sản phẩm đầu

ra, các thị trường yếu tố đầu vào cũng được thúc đẩy mạnh mẽ Sự phát triển của các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành, nghề, gắn với sản xuất hàng hoá quy mô lớn đã kích thích nhu cầu giao dịch các yếu tố đầu vào, như vốn, đất đai, lao động, khoa học và công nghệ, v.v Nhờ vậy, các loại thị trường như thị trường

Trang 22

vốn, bất động sản, lao động, khoa học và công nghệ, v.v đã hiện diện ngày càng rõ

nét ở nông thôn

Xét ở khía cạnh khác, nông thôn Việt Nam với sự tập trung sinh sống của hơn

70% dân số cả nước là một thị trường khổng lồ đối với nhiều loại hàng hoá và dịch

vụ Sự hình thành các chợ, các điểm thương mại nông thôn, các thị trấn, thị tứ đã

góp phần nâng cao trình độ phát triển của thị trường nông thôn Nhiều doanh nghiệp

hướng tới nông thôn như một thị trường trọng điểm của mình Các quá trình nêu trên

cùng với quá trình đô thị hoá đã góp phần làm thay đổi kinh tế nông thôn Việt Nam

theo hướng CNH, HĐH

1.4 Thành tựu cải thiện đời sống của người dân nông thôn

Nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển đã có tác động rất tích cực đến

đời sống của người dân nông thôn Thu nhập bình quân của một hộ dân nông thôn

đã tăng từ 7,7 triệu đồng/hộ năm 1993 lên 16,9 triệu đồng/hộ năm 2004, gắn liền với

đó là sự cải thiện đáng kể về điều kiện ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh,

hưởng thụ văn hoá (Bảng 1) Tỷ lệ nghèo đói của nước ta đã giảm mạnh từ 58,1%

năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002, có nghĩa là nước ta đã hoàn thành sớm hơn

so với kế hoạch toàn cầu “giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015” mà Liên hợp

quốc đề ra Đây là một thành tựu được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao, nhất là so

với một số nước trong khu vực và trên thế giới

Bảng 1 Sự cải thiện về điều kiện kết cấu hạ tầng ở các xã nông thôn

Trang 23

Kết cấu hạ tầng được cải thiện một mặt thể hiện sự gia tăng chất lượng cuộc sống, mặt khác nó trở thành điều kiện then chốt để thúc đẩy kinh tế- xã hội nông thôn phát triển Cùng với đời sống về vật chất, đời sống tinh thần của người dân nông thôn trong những năm qua cũng được cải thiện rất rõ rệt Tại mọi miền làng quê, các truyền thống văn hoá dân tộc được tìm lại và phát huy Đình làng, miếu mạo được tu bổ; gia phả, nhà thờ các dòng họ được tôn tạo; các hoạt động lễ hội, tôn giáo khởi sắc Các tập tục, hương ước được nghiên cứu và cải tiến cho phù hợp và bước đầu phát huy tác dụng tham gia điều chỉnh đời sống xã hội nông thôn Các đoàn thể quần chúng nhất là Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, v.v từng bước xác định được vai trò thiết thực của mình trong đời sống làng xã Ngày càng có nhiều làng, xã trở thành làng, xã văn hoá, có kinh tế phát triển, môi trường sinh thái trong lành, đời sống văn hoá phong phú Song song với những cải thiện về kinh tế, đời sống chính trị ở nông thôn trở nên dân chủ và tự do hơn; trình độ dân trí được nâng lên; tác phong công nghiệp bước đầu được hình thành trong tiềm thức lao động nông thôn

2 Những yếu kém và những vấn đề cần giải quyết

Mặc dù đã đạt được những thành tựu tích cực như đã nêu trên đây, song nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam vẫn còn những yếu kém Mới đây (cuối tháng 11/2005), theo nhận định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sau khi thực hiện Chương trình giám sát thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, kinh

tế nông thôn từ năm 2001 đến nay, những yếu kém này thể hiện ở các chính sách đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khoa học và công nghệ, hỗ trợ vốn, tín dụng nhà nước, chính sách việc làm, thị trường nông sản và việc xây dựng quan hệ sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn Đánh giá khái quát, tăng trưởng GDP toàn ngành thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn vẫn cao, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động cả nước còn cao… Bên cạnh đó, năng suất, chất lượng nhiều nông sản phẩm vẫn thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao, ứng dụng tiến bộ khoa học

và công nghệ còn hạn chế Khoảng cách giàu- nghèo giữa các vùng, giữa các tầng lớp dân cư có xu hướng gia tăng, môi trường nông thôn ít được cải thiện, tiếp tục ô nhiễm, suy thoái,… Những phần dưới đây trình bày cụ thể hơn những yếu kém và

những vấn đề cần giải quyết trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam

Trang 24

2.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chuyển dịch chậm

Sự lạc hậu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta thể hiện ở chỗ ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp, trong khi đó tỷ trọng ngành chăn nuôi tương đối thấp và tỷ trọng ngành dịch

vụ không đáng kể Hơn thế nữa, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm qua chuyển dịch rất chậm chạp Tỷ trọng các ngành biến động trồi sụt theo từng năm không theo xu hướng rõ ràng (Hình 4) Trong vòng 15 năm qua, tỷ trọng trồng trọt chỉ dao động trong khoảng 75,4-77,9%; tỷ trọng chăn nuôi dao động trong khoảng 17,8-22,4%; và tỷ trọng dịch vụ dao động trong khoảng 2,1-2,98%

Hình 4 Sự chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong nông nghiệp

trong giai đoạn 1990-2004 (tính theo giá thực tế)

bị kìm hãm trong các hoạt động trồng trọt mang nặng tính thời vụ là một sự lãng phí

Ngày đăng: 09/03/2014, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững  (SARD) với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, do Liên Hiệp Quốc nêu ra - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững (SARD) với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, do Liên Hiệp Quốc nêu ra (Trang 5)
Hình 2. Sản lượng lương thực bình quân đầu người, 1995-2004 - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Hình 2. Sản lượng lương thực bình quân đầu người, 1995-2004 (Trang 14)
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, 1990- 1990-2004 (tính theo giá so sánh năm 1994) - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Hình 1 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, 1990- 1990-2004 (tính theo giá so sánh năm 1994) (Trang 14)
Hình 3. Tỷ trọng doanh nghiệp nông thôn phân theo ngành, nghề tại thời điểm  ngày 31/12 các năm 2000 và 2003 - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Hình 3. Tỷ trọng doanh nghiệp nông thôn phân theo ngành, nghề tại thời điểm ngày 31/12 các năm 2000 và 2003 (Trang 20)
Hình 4. Sự chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong nông nghiệp  trong giai đoạn 1990-2004 (tính theo giá thực tế) - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Hình 4. Sự chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong nông nghiệp trong giai đoạn 1990-2004 (tính theo giá thực tế) (Trang 24)
Bảng 3. Tỷ lệ nông sản qua chế biến của Việt Nam năm 2000 và hoạch định đến  năm 2020 - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Bảng 3. Tỷ lệ nông sản qua chế biến của Việt Nam năm 2000 và hoạch định đến năm 2020 (Trang 28)
Hình 5. Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của người dân nông thôn  và người dân thành thị giai đoạn 1994-2004 (theo giá thực tế) - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Hình 5. Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của người dân nông thôn và người dân thành thị giai đoạn 1994-2004 (theo giá thực tế) (Trang 30)
Bảng 4. Mức chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng phân   theo vùng, giai đoạn 2001-2004 (theo giá thực tế) - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Bảng 4. Mức chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng phân theo vùng, giai đoạn 2001-2004 (theo giá thực tế) (Trang 31)
Bảng 5. Mức trang bị đồ dùng gia đình bình dân và cao cấp   của các hộ dân nông thôn năm 2001 - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Bảng 5. Mức trang bị đồ dùng gia đình bình dân và cao cấp của các hộ dân nông thôn năm 2001 (Trang 32)
Bảng 6. Diễn biến quá trình đô thị hoá ở nước ta - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP MỚI TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN pdf
Bảng 6. Diễn biến quá trình đô thị hoá ở nước ta (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w