Ước tính sơ bộ thiệt hại môi trường do sự cố tràn dầu gây ra tại Cù Lao Chàm và Cửa Đại (Quảng Nam)
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Lê Thu Hoa, KhoaKinh Tế - Quản lý Tài Nguyên Môi Trường và Đô Thị, trường Đại Học Kinh Tế QuốcDân Cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi suốt quá trình thực hiện đề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Đinh Đức Trường – Viện Phó Viện Sinh thái Môi trường, Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực tập ở đây cũng nhưtrong quá trình tôi thực hiện đề tài này
-Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Kinh Tế, Quản lý Kinh tếTài nguyên, Môi trường và Đô thị, trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã giúp đỡ tôi rấtnhiều trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè tôi đã chia sẻ và giúp đỡtôi để tôi hoàn thành tốt chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh Viên KTMT 46
Vũ Thị Hoàng Vân
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêutrong đề tài là hoàn toàn trung thực và không cắt ghép, sao chép từ báo cáo hoặc luận văncủa người khác Nếu sai, tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2008
Sinh viên
Vũ Thị Hoàng Vân
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: SỰ CỐ TRÀN DẦU VÀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO TRÀN DẦU GÂY RA 4
1.1 SỰ CỐ TRÀN DẦU 4
1.1.1 Khái niệm sự cố tràn dầu 4
1.1.2 Đặc tính của dầu tràn 4
1.1.3 Nguyên nhân gây ra sự cố tràn dầu 5
1.1.4 Các tác động của tràn dầu 5
1.1.4.3 Tác động xã hội 9
1.2 LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO Ô NHIỄM HAY SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG 11 1.2.1 Khái niệm về giá trị kinh tế 11
1.2.2 Mục đích của lượng giá kinh tế môi trường 14
1.2.3 Sơ lược về các phương pháp lượng giá 15
1.2.3.1 Phương pháp giá thị trường (Market price method) 15
1.2.3.2 Phương pháp vốn con người và phương pháp liều lượng-đáp ứng (Dose-response and human capital methods) 15
1.2.3.3 Phương pháp chi phí phòng ngừa và phương pháp chi phí thay thế (Preventive cost, replacement cost methods) 15
1.2.3.4 Phương pháp giá hưởng thụ (Hedonic pricing method) 16
1.2.3.5 Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method) 16
1.2.3.6 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method) 17
1.2.3.7 Phương pháp mô hình lựa chọn riêng biệt(Discrete choice modelling method 17 1.2.3.8 Phương pháp chuyển giao lợi ích ( Benefit transfer method) 18
1.3 KINH NGHIỆM LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA 18
1.3.1 Sự cố Exxon Valdez 18
1.3.2 Sự cố The Prestige 20
1.3.3 Sự cố American Trader 22
1.3.4 Sự cố Lake Barre 24
1.3.5 Sự cố Alambra 2000 26
1.3.6 Tổng kết KN lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường và thực tiễn Việt Nam 27
1.3.6.1 Tổng kết kinh nghiệm lượng giá thiệt hại 27
1.3.6.2 Thực tiễn ở Việt Nam 30
1.4 LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA TẠI KHU VỰC CÙ LAO CHÀM VÀ CỬA ĐẠI 31
1.4.1 Cách tiếp cận 31
1.4.2 Các phương pháp áp dụng trong lượng giá thiệt hại môi trường do ô nhiễm tràn dầu tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại (Quảng Nam) 32
1.4.2.1 Phương pháp chi phí trực tiếp (direct costs) 32
1.4.2.2 Phương pháp chi phí thay thế 33
1.4.2.3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 34
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG SỰ CỐ TRÀN DẦU TẠI VÙNG BIỂN QUẢNG NAM 1/2007 .38
2.1 GIỚI THIỆU VỀ QUẢNG NAM 38
2.1.1 Vị trí địa lý kinh tế 38
Trang 42.1.2 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2.1 Địa hình 39
2.1.2.2 Khí hậu 39
2.1.3 Sơ lược về tài nguyên thiên nhiên 40
2.1.4 Đặc điểm dân số, dân cư và nguồn nhân lực 41
2.1.5 Tình hình kinh tế-xã hội 42
2.1.5.1 Tình hình kinh tế 42
2.1.5.2 Tình hình văn hoá – xã hội 43
2.1.6 Thông tin cơ bản về địa điểm nghiên cứu 44
2.2 SỰ CỐ TRÀN DẦU THÁNG 1 NĂM 2007 TẠI BIỂN QUẢNG NAM 45
2.2.1 Diễn biến 45
2.2.2 Nguyên nhân 47
2.2.3 Phạm vi 47
2.2.4 Các tác động môi trường do sự cố tràn dầu gây ra 48
2.2.4.1 Tác động của dầu đến môi trường sống 48
2.2.4.2 Tác động của dầu tràn làm biến đổi cấu trúc 49
CHƯƠNG III : ƯỚC TÍNH SƠ BỘ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA TẠI KHU VỰC CÙ LAO CHÀM, CỬA ĐẠI (QUẢNG NAM) 51
3.1 XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA TẠI KHU VỰC CÙ LAO CHÀM, CỬA ĐẠI 51
3.1.1 Khái quát chung về các loại thiệt hại môi trường 51
3.1.2 Xác định dạng thiệt hại môi trường tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại 52
3.1.3 Thông tin liên quan 53
3.2 ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG 54
3.2.1 Thiệt hại đối với nhóm giá trị sử dụng trực tiếp (C1) 54
3.2.1.1 Phương pháp lượng giá 54
3.2.1.2 Kết quả 56
3.2.2 Thiệt hại đối với giá trị sử dụng gián tiếp (C2) 59
3.2.2.1 Phương pháp lượng giá 59
3.2.2.2 Kết quả 60
3.2.3 Thiệt hại đối với giá trị phi sử dụng (C3) 61
3.2.3.1 Phương pháp lượng giá 62
3.2.3.2 Kết quả 64
3.2.4 Tổng thiệt hại môi trường ô nhiễm dầu tràn tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại 67 CHƯƠNG IV: KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP 68
4.1 KIẾN NGHỊ 68
4.2 GIẢI PHÁP 69
4.2.1 Giải pháp về mặt thể chế, chính sách 69
4.2.2 Giải pháp về mặt tổ chức và quản lý 69
4.2.3 Giải pháp về mặt kỹ thuật 70
4.2.4 Giải pháp truyền thông 70
4.2.5 Giải pháp tài chính 70
4.2.6 Giải pháp hợp tác quốc tế 71
KẾT LUẬN 71
Tài liệu tham khảo 71
PHỤ LỤC 71
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IUCN
International Union for the Conservation of Nature and Natural resources
Hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
ITOPF The International Tanker
Owners Pollution Federation
Một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động trong lĩnh vực ứng phó với các sự cố tràn dầu, các chất hóa học và các loại chất khác từ các tàu vào môi trường biển
CVM Contingent Valuation Method Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
HEA Habitat Equivalent Analysis Phân tích cư trú tương đương
IMER Institute of Marine
Environment and Resources
Viện tài nguyên và môi trường biển
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Chi phí thay thế, di chuyển và phục hồi loài động vật có vú ở biển và
trong đất liền – Kết quả phân tích sự cố tràn dầu Exxon Valdez
19
Bảng 1.2: Giá trị thay thế cho chim biển và đại bàng – Kết quả vụ tràn dầu Exxon
Valdez (USD 1989)
20
Bảng 1.3 : Khoản đền bù quỹ IOPC nhận được từ Pháp và Tây Ban Nha (theo đồng
Euro) cho vụ tràn dầu Prestige
21Bảng 1.4: Ước lượng tổng giá trị giải trí thiệt hại từ sự cố tràn dầu American Trader 23
Bảng 1.6: Các khoản đền bù cho sự cố tàu Alambra, Talinn, Estonia 2000 27Bảng 1.7: Tổng kết kinh nghiệm lượng giá ô nhiễm dầu tràn trên thế giới 28,29Bảng 1.8: Lựa chọn phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường do ô nhiễm dầu tại
khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại
32
Bảng 2.2 : Số lượng dầu thu gom và chi phí ứng phó tại các địa phương thuộc đợt 1 47Bảng 3.1 : Dạng thiệt hại môi trường do dự cố tràn dầu tại khu vực Cù Lao Chàm
và Cửa Đại
53
Bảng 3.2: Thiệt hại của các khách sạn do khách hủy đặt phòng và trả phòng sớm 57,58Bảng 3.3 : Dữ liệu đầu vào để tính chi phí thay thế đối với san hô và cỏ biển 59Bảng 3.4: Các yếu tố có thể ảnh hưởng đên mức sẵn lòng chi trả (WTP) 64Bảng 3.5: Tổng hợp thiệt hại môi trường do ô nhiễm dầu tại khu vực Cù Lao Chàm,
Cửa Đại
67
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.2 Cách tiếp cận lượng giá thiệt hại môi trường do tràn dầu gây ra tại khu
vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại (Quảng Nam)
30
Hình 3.1: Dòng chi phí vận hành hàng năm đối với 1 ha san hô 60
Hình 3.3: Cơ cấu các loại thiệt hại đối với hệ sinh thái biển khu vực Cù Lao
Chàm, Cửa Đại
67
Trang 8MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Từ 1997, Việt Nam đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờgây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trườngbiển
Từ phía cơ quan có chức năng, ngày 29/8/2001, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyếtđịnh số 129/2001/QĐ-TTg phê duyệt quốc gia về ứng phó sự cố tràn dầu 2001-2010.Đến ngày 2/5/2005, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số103/2005/QĐ-TTg về quy chế ứng phó sự cố tràn dầu Tuy nhiên, việc thực hiện cácquyết định này còn gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp Yêu cầu đặt ra trước mỗi sự cốtràn dầu là phải xác định được nguyên nhân, gán trách nhiệm cho chủ thể gây tràn dầu
và tiến hành đền bù cho những đối tượng chịu tác động của các vụ tràn dầu đó Chođến nay, cơ chế đền bù mới chỉ dựa trên các chi phí trước mắt có thể nhìn thấy đượcnhư chi phí làm sạch, những thiệt hại đối với tài sản cá nhân Tuy nhiên, tác động củatràn dầu không chỉ có trong ngắn hạn mà diễn ra phức tạp trong dài hạn Đặc biệt là tácđộng lên môi trường hệ sinh thái, đây là hệ thống hỗ trợ cuộc sống của hệ sinh vật vàcon người qua nhiều thế hệ
Dựa trên cơ sở lý thuyết của kinh tế học môi trường, một sự lượng giá thiệt hạikinh tế do ô nhiễm môi trường gây ra sẽ góp phần xác định đầy đủ các tác động vềkinh tế, môi trường và xã hội của sự cố tràn dầu Đó là lý do em chọn đề tài:
Ước tính sơ bộ thiệt hại môi trường do sự cố tràn dầu gây ra tại Cù Lao Chàm
và Cửa Đại (Quảng Nam).
II Mục tiêu và phạm vi của đề tài
Mục tiêu chung
Mỗi sự cố tràn dầu diễn ra đều tác động đến cả ba mặt kinh tế, xã hội và môitrường đối với khu vực chịu tác động Đề tài này đưa ra phân tích nhằm lượng giá thiệthại từ những tác động môi trường, đặc biệt là tác động đến hệ sinh thái ven biển dotràn dầu gây ra tại khu vực Cù Lao Chàm và Cửa Đại, vùng biển Quảng Nam Tuynhiên,đề tài chỉ cố gắng đưa ra được khung lượng giá nói chung đối với thiệt hại môitrường do ô nhiễm dầu tràn và lượng giá một số giá trị đại diện chứ không hy vọng sẽlượng giá được hết tất cả các thiệt hại từ sự cố
Trang 9- Về thời gian: Đề tài lượng hoá thiệt hại môi trường từ thời điểm diễn ra sự cố(tháng 1 năm 2007) đến thời điểm nghiên cứu (tháng 3 năm 2008) Đồng thời cũnglượng hoá thiệt hại trong dài hạn đối với môi trường (cụ thể là đối với các hệ sinhthái) khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại
III Kết cấu đề tài
Đề tài này gồm bốn chương:
Chương I: Sự cố tràn dầu và lượng giá thiệt hại môi trường do tràn dầu gây ra
Chương II: Thực trạng sự cố tràn dầu tại vùng biển Quảng Nam (1/2007)
Chương III: Ước tính sơ bộ thiệt hại môi trường do sự cố tràn dầu gây ra tại khu vựcbiển Quảng Nam
Chương IV: Kiến nghị, giải pháp
IV Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài rất mới và khó trong lĩnh vực lượng giá thiệt hại môi trường, vìvậy tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu lượng giá ô nhiễm dầu trên thế giới để rút raphương pháp nghiên cứu Để có được đầy đủ số liệu phục vụ cho việc lượng giá nàykhông phải là việc đơn giản, các số liệu thứ cấp rất hạn chế về số lượng và chất lượng
Trang 10Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu vẫn thu thập và sử dụngnhiều dữ liệu thuộc loại này
Số liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Số liệu điều tra của trường Đại học kinh tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội,
- Dữ liệu của Ban Tràn dầu - Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn,
- Dữ liệu trong các báo cáo lượng giá tác động của các sự cố tràn dầu quy môtrên thế giới,
- Kết quả nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (Trung tâm nghiêncứu và bảo tồn San hô tại Cù Lao Chàm) về tác động ô nhiễm nói chung tới san
hô, cỏ biển và rừng ngập mặn tại Cửa Đại, Cù Lao Chàm
- Đánh giá về sự cố tràn dầu của Chính quyền địa phương, lãnh đạo cơ quan quản
lý tài nguyên, du lịch, đặc biệt là đánh giá của lực lượng chính tham gia xử lý ônhiễm dầu tràn đầu năm 2007
Bên cạnh đó tác giả cũng tham khảo nhiều sách và ấn phẩm về kiến thức chuyênngành kinh tế môi trường đồng thời lấy các ý kiến các chuyên gia khoa học môi
trường, kinh tế môi trường để phục vụ cho nghiên cứu này.
Số liệu sau khi được thu thập được tác giả xử lý bằng các phần mềm Excel, SPSS.Tác giả cũng dùng phương pháp phân tích tổng hợp đưa ra mô hình lượng giá và phântích kết quả trong nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG I: SỰ CỐ TRÀN DẦU VÀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI
MÔI TRƯỜNG DO TRÀN DẦU GÂY RA
1.1 SỰ CỐ TRÀN DẦU
I.1.1 Khái niệm sự cố tràn dầu
Tràn dầu là một sự cố xảy ra khi có một hành động vô tình hoặc có chủ đích làmthoát dầu ra môi trường, thông qua các hoạt động của con người như khoan tìm dầu,sản xuất, dự trữ, vận chuyển dầu và quản lý chất thải từ dầu
I.1.2 Đặc tính của dầu tràn
Khi dầu tràn ra khỏi tàu, chúng vẫn còn ấm và dễ dàng nổi trên bề mặt nước, chỉ cómột số ít là tan ra, còn lại sẽ lạnh đi cho đến khi bằng với nhiệt độ của nước Sau đóchúng đông đặc dần dần thành các “quả bóng hắc ín” (tar balls) có kích thước rất nhỏhoặc chìm vào các cột nước hoặc nổi lên trên mặt nước Nếu không có vật cản hoặcrào chắn, dầu sẽ nhanh chóng lan rộng Dầu càng nhẹ hoặc càng ít đậm đặc thì lancàng nhanh và hình thành lớp mỏng, óng ánh trên mặt nước Dòng nước hoặc gió càngmạnh càng làm cho vết dầu loang lan càng nhanh Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến khảnăng lan dầu, dầu lạnh sẽ phân tán nhanh hơn dầu nóng
Loại dầu khác nhau thì có phản ứng khác nhau trong nước Các loại dầu nhẹ nhưdầu hoả, dầu diezen thì bay hơi tương đối nhanh, chỉ tồn tại trong môi trường một vàingày nhưng dễ gây cháy, nổ Các loại dầu này gây nguy hiểm khi con người hít phảichúng hoặc đưa lên da, đồng thời chúng có thể gây tổn hại hoặc giết chết nhiều loàiđộng, thực vật khi tiếp xúc với chúng Ít độc hơn là các loại dầu nặng như dầu thanđược dùng làm nhiên liệu cho tàu Với đặc điểm là dầy, đen và dính, chúng bay hơichậm, tồn tại trong nhiều tuần, nhiều tháng và thậm chí là nhiều năm Chúng đặc biệt
có hại đối với chim nước và một số loài chim khác Nằm giữa hai loại trên là dầu trungbình, chúng tồn tại trong môi trường trong những khoảng thời gian khác nhau vớinhiều mức độ độc khác nhau
Dầu ở đây cũng được hiểu là các loại nguyên liệu khác nhau như dầu thô, sản phẩmhoặc bán sản phẩm dầu tinh chế, đồ phế thải có dầu, dầu lẫn trong chất thải, bỏ bì chứadầu Sự cố tràn dầu và tác động của nó khác nhau do phụ thuộc vào chủng loại vàlượng dầu tràn ra
Trang 12I.1.3 Nguyên nhân gây ra sự cố tràn dầu
Dầu bị tràn ra khi ống dẫn dầu bị vỡ, giếng dầu phun trào, các tàu va chạm hoặcchạy vòng quanh, các thùng ngầm chứa dầu bị rò rỉ hoặc liên quan đến các thiết bị lọc.Tràn dầu cũng có thể xảy ra do lỗi của con người, tính bất cẩn, làm vỡ thiết bị, hoặc cố
ý (ví dụ: thuỷ thủ các tầu cố ý bơm nước bẩn ở đáy tàu ra biển), do hành động phá hoạicủa bọn khủng bố, khi đất nước có chiến tranh, do thiên tai như lốc, bão hay do dầu tựnhiên thấm qua tầng đáy đại dương
Gây được sự quan tâm nhất của cộng đồng và giới truyền thông là các vụ tràn dầu
từ tầu chở dầu Chúng thải đồng thời một lượng lớn các hydrocacbon vào trong nước
và thường gây thiệt hại trên diện rộng đối với các loài động vật hoang dã Tuy nhiên,
vì không xảy ra thường xuyên nên các vụ tràn dầu lớn chỉ chiếm khoảng 5% lượng ônhiễm dầu ở biển Thường các nguồn nhỏ lại gây ô nhiễm nhiều hơn, như nước nhiễmdầu từ trên đường hoặc từ các bãi đỗ xe
Theo Smithsonian Institution, các nguồn chính gây ô nhiễm dầu trong môi trường,được xếp theo thứ tự sau:
Dầu động cơ và nước nhiễm dầu chảy ra từ đất và chất thải công nghiệp
Các hoạt động trên tàu như rửa đáy tàu
Ô nhiễm trong không khí
Rò rỉ tự nhiên
Các vụ tràn dầu lớn
Các hoạt động khoan dầu ngoài khơi
I.1.4 Các tác động của tràn dầu
Tràn dầu là một loại sự cố môi trường do thiên nhiên hoặc con người (do lỗi vô ýhoặc cố ý) gây ra Cũng giống nhiều loại thiên tai (bão, lũ, sóng thần…), sự cố tràndầu tác động đến cả ba mặt: kinh tế, môi trường và xã hội Tuy nhiên cách phân chiacác loại tác động này không tuyệt đối vì cả ba mặt có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,tác động đến một mặt sẽ ảnh hưởng đến các mặt còn lại
I.1.4.1 Tác động môi trường
Tác động môi trường của sự cố tràn dầu được xem xét dưới hai khía cạnh là tácđộng sinh học và tác động địa chất
Trang 13 Tác động sinh học
Tràn dầu xảy ra thường gây tác động lên động vật hoang dã, các loài thuỷ, hải sản
và hệ sinh thái ven biển
Sinh vật phù du
Sinh vật phù du đóng một vai trò quan trọng đối với sức sản xuất của các đạidương, là nơi tạm trú cho trứng và ấu trùng của các loài cá, động vật có vú, động vậtđáy biển và các sinh vật ven bờ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính ảnh hưởng gâyđộc của sự cố tràn dầu đối với chức năng của sinh vật phù du đã để lại những thiệt hạimôi trường trong dài hạn
Chim biển
Chim biển là một trong những loài dễ bị tác động nhất khi sự cố tràn dầu xảy ra vìchúng thường lặn xuống biển kiếm thức ăn hoặc tụ tập với số lượng đông trên mặtbiển Mặc dù dầu đi vào cơ thể loài động vật này do chúng rỉa lông để tự làm sạchnhưng nguyên nhân chủ yếu gây chết là do chúng bị ướt, đói và mất thân nhiệt vì lông
bị dính dầu Mặc dù đã cố gắng làm sạch cơ thể và phục hồi sau mỗi sự cố tràn dầunhưng chỉ một phần ít các loài chim bị dính dầu có thể sống khi đã lau sạch dầu vàcàng hiếm con có thể sinh đẻ trở lại Chim cánh cụt là một ngoại lệ vì chúng có sức đềkháng tốt hơn các loài chim khác Nhiều loài cá còn bị thu hút do dầu có màu giốngthức ăn trôi nổi Điều này gây nguy hiểm đối với nhiều loại chim biển vì dầu thu húttừng đàn cá và chim biển sẽ lặn qua vết dầu loang đó để bắt cá Chim biển bị chếtnhiều trong các vụ tràn dầu và số lượng con sinh đẻ cũng giảm đáng kể Nhiều loàitrong số đó phản ứng lại sự suy giảm này bằng cách đẻ nhiều trứng hơn, đẻ thườngxuyên hơn và tham gia đẻ sớm hơn Mặc dù quá trình phục hồi mất một vài năm vàphụ thuộc vào các yếu tố khác như nguồn thức ăn nhưng sự phản ứng trên cũng hỗ trợphần nào cho quá trình phục hồi
Động vật có vú
Cá voi, cá heo và hải cẩu ở ngoài biển thường không gặp nguy hiểm khi sự cố tràndầu xẩy ra Tuy nhiên, nhiều loài thường đẻ trên bờ (như chó biển và rái cá) lại dễ gặpphải dầu tràn Các loài động vật điều tiết nhiệt độ cơ thể nhờ bộ lông sẽ bị ảnh hưởng
Trang 14nhiều nhất vì nếu lông bị phủ dầu, chúng có thể chết do nhiệt độ cơ thể quá thấp hoặcquá cao tùy vào từng mùa
Động vật ven bờ
So với các bộ phận khác của môi trường biển, bờ biền thường chịu nhiều tác độngnhất của sự cố tràn dầu vì đây là nơi dầu thường tích tụ lại Tuy nhiên, nhiều loài động,thực vật ven bờ lại thường rất cứng do chúng phải đối diện với những đợt sóng mạnh,đợt gió khô, nhiệt độ cao, mưa to và nhiều áp lực khác từ thiên nhiên Chính sự chịuđựng này đã mang lại cho sinh vật ven biển khả năng chống chịu và phục hồi cao từnhững tác động của dầu tràn Các loài cá trưởng thành sống gần bờ và cá còn nhỏ sống
ở vùng nước sâu thường gặp nguy hiểm hơn đối với ô nhiễm từ dầu hoà tan
Hệ sinh thái ven biển
Tràn dầutác động đến cửa sông, rặng san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn, đây đều lànơi cư trú của nhiều loại cá, loài giáp xác Ở vùng nhiệt đới, các đầm lầy với loại câyđước vừa cung cấp nơi cư trú cho nhiều loài sinh vật vừa có chức năng bảo vệ vùngven biển Loài cây đước tạo thành một khung chắn đôi lúc làm nhiều loài cư trú bị chết
do dầu tràn Thiệt hại sẽ nghiêm trọng hơn khi dầu làm nghẹt thở các rễ cây hoặc loạidầu có tính độc thẩm thấu qua lớp trầm tích Điều này khiến cây đước chết nhiều, đặcbiệt là những cây trên 50 năm tuổi thì phải mất đến hàng chục năm mới khôi phục lạiđược tính đa dạng và năng suất như ban đầu
Tác động địa chất
Dầu tích tụ trên bờ biển không dễ bị di chuyển bởi sóng biển và thuỷ triều Nhữngmôi trường năng lượng thấp (đầm lầy, thềm sóng) dễ bị ảnh hưởng nhất đối với nhữngthiệt hại dài hạn còn những vùng biển nhiều đá chắn sóng thì thường ít bị tác độnghơn Mặc dù nhẹ hơn nước, nhưng dầu có thể chìm xuống đáy thông qua các loài sinhvật hoặc thiết bị khai thác khoáng sản Các khoáng chất có đất sét mà hút hydrocacbon sẽ giữ dầu và được dòng nước mang đi Do đó, ô nhiễm đáy biển có thể vượtquá diện tích dầu tràn ban đầu Hơn nữa, những chất lắng cặn chứa dầu tồn tại trongthời gian dài vì dầu thường rất ổn định trong môi trường này
I.1.4.2 Tác động kinh tế
Trang 15Tràn dầu thường tạo ra những tác động kinh tế nghiêm trọng đối với các hoạt độngvùng biển và các đối tượng khai thác tài nguyên của biển Do tính đa dạng, dễ biến đổi
và rất nhạy cảm đối với ô nhiễm dầu của hệ sinh vật, các hợp chất hoá học của dầu dễgây ảnh hưởng có tính phá huỷ lên sinh vật ven biển
Khi xảy ra tràn dầu, nhiều loài cá và sinh vật sống ở biển sẽ chết và do đó tác độngđến ngành hải sản Nhiều ngư dân không bán được cá buộc lòng phải dời đi nơi kháckiếm kế sinh nhai
Tràn dầu có thể gây mất lòng tin vào thị trường do người dân trong vùng không sẵnlòng mua hải sản nữa bất chấp hải sản vùng đó có thực sự bị hư hại do tràn dầu haykhông Thậm chí khi xẩy ra tràn dầu thì có thể còn cấm các hoạt động đánh bắt, thuhoạch các loại sản phẩm từ biển vừa để duy trì lòng tin vào thị trường vừa bảo vệ thiết
bị và con người khỏi ô nhiễm dầu Điều này có thể hạn chế đầu vào của một số ngànhliên quan khác
Ngoài ra việc gây ô nhiễm các bờ biển đẹp cũng là một trong những đặc điểmchung của các vụ tràn dầu, điều này ngăn cản các hoạt động giải trí như tắm nắng, đithuyền, câu cá hay lặn dưới biển Các chủ nhà hàng, khách sạn và những người cónguồn thu nhập từ các dịch vụ du lịch cũng bị tạm thời bị tác động Mọi sự xáo trộnđối với cuộc sống và nhu cầu giải trí khu vực ven biển chỉ diễn ra trong thời gian ngắn,nhưng khi bờ biển đã được làm sạch thì vấn đề là làm thế nào để lấy lại lòng tin củangười dân
Đặc biệt là đối với các ngành hoạt động dựa vào nguồn nước sạch sẽ bị ảnh hưởngbất lợi do tràn dầu Các nhà máy điện và nhà máy khử muối cần một lượng lớn nướclàm đầu vào nên đặc biệt gặp nguy hiểm, nhất là ống dẫn nước vào mà càng gần mặtnước biển thì càng dễ hút vào lượng dầu trôi nổi Hoạt động của các ngành côngnghiệp ven biển khác như đóng tàu, cảng biển và bến tàu cũng có thể bị tác động bởitràn dầu và các hoạt động làm sạch sau đó
Một sự cố tràn dầu có thể trực tiếp gây tổn hại đến tàu, thuyền và các dụng cụ đánhbắt và thu hoạch các loài động, thực vật biển Các dụng cụ nổi hay cố định trên mặtbiển sẽ bị ô nhiễm bởi dầu trôi nổi, còn các loại lưới, giỏ, dây câu do nằm phía dướimặt nước nên ít bị ảnh hưởng Tuy nhiên chúng đôi khi chịu tác động của dầu chìmhoặc dầu tản mạn
Trang 16Nguyên nhân chung dẫn đến các thiệt hại kinh tế đối với ngư dân là do sự giánđoạn mà dầu tràn cũng như các hoạt động làm sạch gây ra
I.1.4.3 Tác động xã hội
Do dầu tràn có tác động khá nghiêm trọng lên môi trường và nhiều hoạt động kinh
tế ven biển nên gây ra những hậu quả về xã hội như: ảnh hưởng đến sinh kế, thu nhậpcủa người dân chài ven biển Nhiều người phải rời đi nơi khác để kiếm sống, cuộcsống của họ bị xáo trộn cùng với sự đi xuống của nhiều ngành kinh tế ven biển đã trựctiếp tác động lên sự ổn định kinh tế, xã hội
Nhiều bãi biển đẹp, thậm chí là các danh lam, di tích lịch sử bị mất hình ảnh do ônhiễm dầu, gây ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị văn hoá địa phương
Nghiêm trọng hơn nữa là các tác động của tràn dầu đối với sức khoẻ của conngười Điều này tạo nên khoản chi phí lớn đối với xã hội Ô nhiễm đối với các loại dầuđốt có thể gây ra chứng viêm da, tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư da Ăn cá, tôm cua bịnhiễm dầu dễ gây rối loạn đường ruột và một số bệnh khác Mùi độc có thể gây cácbệnh về mắt, mũi, miệng và phổi Các thành phần nhẹ hơn của xăng là benzen, toluenethì độc hơn nhưng dễ bay hơi và biến mất rất nhanh Chúng gây hại đối với các mômáu của con người Các thành phần nặng hơn của dầu thô như hydrô thơm nhiều nhân(PHAs – Polynuclear Aromatic Hydrocarbon) thì ít độc hơn, tồn tại trong môi trườnglâu hơn các thành phần dễ bay hơi nhưng chúng lại có tác hại lớn nhất
Tác động của một sự cố tràn dầu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Loại dầu
Nhìn chung, các loại dầu tinh chế (xăng, diezel) và dầu thô có tính chất nhẹ thườngtồn tại trên mặt biển trong thời gian ngắn do chứa nhiều thành phần dễ bay hơi Chúngthường phân tán và biến mất một cách tự nhiên Trong khi đó, những loại dầu thô nặng
và dầu nhiên liệu nặng lại tồn tại rất lâu do chứa phần lớn thành phần không bay hơi.Những loại dầu này dễ phân tán rộng hơn từ điểm xảy ra sự cố và vì vậy việc làm sạchloại dầu nặng trên phạm vi rộng sẽ khó khăn và tốn kém hơn nhiều so với dầu nhẹ Thiệt hại do tràn dầu gây ra cũng khác nhau đối với từng loại dầu Những sản phẩmdầu tinh nhẹ thường tạo nguy cơ cháy, nổ cao khi sự cố xảy ra trong ranh giới nhất
Trang 17định và có thể gây thiệt hại cho nhiều đối tượng, ví dụ như khu vực cảng hay cácngành gần ranh giới đó Những loại dầu này thường độc hơn dầu nặng Nhiều loàiđộng thực vật biển bị chết do nước biển chứa nồng độ dầu nhẹ quá cao Tuy nhiên,những tác động này mang tính cục bộ và ngắn hạn vì thành phần độc trong dầu nhẹthường bay hơi rất nhanh
Dầu thô và dầu nhiên liệu nặng thường ít độc hơn nhưng cũng đe doạ các loài chimbiển và nhiều động vật hoang dã khác Các khu vực giải trí, phương tiện ngành thuỷsản và nhiều đối tượng khác có thể bị nhiễm dầu do tính tồn tại lâu trên mặt nước củachúng Hơn nữa, với mật độ lớn, dầu nặng dễ chìm và gây ô nhiễm dài hạn đối với đáybiển
Lượng dầu tràn
Lượng dầu tràn rõ ràng là một yếu tố quyết định mức độ tác động của sự cố Do đo,nếu các yếu tố khác không đổi, 100.000 tấn dầu tràn sẽ tác động lớn hơn, gây thiệt hạinhiều hơn và tạo chi phí cao hơn nhiều so với 10.000 tấn
Các đặc tính về vật lý, sinh học và kinh tế của khu vực bị dầu tràn
Tất cả các loại dầu, khi tồn tại trên biển đủ lâu, chúng sẽ tự biến mất qua các quátrình tự nhiên Khi sự cố tràn dầu xảy ra tại khu vực cách xa bờ biển thì dễ dàng kiểmsoát được sự di chuyển và biến mất của nó, do đó đưa ra được những biện pháp ứngphó kịp thời Nhưng cũng loại dầu và lượng dầu tương tự bị tràn ra gần khu vực bờbiển nhạy cảm sẽ có tác động đáng kể lên các hoạt động du lịch, thuỷ sản và nhiềunguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường khác Khi đó, tổng thiệt hại từ sự cố cao hơnnhiều
Các đặc tính vật lý tại nơi diễn ra sự cố tràn dầu (kiểu gió phổ biến, biến thiên củathuỷ triều, dòng chảy và độ sâu của nước ) cũng quyết định một phần đối với ô nhiễm
bờ biển
Các yếu tố kinh tế - xã hội và nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng chịu tác động của
sự cố tràn dầu khác nhau trong một nước và giữa các nước với nhau Nhiều khu vựcđược đánh giá là có tầm quan trọng quốc gia, thậm chí là quốc tế về ngành thuỷ hảisản, về du lịch hoặc về các hoạt động bảo tồn trong khi một số khu vực chỉ có tầmquan trọng địa phương
Trang 18 Thời điểm trong năm
Mùa khác nhau cũng khiến cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên có độ nhạy cảmkhác nhau đối với tác động của ô nhiễm dầu tràn Do đó, thiệt hại về kinh tế và môitrường cũng có sự khác nhau
Tính hiệu quả của các biện pháp làm sạch
Các hoạt động làm sạch cần phải được đánh giá trước khi tiến hành để đảm bảorằng chúng không gây ra sự thay đối lớn đối với khu vực chịu tác động của dầu tràn.Trên thực tế, nhiều hoạt động tỏ ra không hiệu quả, còn gây thêm thiệt hại đối vớinguồn tài nguyên thiên nhiên, hoặc chi phí làm sạch vượt quá lợi ích của hoạt động Các bãi biển giải trí ngay trước và trong mùa du lịch cần phải được làm sạch nhanhchóng để tối thiểu hoá tổn thất về thu nhập của các chủ khách sạn và các đối tượnghoạt động du lịch khác Mặt khác, những khu vực như đầm lầy, rừng ngập mặn có giátrị sinh thái cao thì việc để chúng làm sạch tự nhiên sẽ tốt hơn bởi chúng thường rấtnhạy cảm với những ảnh hưởng của hoạt động làm sạch
1.2 LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO Ô NHIỄM HAY SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG
Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm hay sự cố môi trường cũng chính là việclượng giá giá trị kinh tế của các hàng hoá, dịch vụ môi trường bị suy giảm (mất đi) dochịu tác động của ô nhiễm hay sự cố môi trường đó
1.2.1 Khái niệm về giá trị kinh tế
Giá trị kinh tế của một tài sản tự nhiên hay nhân tạo hoặc dịch vụ/chức năng mà tàisản đó cung cấp là tổng lợi ích hiện tại và tương lai của tài sản đó (hoặc dịch vụ/chứcnăng của nó) Tuy nhiên, nhiều hàng hoá và dịch vụ nói trên không được trao đổi, muabán trong nền kinh tế thị trường (không có giá) Giá trị kinh tế có thể được dùng đểnhận dạng và đo lường giá trị Mặc dù nhiều loại giá trị khác cũng rất quan trọngnhưng giá trị kinh tế thường được cân nhắc nhiều nhất khi đưa ra các lựa chọn về kinh
tế liên quan đến sự đánh đổi trong việc phân bổ nguồn tài nguyên
Trang 19Tổng giá trị kinh tế là khái niệm được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cáchtoàn diện về giá trị hàng hoá môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ bao gồmnhững giá trị trực tiếp có thể lượng hoá được mà còn cả những giá trị gián tiếp - nhữnggiá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội.
Các nhà khoa học đã phân tích TEV theo nhiều cách khác nhau Callan (2000)cho rằng:
Tổng giá trị = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại
(trực tiếp và gián tiếp) (tiêu dùng của người khác
và giữ gìn cho thế hệ tương lai)Theo Tom Tietenberg: TEV = UV + OV + NUV
Trong đó: UV là giá trị sử dụng
OV là giá trị tuỳ chọn
NUV là giá trị không sử dụng
Như vậy, các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giátrị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên Tuy vấn đề thuậtngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng nhìn chung họ đều dựa trên cơ sở sựtương tác giữa con người (người định ra giá trị) và môi trường (vật được đánh giá).Theo nguyên tắc, để đo lường TEV các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệtgiữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng, và TEV đã được khái quát hoá bằngcông thức sau:
TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + (BV + EXV)
Hình 1.1: Sơ đồ TEV
Trong đó: - TEV (Total economic values) là tổng giá trị kinh tế
- UV (Use values) là giá trị sử dụng
- DUV (Direct use values) là giá trị sử dụng trực tiếp
TEV
NUVNUVUVUVUV
Trang 20- IUV (Indirect use values) là giá trị sử dụng gián tiếp.
- OV (Option values) là giá trị tuỳ chọn
- NUV (Nonuse values) là giá trị không sử dụng
- BV (Bequest values) là giá trị tuỳ thuộc hay giá tị để lại
- EXV (Existen values) là giá trị tồn tại
Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường, trên thực tế nó
bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp cung cấp mà
chúng ta có thể tính được về giá cả và khối lượng trên thị trường
Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh
thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, hay nói cách khác đây là các chứcnăng môi trường cơ bản gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế và và lợi ích của mọingười
Giá trị tuỳ chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn lực
hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó, để sử dụng cho tương lai Đây là giá trị do nhậnthức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái Giá trị này không có tính thốngnhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền tệ theo tính chất lựa chọn của nó Tuynhiên trong một số trường hợp ranh giới giữa giá trị tuỳ chọn và giá trị không sử dụng
là không rõ ràng
Giá trị không sử dụng thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất
của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thực tế hoặc thậm chí việc lựa chọn sựvật này Tuy nhiên, thay vào đó, những giá trị này thường liên quan nhiều về lợi íchcủa con người Giá trị không sử dụng bao gồm:
Giá trị tuỳ thuộc (giá trị để lại) phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong một hàm nhiều
biến và có thể có sự thay đổi trên cơ sở phát hiện của khoa học cũng như nhận thứccủa con người Một số người biệt hoá giá trị tuỳ thuộc là giá trị của việc để lại các giátrị sử dụng và phi sử dụng cho con cháu Những người khác đưa cả giá trị tuỳ chọn vàgiá trị tồn tại vào trong dạng giá trị này
Giá trị tồn tại: xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và môi trường
mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài nào đó có ý nghĩa về
Trang 21mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà kể cả lâu dài buộc người ta phải duy trì giống loài
đó bằng mọi giá Trong việc tính toán giá trị này thì việc xác lập tiền tệ là khó khănnhưng sự xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng
Như vậy, trong giá trị của một hệ sinh thái ngoài những giá trị trực tiếp và giá trị
gián tiếp có thể nhìn thấy thì đối với giá trị tuỳ chọn, giá trị tuỳ thuộc và giá trị tồn tạiđòi hỏi chúng ta phải có những cách nhìn nhận hết sức nhạy cảm và linh hoạt, phụthuộc vào ý nghĩa của những giá trị này đối với con người, đối với hoạt động kinh tế
Đó là lý do các nhà kinh tế học môi trường không ngừng hoàn thiện về phương phápluận và phương pháp tiếp cận để nhìn một cách toàn diện TEV của một khu rừng, một
hệ sinh thái Từ đó tư vấn chính xác cho các nhà hoạch định chính sách phương án sửdụng hợp lý
Lý thuyết về lượng giá kinh tế dựa trên sự ưa thích và lựa chọn cá nhân Mọi người
thường biểu lộ sự ưa thích của mình thông qua việc đưa ra những lựa chọn và đánh đổivới sự ràng buộc về thu nhập hoặc thời gian
1.2.2 Mục đích của lượng giá kinh tế môi trường
Mục đích của lượng giá hàng hoá môi trường (EEV) là nhằm tăng cường mối liênkết giữa môi trường và kinh tế.Trước đây nếu kinh tế và môi trường được xem là táchbiệt, riêng rẽ thì giờ đây, chúng dường như có mối quan hệ qua lại khá chặt chẽ vớinhau Phát triển bền vững về sinh thái đòi hỏi phải có sự lồng ghép các vấn đề về môitrường, kinh tế và xã hội Việc áp dụng lượng giá kinh tế cho các tài sản môi trườngthông qua các kỹ thuật kinh tế khác nhau là một trong những cách thức nhằm tăngcường việc lồng ghép này
Lượng giá các giá trị môi trường (thể hiện bằng đơn vị tiền tệ) có thể được sử dụngnhằm:
- Lập luận và quyết định phân bổ nguồn tài chính công cho việc bảo tồn, dự trữ hoặc phục hồi môi trường,
- So sánh lợi ích của các dự án thay thế được đề xuất; và
- Tối đa hoá lợi ích môi trường trên một đồng chi phí
Trang 221.2.3 Sơ lược về các phương pháp lượng giá
1.2.3.1 Phương pháp giá thị trường (Market price method)
Phương pháp giá thị trường ước lượng giá trị kinh tế các hàng hoá hoặc dịch vụmôi trường được mua bán, trao đổi trên thị trường Phương pháp này dựa trên việcquan sát sự thay đổi trong giá của hàng hoá, dịch vụ được trao đổi trên thị trường vớimột sự thay đổi trong chất lượng môi trường Ví dụ như sự thay đổi năng suất củathuỷ, hải sản do có sự thay đổi của chất lượng nước Phương pháp giá thị trường cũng
có thể dựa trên phương pháp phụ thuộc vào hàm sản xuất (production-based method)hoặc phương pháp phụ thuộc vào chi tiêu (expenditure-based method)
1.2.3.2 Phương pháp vốn con người và phương pháp liều lượng-đáp ứng
(Dose-response and human capital methods)
Phương pháp liều lượng đáp ứng được sử dụng để xác định sự thay đổi trong giá trịbằng tiền do sự thay đổi trong hàng hoá môi trường, ví dụ như tổn thất trong sản xuất
do thuỷ, hải sản bị tác động của ô nhiễm nước
Phương pháp vốn con người xác định trước những khoản thu nhập và chi phí sứckhoẻ để lượng giá thiệt hại môi trường, như tác động của ô nhiễm không khí lên sứckhoẻ
1.2.3.3 Phương pháp chi phí phòng ngừa và phương pháp chi phí thay thế
(Preventive cost, replacement cost methods)
Phương pháp chi phí phòng ngừa và chi phí thay thế nhằm lượng giá giá trị củadịch vụ sinh thái dựa trên chi phí để tránh những thiệt hại do mất đi dịch vụ sinh thái,chi phí thay thế các dịch vụ sinh thái hoặc chi phí để cung cấp các dịch vụ thay thếkhác Các phương pháp này không cung cấp những biện pháp đo lường giá trị kinh tếdựa trên sự sẵn lòng chi trả của con người cho một hàng hoá, dịch vụ mà dựa trên giảthiết rằng nếu người dân phải chịu chi phí để tránh những tổn thất do mất dịch vụ sinhthái hoặc chi phí để thay thế các dịch vụ đó, thì các dịch vụ đó đáng giá ít nhất bằngkhoản chi phí mà người đó phải bỏ ra kể trên Do đó, các phương pháp này được ápdụng thích hợp nhất trong trường hợp thực sự đã có biện pháp phòng ngừa thiệt hạihoặc thực tế đã chi tiêu để thay thế dịch vụ
Các trường hợp đó bao gồm:
Trang 23- Lượng giá chất lượng nước được cải thiện thông qua việc đo lường chi phí kiểmsoát lượng phát thải;
- Lượng giá các dịch vụ chống xói mòn đất của một khu rừng hoặc đất ngập nướcbằng việc đo lường chi phí di chuyển đất bồi lắng khỏi khu vực hạ nguồn;
- Lượng giá dịch vụ lọc nước của đất ngập nước bằng cách đo lường chi phí lọc
và xý lý nước bằng phương pháp hoá học;
- Lượng giá tổn thất đối với nơi cư trú bằng cách thiết lập nơi cư trú mới ở khuvực khác;
- Lượng giá nơi cư trú của cá và dịch vụ nuôi trồng bằng việc đo lường chi phícủa chương trình dự trữ và nuôi cá
1.2.3.4 Phương pháp giá hưởng thụ (Hedonic pricing method)
Phương pháp này sử dụng phân tích thống kê của giá thị trường để suy ra giá chấtlượng môi trường Phương pháp giá hưởng thụ ước lượng giá trị kinh tế cho hệ sinhthái hay dịch vụ môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến giá thị trường Nó thường được
áp dụng đối với sự thay đổi trong giá nhà, phản ánh giá trị các thuộc tính môi trườngcủa địa phương Ví dụ, có thể so sánh giá nhà của hai khu phố tương tự nhau ngoại trừmức độ ô nhiễm không khí Phương pháp giá hưởng thụ cũng được sử dụng để ướclượng chi phí, lợi ích kinh tế liên quan đến:
- chất lượng môi trường, bao gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước hoặc ô nhiễm tiếng ồn
- tiện nghi môi trường, như cảnh đẹp mỹ quan hoặc ưa thích các khu vực giải trí
1.2.3.5 Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method)
Phương pháp chi phí du lịch được sử dụng để lượng giá giá trị sử dụng trực tiếpcủa hệ sinh thái hoặc của một khu vực giải trí Phương pháp này được sử dụng đểlượng giá chi phí và lợi ích kinh tế do:
- thay đổi trong chi phí để đi tới khu vực giải trí
- xoá bỏ khu vực giải trí hiện tại
- thêm một khu giải trí khác
- thay đổi chất lượng môi trường của khu vực giải trí
Trang 24Bản chất của phương pháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí của khách dulịch làm đại diện cho giá Mặc dù chúng ta không quan sát được con người mua chấtlượng hàng hoá môi trường nhưng chúng ta lại quan sát được cách họ đi du lịch đểhưởng thụ tài nguyên môi trường Đi du lịch là tốn tiền và cũng tốn thời gian Các chiphí du lịch này có thể làm đại diện cho cái giá mà con người phải trả để hưởng thụđược cảnh quan môi trường, do vậy có thể sử dụng phương pháp chi phí du lịch để xâydựng đường cầu cho các cảnh quan môi trường này Bằng cách thu thập số liệu về chiphí du lịch và một số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), chúng ta
có thể ước lượng được tổng giá trị của những cảnh quan môi trường cụ thể
1.2.3.6 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method)
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên nhằm lượng giá giá trị kinh tế cho tất cả các loạihàng hoá, dịch vụ môi trường và sinh thái Nó được sử dụng để đánh giá cả giá trị sửdụng và phi sử dụng, nhưng áp dụng rộng rãi hơn đối với giá trị phi sử dụng Bằngcách xây dựng một thị trường ảo, người ta xác định được hàm cầu về hàng hoá môitrường thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhậnkhi họ mất đi hàng hoá đó (WTA), đặt trong một tình huống giả định CVM được ápdụng cho rất nhiều yếu tố môi trường như chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giátrị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và sănbắn, phát thải chất độc hại…
1.2.3.7 Phương pháp mô hình lựa chọn riêng biệt (Discrete choice modelling
method)
Phương pháp mô hình lựa chọn riêng biệt nhằm lượng giá các hàng hoá, dịch vụmôi trường bằng cách hỏi người dân để họ bộc lộ được sự ưa thích về một nhóm cácdịch vụ/đặc tính môi trường ở một mức giá (chi phí) đối với cá nhân người đó và mộtnhóm dịch vụ môi trường khác với một mức giá khác Do phương pháp này tập trungvào sự đánh đổi giữa các kịch bản với các đặc tính khác nhau nên nó phù hợp với cácquyết định về chính sách khi mà một tập hợp các giải pháp có thể tạo ra những tácđộng khác nhau lên tài nguyên thiên nhiên hoặc dịch vụ môi trường Ví dụ, cải thiệnchất lượng nước hồ sẽ cải thiện chất lượng các dịch vụ mà hồ cung cấp, như cung cấpnước sạch, câu cá, bơi và đa dạng sinh học Ngoài ra, khi lựa chọn riêng biệt có thể sử
Trang 25dụng để ước lượng giá trị tiền tệ thì kết quả có thể được dùng để xếp thứ tự các lựachọn
1.2.3.8 Phương pháp chuyển giao lợi ích ( Benefit transfer method)
Phương pháp chuyển giao lợi ích được sử dụng để ước lượng giá trị kinh tế củadịch vụ sinh thái bằng cách chuyển giao các thông tin sẵn có từ các nghiên cứu đãhoàn thành ở một địa điểm khác hoặc một bối cảnh khác Ví dụ, giá trị của dịch vụ câu
cá giải trí ở một vùng nhất định có thể được lượng giá bằng cách áp dụng giá trị củadịch vụ này từ một nghiên cứu được tiến hành trong khu vực khác Phương pháp nàythường được sử dụng khi không đủ kinh phí hoặc thời gian để tiến hành một nghiêncứu lượng giá Điều cần lưu ý là chuyển giao lợi ích chỉ có thể chính xác như nghiêncứu ban đầu khi các điều kiện ở hai địa điểm/bối cảnh là tương tự nhau
1.3 KINH NGHIỆM LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA
2004 còn rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và các dịch vụ của con người vẫnđang trong quá trình khôi phục hoặc chưa khôi phục sau vụ tràn dầu này Carson vàHanemann (1992) đã ước lượng tác động của vụ tràn dầu Exon Valdez đến dịch vụ câu
cá giải trí bằng cách sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và phương pháp chiphí du lịch Thiệt hại ước tính là khoảng 31 triệu đôla Mỹ Brown (1992) thì tính toánchi phí thay thế của các loài chim và động vật có vú do có sự cố tràn dầu Bốn cáchtiếp cận để lượng giá chi phí của việc di chuyển, thay thế và phục hồi đối với nhữngcon động vật bị thương là: (1) thay thế - chi phí để nuôi con vật cho đến khi chúng lớn,(2) chi phí của việc di chuyển những con trưởng thành, (3) chi phí phục hồi, (4) chi phíkhôi phục và đẩy mạnh dự án Mỗi phương pháp đều lại có ưu điểm và hạn chế riêng
Trang 26Theo tính toán, chi phí thay thế của một con rái cá nằm trong khoảng 1.500 đến 50.000USD, và dựa vào giả thiết giá đưa ra là 20.000USD Trong khi đó giá trị của cá heotrong khoảng 50.000 đến 1.000.000 USD
Bảng 1.1 : Chi phí thay thế, di chuyển và phục hồi loài động vật có vú ở biển và
trong đất liền – Kết quả phân tích sự cố tràn dầu Exxon Valdez
Carson và các đồng sự (1992) đã thấy được những thách thức trong việc xác địnhgiá trị phi sử dụng của nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tác động bởi sự cố tràn dầu.Những tác động đó bao gồm: bờ biển bị nhiễm dầu, chim và các loài động vật có vú bịchết, ảnh hưởng đến cá biển Phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên (CV) sử dụng mộtbảng hỏi gồm 3 phần Phần thứ nhất mô tả về các dịch vụ cần được lượng giá vànhững tình huống giả thiết Phần hai đưa ra những câu hỏi nhằm tìm ra giá trị màngười được hỏi đặt cho các dịch vụ trên Phần cuối cùng là phần thu thập thông tin cánhân người được hỏi (như tuổi và thu nhập) Giá trị của dịch vụ sinh thái được đolường thông qua sự sẵn lòng chi trả (WTP) hoặc sẵn lòng chấp nhận (WTA) Việc lựa
Trang 27chọn cách nào phụ thuộc vào việc xác định quyền tài sản Về lý thuyết, Carson chorằng WTA là phương pháp chính xác đo lường giá trị nguồn tài nguyên mà xã hội sẵnlòng chịu mất đi Tuy nhiên, nếu dựa trên bảng hỏi thì rất khó xác định mức WTA vìngười đươc hỏi thường cho rằng các kịch bản WTA thường không có thật Vì vậy, dohạn chế về mặt thực tế nên việc lượng giá thường dựa trên WTP Do vậy, nhómCarson sử dụng mức WTP và xác định giá trị phi sử dụng của nguồn tài nguyên bị tácđộng là 2,8 triệu USD.
Bảng 1.2: Giá trị thay thế cho chim biển và đại bàng – Kết quả
vụ tràn dầu Exxon Valdez (USD 1989)
Murres, Vịt trời, Chim cốc, Procellarids,
Marbelled, Chim hải âu và Murrelets 300
Nguồn : Brown (1992)
Sự cố tràn dầu Exxon là một trong những ví dụ khá điển hình vì các khoản đền bù
đã được chi trả thỏa đáng, giúp thiết lập một số khung lý thuyết và phương pháp vẫncòn được sử dụng đến ngày nay, nhằm lượng hóa thành tiền những thiệt hại đối với tàinguyên thên nhiên, trong đó có cả giá trị sử dụng trực tiếp như cá và giá trị phi sửdụng đối với tài sản thuộc sở hữu công cộng như vùng ven biển
1.3.2 Sự cố The Prestige
Vào 13/11/2002, một chiếc tàu thủy thân đơn 25 tuổi thuộc công ty tầu đóng tầucủa Hy Lạp chở dầu của Nga từ Latvia tới Singapore đã bị nứt gãy, gây rò rỉ từ bờ biểnFinisterre, Galicia một quãng 50km Vào ngày 15 cùng tháng, trong khi chiếc tầu nàyđang được kéo đi, nó đã vỡ một nửa và chìm xuống 220km về phía Tây Cies Isles Tàuchìm đã làm tràn gần 64.000 tấn dầu xuống biển gây thiệt hại đối với ngành thủy sản,
du lịch và khu vực di sản thiên nhiên dọc theo 3.000 km đường bờ biển 30.000 ngưdân đã bị tác động trực tiếp do dầu tràn Báo cáo thường niên của quỹ IOPC từ năm
2005 đã chi tiết hóa các khoản bồi thường thiệt hại cho sự cố tràn dầu Prestige Số liệutổng hợp từ Pháp và Tây Ban Nha là gần một tỷ Euro (bảng 4) Khoản đền bù này bao
Trang 28gồm chi phí làm sạch, ứng phó và thiệt hại kinh tế liên quan đến giá trị sử dụng trựctiếp của nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài sản cá nhân Tổng thiệt hại kinh tế, baogồm hàng hóa, dịch vụ môi trường thường cao hơn nhiều so với số liệu trong bảng 4.Viện kinh tế Barrie de la Maza có trụ sở tại Galicia đã tính toán riêng tổng chi phí làmsạch dầu tràn vào khoảng 2.8 tỷ USD ‘Galicia’ – một kế hoạch đặc biệt – do Tây BanNha thiết lập nhằm hỗ trợ nền kinh tế địa phương với tổng số vốn hỗ trợ là 12.5 tỷEuro Nếu không có sự cố tràn dầu xảy ra, số vốn này sẽ được đầu tư cho các hoạtđộng tạo hiệu quả như giáo dục, y tế hay đầu tư cơ sở hạ tầng Rõ ràng, quỹ này đãđưa nguồn lực vào trong nền kinh tế địa phương và trong ngắn hạn, tiêu dùng và đầu
tư sẽ tăng lên Tuy nhiên đây chỉ là nguồn thu trong ngắn hạn Nguồn lực được bơmvào khu vực này sẽ tạo ra một chi phí lớn làm giảm tăng trưởng kinh tế của Pháp vàTây Ban Nha, cũng như nền kinh tế Châu Âu và toàn cầu trong tương lai
Bảng 1.3 : Khoản đền bù quỹ IOPC nhận được từ Pháp và Tây Ban Nha
(theo đồng Euro) cho vụ tràn dầu Prestige
Nhiều nhà sinh thái học chỉ ra rằng môi trường tự nhiên có khả năng phục hồi khi
có các chấn động mạnh như bão hay thậm chí là tràn dầu Underwood (2002) cho rằng
sự ô nhiễm nơi cư trú thường xuyên, dài hạn lại gây ra tác động xấu hơn về mặt môitrường Garcia (2003) chỉ ra rằng Galicia là nơi đã xảy ra 5 vụ tràn dầu lớn nhất trong
30 năm qua, trong đó Pretige là vụ nghiêm trọng nhất Pearce (1989), Deutch (2002)
Trang 29cùng các đồng sự tỏ ra la ngại rằng nếu những vụ tràn dầu tiếp tục tạo ra những áp lựclên dải ven biển thì sẽ tác động lên hệ sinh thái khu vực, khiến nó biến đổi nguyêntrạng ban đầu.
Điều này đỏi hỏi phải phát triển cơ chế đền bù đối với các vụ tràn dầu Ở một khuvực như Galicia nơi thường xuyên xảy ra sự cố tràn dầu thì vấn đề là làm thế nào đểthiết lập một mức chuẩn đối với các thiệt hại hoặc đánh giá các thiệt hại như thế nào?Đây là một vấn đề nan giải vì hệ sinh thái vốn rất phức tạp và tương ứng với nó việc
cố gắng tách những tác động của các nhân tố khác nhau lên hệ sinh thái cũng rất phứctạp Underwood (2002) cho rằng ‘để thấy được tác động (của sự cố tràn dầu) là rấtphức tạp và con số các loài động, thực vật luôn luôn thay đổi thất thường hoặc phụchồi rất nhanh sau những tác động trong ngắn hạn Đây là một đặc tính hệ sinh thái củacác loài cư trú ven biển ‘Việc phục hồi’ sau sự cố tràn dầu diễn ra rất nhanh nếu cáctác động không phá hủy khả năng chống chịu của hệ sinh thái Tuy nhiên, rõ ràng làvới một sự thay đổi trong một hệ sinh thái từ trạng thái này sang trạng thái khác là mộtthiệt hại đáng kể đối với năng suất và phá hủy các giá trị lựa chọn, giá trị sử dụng giántiếp và giá trị phi sử dụng Điều này gây thiệt hại dài hạn và phức tạp đối với cá nhân
và các ngành hoạt động dựa vào các loài sinh vật ven biển (thủy sản hoặc du lịch)
1.3.3 Sự cố American Trader
Vụ American Trader do Chapman và Hanemann (2001) nghiên cứu được xem là
một trong số rất ít những vụ tràn dầu bị đưa ra tòa Năm 1990, tàu chở dầu AmericanTrader đã làm tràn 1,6 triệu lít dầu thô ra vùng cách bờ biển Hungtington, Californiavài km Mấy năm sau, một phiên tòa kéo dài 10 tuần đã kết thúc với lời tuyên án đốivới người ‘gây ô nhiễm’ một khoản tiền là 18 triệu USD Đây là một vụ việc đáng xemxét vì không giống các vụ khác, nó bị đưa ra tòa, công chúng thấy được sự tranh luậncủa các bên và phân tích của các chuyên gia khiến vụ việc được cân nhắc chi tiết.Chapman and Hanemann (2001) đã chỉ ra một số điểm thú vị từ vụ việc, đó là việcthỏa thuận giữa hai bên, bị đơn (người gây ô nhiễm) và nguyên đơn (nhà nước) về lýthuyết kinh tế xung quanh việc lượng giá các giá trị giải trí bị thiệt hại Phiên tòa thìdựa trên phương pháp chi phí du lịch và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Mặc dù có sự thoả thuận dựa trên lý thuyết kinh tế cơ bản về lượng giá, song vẫn còn
sự không thống nhất giữa các giá trị được áp dụng Ví dụ bên nguyên đơn thì cho rằng
Trang 30tràn dầu đã làm giảm 618.000 chuyến đi tới bờ biển bị ô nhiễm trong khi bên bị đơnthì lập luận rằng chỉ giảm có 264.000 chuyến tàu thôi Bên nguyên đơn thì khẳng địnhrằng mỗi chuyến đi có giá trị là 15 USD và có thể lên tới 23 USD, nhưng bên bị đơnthì cho rằng những chuyến đi này không quá 2,3USD Đây chính là khó khăn khi sửdụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên trong bối cảnh pháp lý – tính chính xác và tínhphức tạp của kết quả phân tích tạo nên một dãy lớn giá trị không chắc chắn
Bảng 1.4: Ước lượng tổng giá trị giải trí thiệt hại từ
sự cố tràn dầu American Trader
Thiệt hại về giá trị giải trí
Thiệt hại trong thời gian bị ô nhiễm Số lần Thiệt hại/1 lần
(USD)
Tổng thiệthại (USD )Giải trí bờ biển nói chung bị mất 389580 15 5.843.700
Số lần lướt ván chuyển sang địa
điểm khác
Giải trí bờ biển nói chung và lướt
ván trong điều kiện xấu
Thiệt hại ròng sau khi hoạt động trở lại, trong tháng 3
Giải trí bờ biển nói chung và lướt
ván trong điều kiện xấu
Thiệt hại ròng trong tháng 4
Giải trí bờ biển nói chung và lướt
ván trong điều kiện xấu
Tổng thiệt hại 1342921 236 12183038
Nguồn: Hanemann (1997)
Trang 31đó Tiếp đến phải xác định thiệt hại đối các vùng đầm lầy, tôm cá bị chết hoặc chim bịdính dầu Việc lượng giá các thiệt hại này rất phức tạp và bao quát, đòi hỏi phải cónhiều phương pháp khoa học Thiệt hại đối với vùng đầm lầy ven biển được chia làmbốn mức độ; dầu tràn nhẹ và khả năng khôi phục nhanh, dầu tràn nặng với khả năngkhôi phục trung bình, dầu tràn nặng với khả năng khôi phục trung bình chậm, dầu trànnặng với khả năng khôi phục chậm Kết quả được thể hiện ở bảng sau:
Trang 32Bảng 1.5: Lượng hoá những tổn thất đối với vùng đầm lầy
Mức độ thiệt
hại
Diện tích bị tác động (ha)
Thiệt hại dịch
vụ ban đầu (%)
Thời gian khôiphục hoàn toàn
Thiệt hại dịch
vụ qua các năm được chiết khấudầu tràn nhẹ
Ngu ồn : Penn, T and Tomasi, T (2002)
Thiệt hại đối với các loài động vật nước cũng được lượng giá qua một mô hình (môhình đánh giá thiệt hại tài nguyên thiên nhiên đối với các loài cư trú vùng biển và venbiển - 2.4 năm 1996) nhằm xác định tỷ lệ chết và thiệt hại trong tăng trưởng loài Môhình này đã ước tính có khoảng 7.5 tấn tôm, cua, cá và các loài không xương sốngkhác bị chết và tỷ lệ tăng trưởng giảm do tràn dầu Ước tính có khoảng 330 kg chimbiển chết trực tiếp do dầu Thiệt hại đối với chim và các loài động vật dưới nước sau
đó được chuyển đổi sang giá trị tương đương là 13,7 dịch vụ-ha-năm Phạm vi khôiphục được xác định qua phương pháp Phân tích cư trú tương đương (HEA-HabitatEquivalent Analysis); đây là khung lý thuyết được áp dụng nhằm xác định nguồn tài
Trang 33nguyên và dịch vụ bị mất và nguồn tài nguyên và dịch vụ được phục hồi Kết quả chothấy 7,5 ha đầm lầy được trồng đã đem lại lợi ích cho 15,9 ha khác thông qua sự mởrộng sinh trưởng cho tổng diện tích 23 ha vùng đầm lầy Penn và Tomasi (2002) khẳngđịnh rằng vùng diện tích được khôi phục này cho thấy 1,2 triệu lít dầu tràn chỉ gây rathiệt hại đối với 96% khu vực bị tác động Phương pháp được sử dụng trong trườnghợp Hồ Barre là một ví dụ sử dụng đền bù đa dạng sinh học Một trong những ưu điểmcủa việc áp dụng việc đền bù đa dạng sinh học là tránh được vấn đề phải tiền tệ hoánhững nguồn tài nguyên và dịch vụ thiên nhiên phi thị trường, thay vào đó sử dụngđơn vị có thể so sánh được – đơn vị tính là đa dạng sinh học
1.3.5 Sự cố Alambra 2000
Tàu chở dầu Alambra của Maltese (75366 GT) chở hàng hoá với nguyên liệu dầunặng tại Cảng Muuga, Tallinn (Estonia) 300 tấn hàng đã rò rỉ từ một vết nứt từ đáytàu, 80.000 tấn hàng còn lại được rời đi an toàn và sau đó chiếc tàu đã rời khỏi Estonia
và không được sử dụng nữa Bằng chứng của Forensic được sử dụng nhằm truy ra dầucủa tàu Alambra được làm sạch trên bờ biển Thuỵ Sĩ Người ta suy đoán rằng dầu đãtrôi dạt qua biển Baltic khi tàu này được kéo vào đất liền ở Fårö and Gotska sandön,đến phía Bắc Gotland biển Baltic và một vài đảo trên quần đảo Stockholm Những khuvực có dầu tràn được chỉ ra trong bảng 6 Khoản đền bù cho nhà nước Estonia, theoIOPC (2005) nhiều hơn khoản phí và không liên quan đến thiệt hại kinh tế do tràn dầu.Swedish Coast Guard, Cơ quan Cứu hộ Thuỵ Sĩ cũng như chính quyền địa phươngcũng tham gia vào quá trình làm sạch và ứng phó với dầu tràn vào bờ biển và các đảo.Chi phí của những quá trình này là 647.500 USD Cơ quan Cứu hộ Thuỵ Sĩ cũng đưa
ra mức phạt do ô nhiễm môi trường nước là 56.000 USD Khoản đền bù này là cònquá ít so với thiệt hại đối với giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giátrị phi sử dụng của hàng hoá dịch vụ hệ sinh thái Thiệt hại đối với ngành thuỷ sản, dulịch và một số giá trị sử dụng trực tiếp khác chưa được tính đến đầy đủ mặc dù cónhiều tuyên bố không chính xác về “tác động môi trường đáng kể ” của sự cố tràn dầu.Thiếu sự xem xét trên là do tác động khuếch tán lên thuỷ sản và các bờ biển, thiếunăng lực và nguồn lực về mặt pháp lý
Trang 34Bảng 1.6: Các khoản đền bù cho sự cố tàu Alambra, Talinn, Estonia 2000.
Điều hành cảng (mất thời gian khi neo tàu) - Estonia 2.240.000
Người đấu thầu chở dầu Estonia (mất thời gian làm việc ) 733.000
Nguồn: Báo cáo thường niên của IOPC 2005
1.3.6 Tổng kết kinh nghiệm lượng giá thiệt hại kinh tế do môi trường và thực
tiễn Việt Nam
1.3.6.1Tổng kết kinh nghiệm lượng giá thiệt hại
Kinh nghiệm lượng giá của các nước trên thế giới cho thấy, hầu hết các nghiên cứulượng giá ô nhiễm dầu tràn đều dựa trên việc mất đi hoặc suy giảm các thành phầnthuộc tổng giá trị kinh tế của hàng hóa, dịch vụ môi trường
Thiệt hại đối với giá trị sử dụng trực tiếp thường được đánh giá thông qua thiệt hại
về thu nhập của các ngành như thuỷ sản, du lịch với các phương pháp được sử dụngnhư phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), phương pháp chi phí du lịch (TCM)hoặc phương pháp chi phí trực tiếp
Đối với giá trị sử dụng gián tiếp, lượng suy giảm hay mất đi của các dịch vụ hànghoá môi trường được xác định thông qua phương pháp phân tích cư trú tương đương(HEA) và được lượng giá thông qua một số phương pháp như phương pháp chi phíthay thế đối với các loài động vật có vú
Còn phương pháp phổ biến được các nước sử dụng để lượng giá thiệt hại đối vớigiá trị phi sử dụng là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Tuy nhiên, một số trường hợp cũng cho thấy thiệt hại đối với tài nguyên môitrường không được lượng hoá đầy đủ và do đó cơ chế đền bù chỉ dựa trên chi phí ứngphó, chi phí làm sạch dầu tràn hoặc những khoản phạt do ô nhiễm môi trường
Trang 35Bảng 1.7: Tổng kết kinh nghiệm lượng giá ô nhiễm dầu tràn trên thế giới
Giá trị sử dụng
Giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng
Giá trị lựa chọn
Giá trị tồn tại
- Giá trị giải trí bãi biển bị mất
- Thiệt hại: 12 triệu USD
Trang 36- Phương pháp: TCM và CVM
Sự cố Lake Barre
- Thiệt hại: 13,7 dịch vụ-ha-năm
- Phạm vi khôi phục được xác định thông qua phương pháp HEA
Trang 37Từ 1997, Việt nam đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờgây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trườngbiển
Điển hình là các sự cố tàu Formosa One Liberia đâm vào tàu Petrolimex 01 củaViệt Nam tại vịnh Giành Rỏi - Vũng Tàu (tháng 9/2001) làm tràn ra môi trường biểnven bờ khoảng 1.000m3 dầu diezel, gây ô nhiễm nghiêm trọng một vùng rộng lớn biểnVũng Tàu Ba năm sau, tại khu vực biển Quảng Ninh - Hải Phòng, sự cố đắm tàu MỹĐình, chứa trong mình khoảng 50 tấn dầu DO và 150 tấn dầu FO, trong khi đó ta chỉ
xử lý được khoảng 65 tấn, số dầu còn lại hầu như tràn ra biển Đầu năm ngoái, chínhxác là từ 28 -29 tháng 1 đến 15 tháng 3 t các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi đã cóhiện tượng dầu trôi dạt vào biển Sự cố dầu tràn vào biển này là rất nghiêm trọng,lượng dầu trôi dạt vào bờ lớn, số lượng dầu đã phong hoá, vón cục, đóng thành bánhphải thu gom lẫn cát và rác thải lớn (gần 1.000 tấn) gây ảnh hưởng trên diện rộng,chưa đánh giá hết được mức độ thiệt hại về kinh tế, xã hội và môi trường Tiếp tục sau
đó, từ ngày 9 đến 12 tháng 3 năm 2007, dọc các bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xuấthiện váng dầu và nhiều mảng dầu màu đen, trôi dạt từ ngoài khơi vào bờ, làm ô nhiễmcác bãi tắm và nước biển ven bờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế củatỉnh, đặc biệt là du lịch Gần đây nhất là vụ tàu Ðức Trí chở 1.700 tấn dầu FO đã bịchìm tại vùng biển Bình Thuận vào đêm 2/3/2008, đến sáng 13/3, dầu tiếp tục tràn vàoBãi Sau (TP Vũng Tàu), từ Khu du lịch Paradise đến dốc Nghinh Phong Rõ ràng các
vụ tràn dầu xảy ra với mật độ ngày càng cao và để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọngđến môi trường và hoạt động kinh tế của các vùng chịu ảnh hưởng
Tuy nhiên, nhiều sự cố tràn dầu cho đến nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân,đồng thời việc gắn trách nhiệm cho người gây ô nhiễm và đền bù cho đối tượng chịutác động còn rất hạn chế Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, cơ chế đền
bù mới chỉ dựa trên chi phí ứng phó, làm sạch dầu tràn Khoản đền bù này là còn quá ít
so với thiệt hại đối với tài sản môi trường, đặc biệt là các giá trị sử dụng trực tiếp, giátrị sử dụng gián tiếp và giá trị phi sử dụng của hàng hoá dịch vụ hệ sinh thái Ở ViệtNam, mới chỉ có một số nghiên cứu tác động của mức độ tràn dầu lên hệ sinh thái chứchưa có nghiên cứu lượng giá nào được tiến hành để đánh giá thiệt hại môi trường do
ô nhiễm dầu gây ra
Trang 381.4 LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO SỰ CỐ TRÀN DẦU GÂY RA TẠI KHU VỰC CÙ LAO CHÀM VÀ CỬA ĐẠI
1.4.1 Cách tiếp cận
Từ cơ sở lý luận cùng với kinh nghiệm lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm dầutràn gây ra, đề tài đưa ra cách tiếp cận lượng giá thiệt hại môi trường do tràn dầu gây
ra tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại (Quảng Nam) như sau:
Hình 1.2 Cách tiếp cận lượng giá thiệt hại môi trường do tràn dầu gây ra tại
khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại (Quảng Nam)
Như vậy hướng tiếp cận của đề tài là xuất phát từ sự cố tràn dầu cuối tháng 1 năm
2007 tại vùng biển Quảng Nam, sau đó đề tài xác định phạm vi tác động của sự cố tràndầu về cả không gian và thời gian để làm cơ sở cho phạm vi nghiên cứu lượng giá của
đề tài Phạm vi tác động của sự cố tràn dầu cũng làm cơ sở cho việc xác định những
Sự cố tràn dầu tháng 1/ 2007 tại vùng biển Quảng Nam
Xác định phạm vi tác động của sự cố tràn dầu
Xác định các tác động môi trường do ô nhiễm dầu tràn
Xác định các thiệt hại kinh tế do ô nhiễm dầu tràn
Lượng giá thiệt hại kinh
tế do ô nhiễm dầu tràn
Tổng thiệt hại bằng tiền do ô nhiễm dầu tràn tràn dầu
Các thành phần
MT và mức độchịu tác động của ônhiễm dầu tràn
Phạm vi tác động
về không gian vàthời gian của sự cố tràn dầu
Trang 39tác động môi trường, bao gồm thành phần môi trường nào bị tác động và mức độ tácđộng là bao nhiêu Từ các tác động môi trường, đề tài liên kết với các đối tượng (conngười, động thực vật, các ngành kinh tế ) chịu thiệt hại và từ đó dùng các phươngpháp lượng giá để quy đổi những thiệt hại này ra giá trị tiền tệ
1.4.2 Các phương pháp áp dụng trong lượng giá thiệt hại môi trường do ô nhiễm
tràn dầu tại khu vực Cù Lao Chàm, Cửa Đại (Quảng Nam)
Từ cơ sở lý thuyết kinh tế môi trường và kinh nghiệm các nước, cũng như dựa trênhướng tiếp cận trên, đề tài xin giới thiệu những phương pháp được sử dụng và cácbước thực hiện trong lượng giá thiệt hại môi trường do ô nhiễm dầu tràn tại khu vực
Cù Lao Chàm, Cửa Đại
Bảng 1.8: Lựa chọn phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường do ô nhiễm dầu tại khu vực
Cù Lao Chàm, Cửa Đại
Thiệt hại đối với giá trị sử dụng trực tiếp - Phương pháp chi phí trực tiếp
Thiệt hại đối với giá trị sử dụng gián tiếp - Phương pháp chi phí thay thế
Thiệt hại đối với giá trị phi sử dụng - Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Việc các ngành này bị tổn thất về thu nhập nhiều hay ít, trong thời gian ngắn haydài phụ thuộc vào mức độ tác động của dầu tràn
Trang 40- Xác định thời giảm bị giảm (mất) thu nhập do ô nhiễm dầu tràn
- Tính toán tổng thiệt hại
Ưu, nhược điểm
- Ưu điểm: Đây là phương pháp có kỹ thuật tính toán đơn giản, dễ hiểu Việc thuthập dữ liệu về nguồn thu nhập bị giảm đi của các đối tượng bị tác động khôngkhó khăn
- Nhược điểm: Phương pháp này chưa đánh giá đầy đủ thiệt hại đối với giá trị sửdụng trực tiếp Ví dụ như đối với ngành du lịch, tổn thất trong thu nhập của cáckhách sạn hay các dịch vụ du lịch mới chỉ là thiệt hại tính được từ phía cungtrong khi đó thiệt hại do giảm lợi ích của khách du lịch, tức là phía cầu thìkhông tính được
1.4.2.2 Phương pháp chi phí thay thế
Khái niệm
Phương pháp chi phí thay thế lượng giá thiệt hại giá trị của các hệ sinh thái thôngqua chi phí thay thế chúng với hàng hoá, dịch vụ do con người tạo ra Phương phápnày giả thiết rằng, lượng tiền mà xã hội phải chi trả để thay thế cho những tài sản môitrường tương đương với những giá trị của những tài sản đó bị mất đi
Mô tả
Các bước tiến hành khi sử dụng phương pháp chi phí thay thế như sau:
Bước 1: Xác định các dịch vụ được cung cấp bởi hệ sinh thái được đánh giá
Bước 2: Xác định các hàng hoá, dịch vụ nhân tạo hoặc cơ sở hạ tầng có thể thay thếcho các dịch vụ hệ sinh thái tại mức quy mô mà những hàng hoá này có thể đem lại lợiích tương tự Cơ sở hạ tầng thay thế mang lại một lượng cân bằng về dịch vụ như hệsinh thái ban đầu và là lựa chọn có tính khả thi