Các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử chỉ có thể xác định các tình tiết của vụ án bằng chứng cứ, từ đó có cơ sở để chứng minh
Trang 1HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021
Trang 2ĐỀ VIẾT TIỂU LUẬN SỐ 1
Câu 1 (8 điểm): Phân biệt chứng cứ và nguồn của chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015? Cho ví dụ về từng loại chứng cứ và nguồn của chứng cứ?
Câu 2 (2 điểm): Phân biệt bị hại và nguyên đơn dân sự theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015? Cho ví dụ bị hại và nguyên đơn dân sự?
Trang 31
BÀI LÀM Câu 1:
I Chứng cứ và nguồn chứng cứ theo Tố tụng hình sự
1.1 Sơ lược về chứng cứ và nguồn chứng cứ
Chứng cứ là nội dung quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự, mang tính trọng tâm Chứng cứ không chỉ đóng vai trò xác định sự thật khách quan của vụ án,
mà còn phản ánh chính bản thân quá trình xác định sự thật khách quan đó được diễn ra như thế nào Các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử chỉ có thể xác định các tình tiết của vụ án bằng chứng cứ, từ đó có cơ sở để chứng minh có hay không tội phạm xảy ra, quyết định
áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết Có nghĩa là chứng cứ là phương tiện khẳng định sự kiện nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đồng thời cũng có chức năng loại trừ những sự kiện không liên quan đến vụ án
Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự còn có quy định về nguồn chứng cứ Mặc dù chưa có một định nghĩa cụ thể nào tuy nhiên dựa vào quy định tại điều 87
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) thì có thể hiểu nguồn chứng cứ tức là hình thức chứa đựng chứng cứ trong đó; là nơi để tìm ra những đối tượng phục vụ cho việc chứng minh Chính vì chưa có khái niệm chính thức nên dẫn đến không ít
sự hiểu lầm, nhầm tưởng giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ, gây khó khăn trong quá trình áp dụng Do đó, cần phân biệt rõ chứng cứ và nguồn chứng cứ là gì? Dựa trên những quy định, thuộc tính, bản chất của nó để việc hiểu và áp dụng được đúng đắn, chính xác hơn
1.2 Chứng cứ trong Tố tụng hình sự
Khái niệm chứng cứ được quy định rất rõ ràng trong BLTTHS, cụ thể chứng
cứ là: “Chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”1 Từ khái niệm, chúng ta có thể nhận dạng ra được ba
1 Điều 86 Bộ luật TTHS 2015
Trang 42
thuộc tính đã được khoa học tố tụng hình sự ghi nhận đó là: Tính khách quan; tính liên quan; tính hợp pháp
- Tính khách quan: thuộc tính này bắt buộc chứng cứ phải được tồn tại khách quan, đòi hỏi cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình tố tụng phải nổ lực hết mình, tôn trọng sự thật, tránh sự nóng vội, thiếu trung thực Dẫn đến đánh giá sai chứng cứ gây ra oan, sai
- Tính liên quan: những gì tồn tại khách quan chỉ được coi là chứng cứ nếu có liên quan đến vụ án Chứng cứ dùng để chứng minh có tội hay không có tội cũng như các tình tiết khác, cho nên chứng cứ phải có tính liên quan Nếu tách ra sẽ không nói lên điều gì mà phải tổng hợp, tính toán, đánh giá tổng thể chứng cứ để tìm ra hướng giải quyết vụ án được chính xác
- Tính hợp pháp: Đây là thuộc tính để hiện trên phương diện pháp lý, chứng cứ ngoài việc phải khách quan thì còn phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do luật định
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 hiện nay chưa có sự phân loại giữa các chứng cứ với nhau, nhưng dựa trên khái niệm có thể chia các loại chứng
cứ như sau:
1.2.1 Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
1.2.1.1.Chứng cứ trực tiếp
Chứng cứ trực tiếp là chứng cứ xác định sự kiện chủ yếu, trực tiếp của đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự Thông qua chứng cứ trực tiếp có thể xác định được hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của người phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố nhân thân và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án Chứng cứ trực tiếp có thể thu từ các nguồn chứng cứ do pháp luật quy định như lời khai, lời trình bày, vật chứng…Vì chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh cao nên có thể dùng làm chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội
Ví dụ: Đêm ngày 14/07/2019, xảy ra án mạng tại bưu cục xã X Người làm chứng là anh Thiên tài xế xe ôm đậu xe tại sân bưu cục X xã đã tận mắt chứng kiến anh Hải dùng thớt đập chết chị Vân trong bưu cục Tại cơ quan điều tra, anh Hải
Trang 53
cũng thừa nhận đã dùng thớt đập chết chị Vân Do đó, xác định những thông tin bên trong hai lời khai này là chứng cứ trực tiếp để xác định anh Hải là hung thủ trong vụ án
1.2.1.2.Chứng cứ gián tiếp
Chứng cứ gián tiếp tức là chứng cứ không thể trực tiếp xác định được những đối tượng chủ yếu cần chứng minh trong một vụ án hình sự Nó không thể chứng minh được hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội Chứng cứ gián tiếp không là cơ sở để làm sáng tỏ bản chất vụ án Cùng với đó, nếu xem xét một cách rời rạc thì sẽ không có ý nghĩa gì mà phải đánh giá một cách tổng quan, không phải tự nhiên mà những chứng cứ gián tiếp có sự liên quan với nhaumàkhi kết hợp lại sẽ nảy sinh vấn đề, và chính vấn đề đó có thể được sử dụng làm căn cứ để xác định về những sự kiện có ý nghĩa pháp lý trong vụ
án Vì vậy, phải tổng hợp lại thành một hệ thống chứng cứ gián tiếp
Trên thực tế, không ít vụ án mà cơ quan điều tra với mục đích là luôn luôn tìm chứng cứ trực tiếp để xác định hành vi và đối tượng phạm tội, dẫn đến với một
vụ án phức tạp việc thu thập chứng cứ trực tiếp là vô cùng khó khăn, hướng điều tra sẽ đi vào bế tắc Do đó, việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ gián tiếp là
vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay nhiều tội phạm dùng thủ đoạn tinh vi
để thực hiện hành vi phạm tội, xóa chứng cứ, dấu vết trực tiếp
Ví dụ: Tại một căn nhà nơi xảy ra vụ án giết người, người chết là chị Hương CQĐT lấy lời khai của chị Tú, chị Tú khai là đi mua đồ tại tiệm tạp hóa kế bên căn nhà đó và thấy một người đàn ông đi vào, đi ra khỏi nhà liên tục trong đêm xảy ra
án mạng Hỏi anh Cường là hàng xóm thì những ngày qua nhà đó thường có tiếng cãi vả giữa hai vợ chồng anh Bình và chị Hương CQĐT cũng thu thập được một con dao chôn ở sau nhà và tiến hành giám định thì phát hiện có dấu vân tay của anh Bình trên con dao đó, xác định anh Bình chính là người đã giết chị Hương Qua đó có thể thấy, những lời khai từ người làm chứng chưa thể xác định được anh Bình gây án nhưng cũng mở ra hướng điều tra tập trung vào anh Bình, con dao và dấu vân tay là chứng cứ trực tiếp xác định đối tượng gây án
1.2.2 Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội
Trang 64
Với cách phân loại này, sẽ thiên về phương hướng cách sử dụng ra sao chứ không phải thiên về bản chất của chứng cứ Tại vì trong một số vụ án, chứng cứ có thể sử dụng để buộc tội một người nhưng khía cạnh khác lại dùng để gỡ tội một người khác Trong quá trình dùng để buộc tội lúc đầu nhưng sau đó dùng để gỡ tội cho chính họ Do đó, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã có quy định các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định
có tội và chứng cứ xác định vô tội.2
1.2.2.1 Chứng cứ buộc tội
Chứng cứ buộc tội là chứng cứ không có lợi cho bị can, bị cáo trong một vụ
án hình sự Chứng cứ buộc tội dùng để xác định một tội phạm được thực hiện như thế nào, người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của người phạm tội đó Bên cạnh đó, dùng để xác định các tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội Tuy nhiên, việc sử dụng lời khai của bị can, bị cáo phải hết sức thận trọng, đặc biệt là lời nhận tội vì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố tác động đến họ trong quá trình lấy lời khai như tâm lý sợ hãi, hiện tượng móm cung, ép cung Do đó, Bộ luật tố tụng hình sự quy định lời nhận tội của
bị can, bị cáo chỉ được xem là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của
vụ án; Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.3
Ví dụ: Ông An thấy chị Ngọc đang nghe điện thoại bên đường nên nảy sinh hành vi cướp giật tài sản, ông An p sát giật được điện thoại của Ngọc Chị Ngọc á cùng một số người dân đuổi theo vô tình thấy anh Cường với trang phục, nhân dạng khá tương tự ông An nên giữ lại giao cho công an Anh Cường luôn phủ nhận việc giật điện thoại của chị Ngọc, công an sau đó phải triệu tập một số đối tượng tình nghi trên địa bàn trong đó có ông A Sau khi thực hiện giám định mẫu da vết n , máu trong móng tay chị Ngọc vì chị Ngọc khai là có giằng co cào vào tay đối tượng thì cho ra kết quả trùng khớp với nhóm máu của ông An, tay ông An cũng
2 Đoạn hai điều 15 Bộ luật TTHS 2015
3 Khoản 2 điều 98 Bộ luật TTHS 2015
Trang 75
có để lại vết trầy được xác định do bị tác động bởi móng tay Do đó, những thông tin, kết quả bên trong ết luận giám định trên là chứng cứ buộc tội trực tiếp cho k hành vi cướp giật tài sản của ông An
1.2.2.2.Chứng cứ gỡ tội
Chứng cứ gỡ tội là chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo, dùng để chứng minh người bị buộc tội không có thực hiện hành vi phạm tội đó hoặc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Xác định các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, các tình tiết định khung giảm nhẹ, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội Bên cạnh đó, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng là rất nặng nề khi phải thu thập chứng cứ buộc tội vừa phải thu thập cả chứng cứ gỡ tội để trong quá trình giải quyết vụ án được khách quan, đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan sai Cùng với đó, bộ luật TTTHS 2015 cho phép bị can, bị cáo trong quá trình
tố tụng có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu Thường thì những tài 4
liệu, chứng cứ, đồ vật, yêu cầu này có ý nghĩa có ý nghĩa gỡ tội cho bị can bị cáo , chứng minh bị can, bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho họ Do đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải kiểm tra đánh giá khách quan nhằm xác định đó có phải là chứng cứ gỡ tội cho họ hay không
Ví dụ: Dương và Tiến bị bắt về hành vi giết người, cướp tài sản Dương chỉ
thừa nhận hành vi cướp tài sản còn giết người do Tiến thực hiện Ngày 25/7/2020, phiên tòa xét xử sơ thẩm được mở, mặc dù cả Dương và Tiến đề đổ tội giết người u cho nhau nhưng cả hai vẫn phải chịu mức án tử hình cho hai tội danh trên Đến ngày 14/1/2021, Viện trưởng VKSNDTC có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hình sự sơ thẩm trên vì phát hiện trong quá trình điều tra, có một bản khai do chính Tiến viết rằng mình là người duy nhất giết nạn nhân còn Dương chỉ cướp tài sản, trùng khớp với lời khai của Dương Tuy nhiên, CQĐT đã vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, không công bố bản khai nhận này, VKS cấp sơ thẩm trong quá trình kiểm sát điều tra cũng không phát hiện vi phạm dẫn đến quá trình truy tố, xét xử không được khách quan, khả năng cao xảy ra oan
4 Điểm đ khoản 2 điều 60; điểm đ khoản 2 điều 61 Bộ luật TTHS 2015
Trang 86
sai Từ đó, có thể xác định bản khai nhận của Tiến chính là chứng cứ gỡ tội cho Dương trong vụ án này
Qua ví dụ trên, có thể thấy sự khách quan, liêm chính của các cơ quan tiến hành tố tụng là vô cùng quan trọng rong quá trình giải quyết vụ án, vì toàn bộ quá t trình tố tụng tác động rất lớn đến người bị buộc tội, nếu không nêu cao những yếu
tố trên thì nguy cơ sẽ dẫn đến oan sai là rất lớn Do đó các cơ quan tiến hành tố , tụng phải thật sự khách quan, thu thập chứng cứ đầy đủ cả về buộc tội lẫn gỡ tội, quy trình thực hiện phải bám sát quy định của pháp luật tố tụng hình sự Có như vậy thì việc buộc tội hoặc gỡ tội cho một ai đó mới thật sự thuyết phục, đúng pháp luật, tránh tình trạng oan sai
1.2.3 Chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại, chép lại
Dựa vào nơi xuất xứ của của thông tin, tư liệu thu thập được, chứng cứ có thể được phân thành chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại, chép lại
1.2.3.1.Chứng cứ gốc
Chứng cứ gốc có nghĩa là chứng cứ được phản ánh từ một nguồn đầu tiên, trực tiếp và không qua một giai đoạn trung gian nào Do mang tính chất gốc nên loại chứng cứ này sẽ phản ánh khách quan những tình tiết có trong vụ án Chứng
cứ gốc có độ tin cậy rất cao, khả năng xác thực thông tin gần như tuyệt đối, chính
vì vậy trong quá trình điều tra cần chú trọng đặc biệt đến loại chứng cứ này Tuy nhiên, không tránh khỏi một số vụ án mặc dù là chứng cứ gốc nhưng nó chỉ mang
ý nghĩa gián tiếp, tức là không trực tiếp xác định hành vi hay đối tượng phạm tội
Ví dụ: Do chị Thu thiếu nợ anh Tấn quá hạn không trả nên anh Tấn cùng một
số người đến nhà chị Thu để đòi nợ Lời qua tiếng lại thì nảy sinh mâu thuẫn, anh Tấn có thủ sẳn con dao trên người nên đã lấy ra đâm chị Thu nhiều nhát khiến chị gục tại chỗ và tử vong ngay sau đó CQĐT sau đó tiến hành lấy lời khai của những người đi theo anh Tấn đến nhà chị Thu để đòi nợ, tất cả đều khai mình đã chứng kiến toàn bộ sự việc, do cảnh tượng quá dã man nên không ai dám vào can ngăn và sau đó bỏ chạy, hiện Tấn đang bị công an phát lệnh truy nã Qua trường hợp này,
có thể xác định lời khai của những người đi theo đòi nợ là chứng cứ gốc vì họ trực tiếp chứng kiến và khai chứ không kể lại cho ai nghe, tất cả lời khai của họ đều
Trang 97
trùng khớp với nhau nên có thể xác định Tấn là người giết chị Thu, CQĐT có đủ căn cứ để ban hành lệnh truy nã đối với Tấn
1.2.3.2.Chứng cứ thuật lại, chép lại
Chứng cứ thuật lại, chép lại là chứng cứ không được phản ánh từ nguồn đầu tiên, nơi mà nó xuất xử mà chỉ được thể hiện qua một giai đoạn trung gian Với tính chất nêu trên thì loại chứng cứ này sẽ phản ánh tình tiết khách quan của vụ án không được qua khâu trực tiếp, từ nguồn đầu tiên Chính vì vậy, tính xác thực, độ tin cậy tất nhiên sẽ thấp hơn chứng cứ gốc rất nhiều lần Thậm chí, khi chứng cứ này được thể hiện thông qua lời khai thì ít nhiều sẽ không phản ánh đúng đối tượng cần chứng minh vì sẽ còn tùy thuộc vào lời khai của ai, mối quan hệ giữa người khai với sự kiện hoặc vụ án đó như thế nào, v.v Cho nên khi thu thập lời khai từ người này nói cho người kia nghe thì phải hết sức cẩn thận, tránh chủ quan để có được thông tin chính xác nhất Mặc dù, loại chứng cứ này cũng có giá trị để chứng minh nhưng nhất thiết cần phải thu thập chứng cứ gốc, tiến hành kiểm tra đối chiếu lại với chứng cứ gốc đó Tuy nhiên, giống như chứng cứ gốc, cần phải thống nhất
rõ ràng rằng, chứng cứ gốc có thể chỉ là chứng cứ gián tiếp và ngược lại chứng cứ thuật lại, chép lại thì có thể là chứng cứ trực tiếp xác định được ngay hành vi, đối tượng cần chứng minh
Ví dụ: Anh Hùng đang trên đường đi làm gần về đến nhà thì thấy Minh và Tuấn (17 tuổi) đều là bạn học của con anh Hùng, xảy ra xô xát đánh nhau, khi Minh bắt đầu gục xuống thì Tuấn bỏ chạy, anh Hùng cùng một số người dân đưa Minh đi cấp cứu Anh Hùng sau đó về nhà và kể lại toàn bộ sự việc cho vợ anh là chị Thắm nghe Qua ngày hôm sau, do vết thương quá nặng nên Minh đã chết, công an vào cuộc điều tra, qua tìm hiểu thì xác định anh Hùng là người đã chứng kiến toàn bộ sự việc cũng như đưa Minh đi cấp cứu nên đến nhà tìm anh để lấy lời khai của người làm chứng Anh Hùng đã đi làm nên chị Thắm ở nhà đã kể lại sự việc ngày hôm qua như lời chồng mình nói cho công an ghi nhận lại Do đó, qua tình huống này có thể xác định lời khai của chị Thắm là loại chứng cứ chép lại, thuật lại do chị không trực tiếp chứng kiến quá trình vụ việc đã xảy ra như thế nào
mà chỉ thông qua lời kể lại của chồng mình
Trang 108
Thông qua những phân tích và ví dụ trên, có thể thấy việc phân loại chứng cứ
là vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc phân loại này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng dễ thu thập, phân loại, đánh giá chứng cứ đúng với quy định của pháp luật và xác định đúng vị trí của chứng cứ trong tổng thể các chứng cứ trong một vụ án
1.3 Nguồn chứng cứ trong Tố tụng hình sự
Chứng cứ là những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự mà dựa vào nó, các
cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ, tính chất hành vi và từ những tình tiết khác liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Đặc biệt phải đảm bảo ba thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp Trong đó, với yếu tố hợp pháp được thể hiện trên phương diện pháp lý, tức là chứng cứ phải được chứa đựng trong những nguồn và thu thập theo biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định BLTTHS 2015 chỉ liệt kê các nguồn chứng cứ , nhưng thông qua đó có thể 5
phân biệt được giữa nguồn chứng cứ với chứng cứ
1.3.1 Vật chứng
Vật chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng mà thông qua nó các cơ quan tiến hành tố tụng có thể chứng minh được sự việc hoặc định hướng điều tra Theo Điều 89 BLTTHS năm 2015, vật chứng được hiểu là “vật được dùng làm công cụ,
phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý
nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Với quy định trên, vật chứng có một số đặc
trưng cơ bản sau:
+ Thứ nhất, vật chứng tồn tại dưới dạng vật thể, sự thể hiện của vật chứng rất phong phú với đủ hình dạng, kích cỡ, trọng lượng, màu sắc Do tồn tại dưới dạng vật thể, vật chứng có thể bị các yếu tố tự nhiên tác động làm thay đổi, biến dạng hoặc bị hủy hoại, cho nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần chú ý trong quá trình phát hiện, thu giữ, bảo quản và xử lý vật chứng
5 Điều 87 Bộ luật TTHS 2015