Tham gia phong trào dân chủ ở quê hương khi mới 17 tuổi, với hơn 80 năm tuổi Đảng, Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh đã thể hiện một nhà mình là một lãnh đạo tài năng, nhà chính trị tầ
Trang 1MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh (bí danh Nguyễn Phú Hòa) sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế Tham gia phong trào dân chủ ở quê hương khi mới 17 tuổi, với hơn 80 năm tuổi Đảng, Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh đã thể hiện một nhà mình là một lãnh đạo tài năng, nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, trong suốt những năm hoạt động cách mạng, đồng chí luôn vững vàng bản lĩnh chính trị, giữ vững phẩm chất của người chiến sĩ cụ Hồ, hết lòng phụng sự
vì Tổ quốc và nhân dân Việt Nam
Không chỉ có những đóng góp lớn lao vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trên cương vị là Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh cũng có rất nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển của đất nước và đưa quan hệ ngoại giao của Việt Nam lên một tầm cao mới Là một vị Đại tướng, một vị Chủ tịch nước, một Đại tướng được công nhận
là nhân cách tài - đức vẹn toàn, trong hồi ức mỗi người đồng đội, mỗi người dân, mỗi cấp dưới, cùng cấp, cấp trên hay với bạn bè quốc tế, đồng chí Lê Đức Anh không chỉ là tấm gương một người cán bộ lãnh đạo dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm mà còn là một con người mẫu mực với những phẩm chất đáng quý
Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và chính trị sôi nổi, phong phú của đồng chí Lê Đức Anh
là một tấm gương sáng để mọi người dân Việt Nam noi theo Do đó, em xin chọn đề tài:
“Phong cách lãnh đạo của Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò là Chủ tịch nước Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997” làm đề tài nghiên cứu về các phong cách lãnh đạo.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phân tích các phong cách lãnh đạo của Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò là Chủ tịch nước Việt Nam giai đoạn 1992-1997 từ những dữ liệu lịch sử thu thập được Qua đó bài nghiên cứu muốn làm rõ hơn về lối lãnh đạo của Đại
Trang 2tướng khi hoạt động chính trị và phân tích ưu nhược điểm của những phong cách lãnh đạo này
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
Khái niệm
Khái niệm chung về phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo là dạng hành vi mà một người thực hiện để gây ảnh hưởng đến người khác (đối tượng bị lãnh đạo) theo nhận thức của đối tượng
Các phong cách lãnh đạo chính
Phong cách độc đoán
Kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một mình người quản lý, người lãnh đạo - quản lý bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí
và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể Khi nhà lãnh đạo đưa ra một ý kiến nào đó thì bắt buộc nhân viên, cấp dưới phải thực hiện theo như họ đã đưa ra Nhân viên sẽ không có bất kỳ một lời khuyên hoặc lời góp ý nào
Phong cách này thường được áp dụng đối với các nhà lãnh đạo có kỹ năng, trình độ chuyên môn cao và họ đã nắm chắc được thành công khi nhân viên thực hiện theo đúng ý mình hoặc họ nhận thấy nhân viên có đủ động lực làm việc
Đặc điểm của phong cách lãnh đạo này là:
Công việc quản lí do một người lãnh đạo chịu trách nhiệm, lãnh đạo quyết định tất cả các phương pháp và quy trình làm việc Thành viên trong nhóm hiếm khi được tin tưởng khi đưa ra ý kiến hoặc thực hiện nhiệm vụ quan trọng Công việc được tổ chức bài bản và cứng nhắc
Trang 3Chất lượng của quyết định quản lí phụ thuộc vào thông tin mà người lãnh đạo thu nhận được, phụ thuộc vào năng lực phân tích thông tin của anh ta Quyết định thường ngắn gọn, rõ ràng Việc ra quyết định quản lí phụ thuộc vào uy tín và năng lực thuyết phục của người lãnh đạo
Phong cách dân chủ
Lãnh đạo dân chủ, còn được gọi là lãnh đạo có sự tham gia hay lãnh đạo phân chia, trong
đó các thành viên của nhóm đóng góp nhiều hơn trong quá trình đưa ra ý tưởng Mặc dù lãnh đạo vẫn là người đưa ra quyết định cuối cùng nhưng mọi Nhân viên sẽ cùng với nhà lãnh đạo phân tích và xác định những việc cần thiết thực hiện và cách thức thực hiện ra sao Nhà lãnh đạo dân chủ sẽ có trách nhiệm lắng nghe và lựa chọn ý kiến tối ưu nhất Đặc điểm cơ bản của phong cách lãnh đạo dân chủ
Phong cách này dựa trên sự trao đổi rộng rãi, tích cực của người lãnh đạo và các thành viên trong tổ chức Phạm vi và mức độ của sự trao đổi tuỳ thuộc vào tính chất, yêu cầu của việc ra quyết định quản lí Quyết định được thông qua tại cuộc họp chung của tổ chức hoặc dựa trên sự bàn bạc, trao đổi, trên các thông tin do các thành viên đưa ra, người lãnh đạo sẽ ra quyết định quản lí
Phong cách này làm tăng thêm việc tiếp nhận thông tin từ phía các thành viên của nhóm, làm bớt căng thẳng trong quá trình ra quyết định Phong cách quản lí này nảy sinh nhiều khó khăn cho nên đòi hỏi người lãnh đạo phải có những phẩm chất như: Khả năng hiểu biết con người, kĩ thuật điều khiển các cuộc họp, biết chuẩn bị các cuộc thảo luận của nhóm Người lãnh đạo và nhóm cần học cách tiếp xúc với nhau
Phong cách tự do
Phong cách lãnh đạo tự do là nhà lãnh đạo sẽ cho phép các nhân viên được quyền ra quyết định, nhưng chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra Nhân viên có khả năng phân tích tình huống và xác định những gì cần làm và làm như thế nào
Trang 4Phong cách lãnh đạo này được sử dụng đối với tình huống nhà lãnh đạo có quá nhiều vấn
đề cần được giải quyết Đồng thời họ tin tưởng vào khả năng nhận định và phân tích vấn
đề của nhân viên cấp dưới có khả năng giải quyết những vấn đề đó
Đặc điểm cơ bản của phong cách lãnh đạo tự do
Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên
Phong cách này ít tồn tại và áp dụng trong đời sống xã hội Bởi lẽ, ở đây chức năng và các quyết định quản lí hoàn toàn do thành viên của tổ chức quyết định Tổ chức trở thành
"Nhóm không có người lãnh đạo“ Thiếu người lãnh đạo nhóm sẽ rối loạn, các lực lượng
sẽ phân tán theo các nhóm nhỏ hơn
Các yếu tố ảnh hưởng tới phong cách lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo của một nhà lãnh đạo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Dưới đây là một số yếu tố điển hình:
Hoàn cảnh lịch sử môi trường công tác
Đây chính là yếu tố đầu tiên tác động tới phong cách lãnh đạo Phần lớn các nhà lãnh đạo
sẽ áp dụng phong cách làm việc tại môi trường làm việc trước đó vào môi trường làm việc hiện tại Bởi khi làm việc tại môi trường trước đó đã tạo cho nhà lãnh đạo những thói quen về nghề nghiệp và điều này rất khó thay đổi
Nếu như được làm việc trong một môi trường tốt và có tính kỷ luật cao nhưng mọi việc lại mang tính chất dân chủ hoặc tự do hoặc độc đoán thì nhà lãnh đạo sẽ mang phong cách lãnh đạo đó Bởi họ đã có một khoảng thời gian dài tiếp xúc trong môi trường đào tạo như vậy nên nó sẽ góp phần vào việc tạo nên phong cách của các nhà lãnh đạo
Môi trường công tác của người lãnh đạo, quản lý
Trang 5Người lãnh đạo, quản lý là một thành tố của tổ chức Tổ chức quy định người nào giữ vị trí, chức năng gì trong guồng máy tổ chức, nó buộc con người phải hành động theo những nội quy, quy tắc nhất định của tổ chức, đào luyện con người Phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, yêu cầu hoạt động mà nảy sinh nhu cầu xây dựng phong cách người lãnh đạo, quản lý phù hợp
Tâm lý, nhân cách cá nhân của nhà lãnh đạo
Tâm lý của nhà lãnh đạo cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới phong cách lãnh đạo Phần lớn mọi người khi mới bắt đầu với công việc đều có phần e ngại và không dám bộc
lộ hết phong cách lãnh đạo của mình Tuy nhiên sau một thời gian dài làm việc, mọi việc tiến triển tốt đẹp thì họ mới thể hiện hết phong cách lãnh đạo của mình
Những nét tâm lý, nhân cách mà người lãnh đạo, quản lý được giáo dục và tự giáo dục trong cuộc sống hằng ngày khi đã trở thành thuộc tính tâm lý cá nhân sẽ góp phần tạo nên đặc điểm riêng, tương đối ổn định trong cách thức hoạt động tạo nên phong cách của họ Ngược lại, khi người lãnh đạo, quản lý chủ động rèn luyện mình theo một mẫu phong cách lãnh đạo, quản lý thì cũng chính là quá trình họ bổ sung vào nhân cách của mình những thuộc tính tâm lý tương ứng với yêu cầu của phong cách mới
Trình độ và năng lực của nhà lãnh đạo
Tùy thuộc vào trình độ và năng lực của mình mà các nhà lãnh đạo sẽ chọn cho mình một phong cách khác nhau
Chẳng hạn đối với những người có năng lực cao, trình độ chuyên môn tốt thường sẽ chọn cho mình phong cách lãnh đạo độc đoán nhằm mang tới hiệu quả công việc nhanh chóng Ngược lại đối với những nhà lãnh đạo không có kỹ năng chuyên môn tốt sẽ không dám tự đưa ra quyết định trong công việc Họ thường phải tham khảo thêm ý kiến của cấp dưới
Do đó những nhà lãnh đạo này thường mang phong cách lãnh đạo tự do hoặc dân chủ
Sự rèn luyện trong thực tiễn và quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ
Trang 6Thực tiễn và quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ đặt ra nhiều tình huống đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải giải quyết Muốn giải quyết tình huống có hiệu quả thì người lãnh đạo, quản lý phải lựa chọn phong cách lãnh đạo, quản lý phù hợp Qua thực tiễn và quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ sẽ giúp người lãnh đạo, quản lý kiểm nghiệm phong cách lãnh đạo, quản lý nào là phù hợp, phong cách lãnh đạo, quản lý nào không phù hợp, từ đó điều chỉnh hợp lý
Tóm tắt chương 1
Phong cách lãnh đạo có ba dạng phổ biến nhất, đó là phong cách độc đoán, phong cách dân chủ, và phong cách tự do Mặc dù là ba phong cách lãnh đạo là khác nhau, song không nhất thiết một nhà quản lý chỉ áp dụng một loại phong cách lãnh đạo nhất định trong quá trình điều khiển và giám sát công việc Mỗi phong cách lãnh đạo trên đều có những điểm tích cực và hạn chế nhất định, chúng mang một ý nghĩa tương đối và được xác định hoặc thay đổi tùy vào những hoàn cảnh cụ thể của từng nhà lãnh đạo
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẠI TƯỚNG
LÊ ĐỨC ANH TRONG VAI TRÒ LÀ CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM NHIỆM KỲ 1992-1997
Thực trạng về phong cách lãnh đạo của Đại tướng Lê Đức Anh
Tiểu sử của Đại tướng Lê Đức Anh
Những năm đầu đời
Lê Đức Anh sinh vào ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại làng Trường Hà, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế, trong một gia đình bần nông với tên khai sinh là Lê Văn Giác Lên năm tuổi, ông được học chữ Nho tại nhà Đến tuổi cắp sách tới trường, cậu được học chữ Quốc ngữ ở làng Dưỡng Mong và trường An Lương Đông, huyện Phú Lộc Tới năm 11, ông ra thành phố Vinh, Nghệ An ở nhà chị gái, rồi quay lại Phú Vang giúp cha mẹ làm nông Năm 15 tuổi, ông đi gia sư, dạy chữ Quốc ngữ cho một số trẻ em trong làng, trong thời gian này, ông còn đọc nhiều tờ báo như Nhành lúa, Lao động, Thời báo, Dân, hay
Trang 7các cuốn sách “Vấn đề dân cày”, “Đông Dương với vấn đề phòng thủ”, … cho bà con hàng xóm nghe Tinh thần cách mạng của cố Chủ tịch nước được hun đúc chính trong thời gian này
Qúa trình tham gia cách mạng và chính trị
Từ năm 1937, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, trong Mặt trận Dân chủ huyện Phú Vang và Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế Năm 1944 ông tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh
Từ Tháng 8/1945 ông tham gia Quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn và Trung đoàn, Tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Tham mưu phó, quyền Tham mưu Trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ
Từ 1955 ông giữ các chức vụ Cục phó Cục Tác chiến; Cục Trưởng Cục Quân lực thuộc
Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Phó Tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam; Tư lệnh Quân khu 9 (năm 1969)
Từ 1974-1975 ông giữ Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền Nam, (tháng 6/1974 được thăng quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng); Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư Lệh cách quân hướng Tây Nam đánh vào Sài Gòn
Từ 1976 ông là Tư lệnh Quân khu 9; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, kiêm chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam; được thăng quân hàm Thượng tướng năm 1980
Năm 1981, ông được bổ nhiểm là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Camphuchia; được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V bầu vào Bộ Chính trị (năm 1982); được thăng quân hàm Đại tướng năm 1984; được giao giữ chức Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam năm 1986
Trang 8Từ 02/1987-8/1991, Đại tướng Lê Đức Anh là Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VI: 1986-1991), Phó Bí thư Đảng ủy Quân
sự Trung ương; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII1991-1997), Thường trực Bộ Chính trị
Từ năm 1992-9/1997: Đại tướng Lê Đức Anh là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; là Chủ tịch nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Từ 12/1997 đến Tháng 4/2001: Đại tướng là Ủy viên Ban cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 4/2001, Đại tướng Lê Đức Anh nghỉ hưu
Đại tướng Lê Đức Anh là Đại biểu Quốc hội khóa: VI, VII, VIII và IX; Uỷ viên Trung ương Đảng khóa: IV, V, VI, VII và VIII; Uỷ viên Bộ Chính trị khóa: V, VI, VII và VIII Trong suốt quá trình công tác, Đại tướng Lê Đức Anh đã nhận được nhiều Huân Huy chương cao quý như Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạn nhất, Huân chương chiến thằng hạng nhất và nhiều Huân chương cao quý của nhà nước Liên Xô; Cu Ba; Cam phuchia; Lào
Câu chuyện phân tích
Tháng 9/1992, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX, đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997 Đây là giai đoạn Việt Nam triển khai toàn diện công cuộc đổi mới với nỗ lực cao của toàn Đảng, toàn dân Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều bất lợi với Việt Nam, đặc biệt sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, đảm nhiệm trọng trách mới, trên cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã cùng Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và
Trang 9tập thể Bộ Chính trị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trăn trở, tìm tòi biện pháp, quyết sách đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố an ninh - quốc phòng và mở cửa hội nhập quốc tế; kiên định con đường đổi mới để tiến lên
Ở phần thực trạng chúng ta sẽ đi phân tích một số quyết định của ông để thấy rõ hơn về các phong cách lãnh đạo của Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong nhiệm kỳ 1992-1997
Phân tích thực trạng về phong cách lãnh đạo của Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò là Chủ tịch nước Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997
Phong cách lãnh đạo độc đoán
Trong khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người ủng hộ cải cách và đổi mới kinh tế một cách đột phá như: Xóa bỏ chỉ tiêu pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh; thực hiện thương mại hóa tư liệu sản xuất, cho phép các doanh nghiệp lớn, cả trung ương và địa phương, được trực tiếp xuất nhập khẩu, chấm dứt tình trạng hai giá,… Thì ông Lê Đức Anh lại thận trong hơn trong việc đổi mới kinh tế
Xuất thân từ vùng đất miền trung đầy nắng gió, Đại tướng Lê Đức Anh luôn rất cẩn trọng
về mặt cải cách kinh tế, với ông các nỗ lực phát triển kinh tế theo hướng thị trường rất có thể bị các nhà lý luận quy là “chệch hướng”; các nỗ lực dân chủ hóa cũng có thể bị quy là
“diễn biến hòa bình”
Lê Đức Anh,ủng hộ và không bao giờ phản đối tự do báo chí, tự do tư tưởng, những ông sẵn sàng "tấn công" những người chống lại mục tiêu xã hội chủ nghĩa Tại Đại hội Nhà văn lần thứ 4, Lê Đức Anh tuyên bố một số tác phẩm văn học nhất định đã "bôi nhọ Đảng
và lãnh đạo nhà nước và làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và nhà nước." Trong một cuộc họp báo vào năm 1992, ông nói rằng "thông tin phải được định hướng"
và báo chí vẫn phải "là lực lượng chính trên mặt trận ý thức hệ và văn hóa." Ông tiếp tục chỉ trích các phương tiện truyền thông đã lợi dụng quyền tự do báo chí để chỉ trích Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội Vào năm 1993, Lê Đức Anh tuyên bố rằng báo chí đã bị
"thương mại hóa" do các cải cách kinh tế
Trang 10Phong cách lãnh đạo dân chủ
Dưới thời Lê Đức Anh, ít nhất ba phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương được tổ chức mỗi năm Ông đã đưa trật tự, thói quen và khả năng dự đoán vào hệ thống chính trị của đảng Mỗi hội nghị tập trung vào các vấn đề chính và các cuộc thảo luận diễn ra trong môi trường chuyên sâu và quyết liệt Dưới sự chỉ đạo của Lê Đức Anh, Ban Chấp hành Trung ương tập trung vào các vấn đề quốc gia chứ không phải về đảng như dưới thời Nguyễn Văn Linh Theo Louis Stern: “Lê Đức Anh đã đưa vào phiên họp toàn thể một quá trình làm việc theo từng nhóm nhỏ trong việc chuẩn bị xem xét chính sách cụ thể, từ đó thu hút sự tham gia đóng góp ý kiến từ các chuyên gia kỹ thuật, 'những nhóm nhà khoa học' không xác định, 'giới trí thức trong và ngoài nước' (có thể đang ám chỉ các nhà đầu tư, doanh nhân và nhà kinh tế Việt Nam sinh sống tại hải ngoại), các cựu chiến binh, cũng như theo phân loại thông thường gồm cán bộ, đảng viên và đại diện Đảng ủy." Các nhóm này được trao quyền chuẩn bị và nhận báo cáo dành cho Ban Chấp hành Trung ương trước và tiến hành chuẩn bị các đề xuất hoặc nhận xét về các tài liệu cụ thể được đưa ra trong hội nghị
Trong suốt thời kỳ lãnh đạo của mình, Lê Đức Anh đã cố gắng dẫn dắt các cuộc tranh luận của Ban Chấp hành Trung ương đến sự đồng thuận Ông bỏ qua các vấn đề gây tranh cãi nhằm tránh sự chia rẽ trong Ban Chấp hành Khi không đạt được đồng thuận, như trường hợp của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa 7 khi nó không đưa
ra được một chỉ dẫn phù hợp theo hướng công tác tư tưởng, nhiệm vụ sửa đổi và cải thiện các quyết sách của Ban Chấp hành Trung ương sau đó được chuyển sang cho Bộ Chính trị khóa 7
Ngược lại với Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh đã tìm kiếm nền tảng chung với Ban Chấp hành Trung ương hơn là tự vận động cho những quan điểm của riêng minh Trong bài phát biểu
và trong các cuộc tranh luận, Lê Đức Anh ít gây tranh cãi và khi phát biểu, ông ủng hộ các nguyên tắc truyền thống của Đảng Cộng sản Theo Louis Stern, "Không giống như