Những căng thẳng liên quan tới ngoại hình hoặc sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể đã được chứng minh là có thể tiên lượng trước sự gia tăng các triệu chứng trầm cảm ở vị thành niên dẫn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ KIM DIỆN
MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÌNH ẢNH CƠ THỂ VÀ CÁC VẤN ĐỀ HƯỚNG NỘI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
MÃ SỐ: 8310401.05
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.BAHR WEISS
Hà Nội - 2022
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô của khoa Các khoa học giáo dục - trường đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các cán bộ nhà trường
đã tạo điều kiện cho em thực hiện luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS Bahr Weiss đã nhận lời hướng dẫn em trong quá trình làm luận văn Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hồ Thu Hà và ThS Nguyễn Minh Hằng - hai người chị đã rất kiên nhẫn, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cho em nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình em thực hiện nghiên cứu cũng như viết báo cáo cho luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô và các bạn học sinh của trường Tiểu học và trung học cơ sở Thái Thọ, Tiểu học và trung học cơ sở Thụy Hải, Trung học cơ sở Đông Mỹ, và Trung học cơ sở Lê Hồng Phong đã đồng ý tham gia để tôi có thể tiến hành khảo sát tại các trường này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong tập thể K11- Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên Các anh chị và các bạn đã đồng hành và động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt hành trình học tập này
Cuối cùng, với tất cả tình cảm của mình, tôi biết ơn cha mẹ và gia đình, bạn bè luôn luôn ở bên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Trong điều kiện thời gian nghiên cứu không nhiều, kinh nghiệm nghiên cứu còn non trẻ nên luận văn còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến giúp em có thể hoàn thành luận văn được tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Kim Diện
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ “Mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể và
các vấn đề hướng nội của học sinh trung học cơ sở” là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả Phạm Thị Kim Diện
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tiêu chí lựa chọn khách thể trả lời phỏng vấn sâu 46
Bảng 2.2 Thống kê một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu 48
Bảng 2.3 Chỉ số khối cơ thể (BMI) của học sinh 50
Bảng 3.1 Cảm nhận về hình ảnh cơ thể của học sinh qua thang đo BESAA 52
Bảng 3.2 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo giới tính 55
Bảng 3.3 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo khu vực sống 57
Bảng 3.4 Tương quan giữa HACT và ý nghĩa ngoại hình, ý nghĩa cân nặng 58
Bảng 3.5 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo chỉ số khối cơ thể (BMI) 60
Bảng 3.6 Tỷ lệ mức độ các vấn đề hướng nội của học sinh 62
Bảng 3.7 So sánh ĐTB các vấn đề hướng nội theo giới tính 63
Bảng 3.8 Tương quan giữa VĐHN theo ý nghĩa ngoại hình, ý nghĩa cân nặng, và chỉ số BMI 64
Bảng 3.9 Mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội 65
Bảng 3.10 ĐTB các hỗ trợ xã hội của học sinh 67
Bảng 3.11 Tương quan giữa các vấn đề hướng nội và hỗ trợ xã hội 69
Bảng 3.12 Tương quan giữa hình ảnh cơ thể và hỗ trợ xã hội 71
Bảng 3.13 ĐTB và tỷ lệ tần suất các khó khăn trong ĐCCX của học sinh 72
Bảng 3.14 So sánh ĐTB các khó khăn trong ĐCCX theo giới tính 76
Bảng 3.15 Tương quan giữa hình ảnh cơ thể và các khó khăn trong ĐCCX 78
Bảng 3.16 Tương quan giữa các VĐHN và các khó khăn trong ĐCCX 79
Bảng 3.17 Mô hình hồi quy các vấn đề hướng nội và một số biến số 81
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1 Cảm nhận của học sinh về ý nghĩa ngoại hình và ý nghĩa cân nặng 51
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA HÌNH ẢNH CƠ THỂ VÀ CÁC VẤN ĐỀ HƯỚNG NỘI 7
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể 7
1.1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm, sự phát triển hình ảnh cơ thể 7
1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp đo lường/đánh giá hình ảnh cơ thể 9
1.1.1.3 Phương pháp can thiệp các vấn đề hình ảnh cơ thể 12
1.1.1.4 Đặc điểm hình ảnh cơ thể ở các nhóm đối tượng khác nhau 13
1.1.1.5 Các yếu tố liên quan tới hình ảnh cơ thể 17
1.1.2 Các nghiên cứu về các vấn đề hướng nội 20
1.1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng của các vấn đề hướng nội 20
1.1.2.2 Nghiên cứu về yếu tố nguy cơ của các vấn đề hướng nội 21
1.1.2.3 Nghiên cứu về yếu tố bảo vệ của các vấn đề hướng nội 26
1.1.3 Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa HACT và các VĐHN 27
1.1.3.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội 27
1.1.3.2 Các nghiên cứu vai trò của hỗ trợ xã hội và khả năng điều chỉnh cảm xúc đối với mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội 31
1.2 Khái niệm công cụ 32
1.2.1 Khái niệm hình ảnh cơ thể 32
1.2.2 Khái niệm các vấn đề hướng nội 34
1.2.3 Khái niệm hỗ trợ xã hội 35
1.2.4 Khái niệm điều chỉnh cảm xúc 35
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THCS 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Tiến trình nghiên cứu 40
2.2 Quy trình thu thập dữ liệu 41
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 41
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 42
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 46
Trang 72.3.4 Phương pháp thống kế toán học 47
2.4 Khách thể nghiên cứu 48
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Thực trạng cảm nhận hình ảnh cơ thể của học sinh 51
3.1.1 Cảm nhận chung của học sinh về hình ảnh cơ thể 51
3.1.2 So sánh cảm nhận về hình ảnh cơ thể theo các đặc điểm 55
3.1.2.1 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo giới tính 55
3.1.2.2 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo khu vực sống 57
3.1.2.3 Mối liên hệ giữa HACT và ý nghĩa ngoại hình, ý nghĩa cân nặng 58
3.1.2.4 So sánh ĐTB hình ảnh cơ thể theo phân loại BMI 59
3.2 Thực trạng vấn đề hướng nội 62
3.2.1 Mức độ stress, lo âu, trầm cảm ở học sinh 62
3.2.2 So sánh mức độ stress, lo âu, trầm cảm theo một số đặc điểm 63
3.3 Mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và vấn đề hướng nội 65
3.3.1 Tương quan giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội 65
3.3.2 Mối liên hệ của HTXH với HACT và VĐHN 67
3.3.2.1 Thực trạng hỗ trợ xã hội 67
3.3.2.2 Mối liên hệ giữa hỗ trợ xã hội với các VĐHN và hình ảnh cơ thể 69
3.3.3 Mối liên hệ của các khó khăn điều chỉnh cảm xúc với HACT và VĐHN 72 3.3.3.1 Thực trạng khó khăn điều chỉnh cảm xúc 72
3.3.3.2 Mối liên hệ giữa các khó khăn trong điều chỉnh cảm xúc với các VĐHN và hình ảnh cơ thể 77
3.4 Dự báo vấn đề hướng nội từ một số biến số 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 KẾT LUẬN 84
2 KHUYẾN NGHỊ 85
PHỤ LỤC 1 87
PHỤ LỤC 2 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển, mỗi cá nhân có nhiều mối bận tâm, trong đó có mối bận tâm về hình ảnh cơ thể Mối quan tâm và lo lắng về ngoại hình là điều phổ biến ở những người trẻ tuổi Tuổi dậy thì và vị thành niên dường như là một giai đoạn chuyển đổi lớn về hình ảnh cơ thể (Stice, 2003), là khoảng thời gian đặc biệt khó khăn cho mối quan hệ giữa người trẻ và cơ thể của họ Ngoại hình bắt đầu biến chuyển và thay đổi Quá trình này hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của mỗi người và không
có cách nào để dừng nó lại Đây cũng là lứa tuổi rất nhạy cảm với sự thay đổi ngoại hình cũng như tâm sinh lý của bản thân Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng tuổi
vị thành niên là thời điểm đặc biệt quan trọng dễ phát triển sự không hài lòng với hình ảnh cơ thể (Cheung, Lee, 2011; Gardner, 2001) Các cuộc khảo sát trực tuyến mới do
Tổ chức Sức khỏe Tâm thần với YouGov thực hiện vào tháng 3 năm 2019 với 4.505 người lớn từ 18 tuổi trở lên và 1.118 vị thành niên (13-19 tuổi) ở Vương quốc Anh đưa ra kết quả thu được ở vị thành niên, 40% cảm thấy lo lắng, 37% cảm thấy khó chịu và 31% cảm thấy xấu hổ liên quan đến hình ảnh cơ thể của mình [66] Tác giả Charlotte N Markey (2010) chỉ ra số lượng lớn trẻ em gái (24–90%) và trẻ em trai (10–75%) bị ảnh hưởng bởi sự không hài lòng về cơ thể 70% trẻ em gái vị thành niên
và 50% trẻ em trai vị thành niên không hài lòng với cơ thể của mình và muốn thay đổi ngoại hình của chúng (dẫn theo Gattario, 2013) Hình ảnh cơ thể có liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của trẻ: tuổi dậy thì, bản sắc cá nhân, gia đình, bạn bè và các mối quan hệ lãng mạn Có thể thấy đánh giá ngoại hình tác động nhiều đến tâm lý, chất lượng học tập và ảnh hưởng đến cuộc sống các em không chỉ ở hiện tại mà còn trong tương lai (Charlotte, 2010)
Các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em và vị thành niên vẫn luôn là một đề tài nhận được nhiều sự quan tâm, trong đó nổi bật là các vấn đề hướng nội như lo âu, trầm cảm, than phiền cơ thể… Theo hướng dẫn mới của WHO về tăng cường sức khỏe tâm thần ở vị thành niên đăng tải vào ngày 28 tháng 9 năm 2020, trầm cảm là nguyên nhân thứ tư gây ra bệnh tật và tàn tật ở vị thành niên từ 15-19 tuổi và thứ mười lăm đối với những người từ 10-14 tuổi trên toàn thế giới Lo lắng là nguyên nhân
Trang 9đứng hàng thứ chín đối với vị thành niên từ 15-19 tuổi và thứ sáu đối với những người
từ 10-14 tuổi Rối loạn cảm xúc có thể ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như học tập và vui chơi Tệ hơn, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử [110] Theo một vài khảo sát trong ở Việt Nam, gần 1/4 (22.8%) học sinh trung học ở Cần Thơ có nguy cơ lo âu, và 2/3 (41.1%) có nguy cơ trầm cảm [16]
Đối với vị thành niên, việc đánh giá về sự phát triển thể chất hoặc hình ảnh cơ thể là những lĩnh vực tự đánh giá nổi bật và chúng có nguy cơ dẫn tới các vấn đề hướng nội Những căng thẳng liên quan tới ngoại hình hoặc sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể đã được chứng minh là có thể tiên lượng trước sự gia tăng các triệu chứng trầm cảm ở vị thành niên (dẫn theo Ramos, 2019) Đồng thời, mối bận tâm về hình ảnh cơ thể dường như có tác động mạnh mẽ hơn đến trẻ em gái so với các trẻ em trai
về cả các triệu chứng hướng nội (dẫn theo Stice, 2001) Trong báo cáo của UNICEF Việt Nam (2018) đã đề cập đến yếu tố nguy cơ gây ra vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh, trong đó nổi bật là nhóm vấn đề về cảm xúc là liên quan đến những quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất vị thành niên Những lo ngại bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở những em gái lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt hoặc những em bị coi là thừa cân Những mối lo khác xoay quanh hình thể thấp bé, dẫn đến việc bị chọc ghẹo, bêu tên và phân biệt đối xử trong các hoạt động thể thao tại trường học [8] Vì vậy, việc tìm hiểu về mối quan hệ giữa HACT và VĐHN có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng ta có thêm các gợi ý trong các hoạt động can thiệp, phòng ngừa vấn đề hướng nội ở học sinh
Hỗ trợ xã hội và khả năng điều chỉnh cảm xúc là một vấn đề được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu về vấn đề hướng nội ở trẻ vị thành niên Theo tác giả Bearman và Stice (2008), sự không hài lòng về cơ thể là một yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở trẻ em gái vị thành niên, và sự hỗ trợ của gia đình có là vai trò trung gian quan trọng của trong việc giải quyết mối quan hệ này Sự hỗ trợ của bạn bè đồng trang lứa điều chỉnh mối liên hệ tích cực giữa sự không hài lòng về cơ thể và các triệu chứng trầm cảm (Morken và các cs., 2018) Bên cạnh đó, người ta cũng cho rằng vị thành niên có khả năng điều chỉnh cảm xúc hiệu quả sẽ ít gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến các vấn đề về hình ảnh cơ thể (Hughes, Gullone, 2011) Khi nghiên cứu
Trang 10về mối quan hệ giữa HACT và VĐHN, việc tìm hiểu về các yếu tố liên quan như HTXH và ĐCCX sẽ giúp chúng ta khám phá sâu hơn mối quan hệ này
Trong quá trình đọc tổng quan và tìm tài liệu tham khảo những nghiên cứu đã
có ở Việt Nam cho đề tài, chúng tôi không tìm được nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội nói chung cũng như ở học sinh THCS nói riêng Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này hướng tới việc mới chỉ đánh giá một số khía cạnh nhỏ trong HACT hay đánh giá tác động của các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan tới cân nặng (Đặng Kim Anh và các cộng sự, 2020; Trần Thành Nam và cộng sự, 2018; Nguyễn Xuân Bách và cs, 2020) Xuất phát từ những lý
do về thực tiễn và lý luận trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Mối liên hệ giữa hình ảnh
cơ thể và vấn đề hướng nội của học sinh trung học cơ sở” nhằm tìm hiểu về mối quan
hệ giữa HACT với VĐHN cũng như một số yếu tố liên quan tới mối quan hệ này
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được khảo sát để tìm hiểu về thực trạng hình ảnh cơ thể, các vấn đề hướng nội cũng như mối liên hệ giữa hai biến này ở học sinh THCS, từ đó nhằm góp phần tạo cơ sở hỗ trợ quá trình giáo dục và tìm ra giải pháp mang tính phòng ngừa cho học sinh, giảm thiểu tình trạng xuất hiện những vấn đề về sức khỏe tâm thần nói chung và vấn đề hướng nội ở học sinh nói riêng, bổ sung thêm vào nhóm những nghiên cứu về hình ảnh cơ thể và vấn đề hướng nội ở Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
• Thực trạng cảm nhận về hình ảnh cơ thể của học sinh THCS như thế nào?
• Thực trạng những vấn đề hướng nội của học sinh như thế nào?
• Hình ảnh cơ thể và vấn đề hướng nội ở học sinh trung học cơ sở có mối liên
hệ như thế nào với nhau?
• Những yếu tố: hỗ trợ xã hội và điều chỉnh cảm xúc có liên quan như thế nào tới cảm nhận về HACT và VĐHN?
Trang 114 Giả thuyết nghiên cứu
• Đa số học sinh có cảm nhận về hình ảnh cơ thể ở mức điểm trung bình, tức là
ở ngưỡng giữa của dải từ hình ảnh cơ thể tiêu cực đến hình ảnh cơ thể tích cực
• Một nhóm các học sinh có những triệu chứng hướng nội, trong đó các triệu chứng lo âu xuất hiện nhiều nhất
• Điểm số về hình ảnh cơ thể có mối tương quan nghịch với điểm số các vấn đề hướng nội ở học sinh trung học cơ sở, nghĩa là học sinh càng có hình ảnh cơ thể tích cực thì càng có ít các vấn đề hướng nội
• Hỗ trợ xã hội có tương quan thuận với cảm nhận về hình ảnh cơ thể và tương quan nghịch với các vấn đề hướng nội Khó khăn trong điều chỉnh cảm xúc có tương quan nghịch với cảm nhận về hình ảnh cơ thể và tương quan thuận với các vấn đề hướng nội Hỗ trợ xã hội và điều chỉnh cảm xúc, cùng với hình ảnh cơ thể dự báo được cho biến phụ thuộc vấn đề hướng nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: tìm hiểu sách, tài liệu, các bài báo khoa học và các nghiên cứu
trước đây để xây dựng tổng quan các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể, vấn đề hướng nội
và các yếu tố ảnh hưởng/liên quan tới mối quan hệ này; xây dựng các khái niệm công
cụ sử dụng trong nghiên cứu: hình ảnh cơ thể, vấn đề hướng nội, hỗ trợ xã hội, điều chỉnh cảm xúc
Về mặt thực tiễn: tìm hiểu thực trạng cảm nhận hình ảnh cơ thể và thực trạng
mức độ các vấn đề hướng nội ở học sinh Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến mối liên
hệ giữa HACT và VĐHN Đưa ra các khuyến nghị về phía gia đình, nhà trường nhằm nâng cao hình ảnh cơ thể và phòng ngừa các vấn đề hướng nội cho học sinh
6 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể với các vấn đề hướng
nội ở học sinh trung học cơ sở
• Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là 470 học sinh trung học cơ sở
được lựa chọn ngẫu nhiên theo lớp từ khối 6 đến khối 9 từ bốn trường tại tỉnh Thái
Trang 12Bình: TH&THCS Thái Thọ, TH&THCS Thụy Hải, TH&THCS Đông Mỹ, TH&THCS Lê Hồng Phong
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá các tài
liệu và các công trình nghiên cứu trước để kế thừa có chọn lọc lịch sử vấn đề nghiên cứu góp phần bổ sung hệ thống lý luận cho đề tài nghiên cứu cũng như xây dựng công
cụ nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tham khảo các nghiên cứu đã công bố về
hình ảnh cơ thể, các vấn đề hướng nội, xây dựng bảng hỏi, thang đo nhằm điều tra thực trạng cảm nhận về hình ảnh cơ thể, các vấn đề/triệu chứng hướng nội Phương pháp này được sử dụng để khảo sát số liệu định lượng học sinh từ một số trường trung học cơ sở tại Thái Bình
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp được sử dụng nhằm tìm hiểu
thêm những thông tin sâu hơn, những thông tin góp phần giải thích, bổ sung cho bảng hỏi khảo sát mà học sinh đã làm trước đó Sau khi lọc ra khách thể phỏng vấn từ quá trình xử lý số liệu,chúng tôi gọi điện liên hệ với phụ huynh xin phép cho trẻ tham gia phỏng vấn, đặt lịch hẹn và phỏng vấn trẻ qua điện thoại với bộ câu hỏi đã được soạn trước
- Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng để xử lí các số
liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm đưa ra các kết luận định lượng cho đề tài, làm cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ chính xác, tin cậy; trên
cơ sở đó đưa ra những kết luận về mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội cũng như các yếu tố liên quan
8 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi thời gian và địa bàn nghiên cứu:Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2022 tại một số trường THCS tại Thái Bình
• Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung xem xét nhận thức/thái độ/đánh giá của
học sinh về ngoại hình bản thân Bên cạnh đó, tìm hiểu những vấn đề hướng nội của học sinh trong phạm vi các triệu chứng stress/căng thẳng, lo âu, trầm cảm
Trang 139 Cấu trúc luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA
HÌNH ẢNH CƠ THỂ VÀ CÁC VẤN ĐỀ HƯỚNG NỘI 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể
1.1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm, sự phát triển hình ảnh cơ thể
Trên thế giới, có nhiều quan sát có hệ thống để khám phá về hình ảnh cơ thể được các nhà nghiên cứu sử dụng Theo Linda Smolak (2011), trong quá trình phát triển của một cá nhân, khoảng 2 tuổi, trẻ mới có nhận thức rõ ràng về ―tôi‖, nhận biết bản thân (và các đặc điểm của chúng) trong gương và ảnh và biết tự gọi tên mình trong gương Hơn nữa, trẻ mới biết đi thể hiện sự tự hào và xấu hổ, trong khi trẻ mẫu giáo (4–6 tuổi) có thể so sánh hành vi của chúng với một đứa trẻ khác Trẻ 5 tuổi có một số lo lắng về kích thước cơ thể, mong muốn được lớn hơn Điều này có thể chỉ đơn giản là phản ánh mong muốn của chúng là được lớn lên, giống như những "đứa trẻ lớn" mà chúng biết Tuy nhiên, đến 6 tuổi, có bằng chứng rõ ràng rằng trẻ em bắt đầu quan tâm đến cân nặng và hình dáng theo những cách gần giống với mối quan tâm của vị thành niên và người lớn Đến khoảng 8 tuổi, trẻ tự so sánh mình với nhiều trẻ khác, trong số những so sánh xã hội mà chúng thực hiện có những so sánh về ngoại hình Việc tự đánh giá của trẻ em được phân biệt thành bốn lĩnh vực: năng lực học tập, năng lực xã hội, kỹ năng thể chất/thể thao và ngoại hình Hai hạng mục tự đánh giá cuối cùng này rõ ràng là các thành phần cấu thành hình ảnh cơ thể Do đó, phát triển bản thân, bao gồm cả kỹ năng so sánh xã hội đang phát triển, là một phần nền tảng của hình ảnh cơ thể [22, tr67-68]
Các nghiên cứu cho thấy rằng nhìn chung, sự không hài lòng về cơ thể gia tăng
từ cuối thời thơ ấu đến đầu tuổi trưởng thành, lòng tự trọng về cơ thể (body-esteem) cũng giảm trong khoảng thời gian này, sau đó dần ổn định Nelson và các cộng sự (2018) đã xác định ba nhóm phát triển của sự tự trọng ngoại hình từ 10 đến 24 tuổi: cao và tương đối ổn định (53%), suy giảm trung bình ở đầu tuổi vị thành niên (36%)
và suy giảm mạnh ở tuổi vị thành niên (11%) (dẫn theo Emilie Lacroix, 2020) Tác giả Davison và cộng sự (2003) đã báo cáo sự cải thiện lòng tự trọng về cơ thể (body-
Trang 15cả nam và nữ dường như bị giảm lòng tự trọng về cơ thể mặc dù mức giảm của trẻ nam có thể ít nghiêm trọng hơn và sự phục hồi có thể nhanh hơn so với mức giảm của trẻ gái (dẫn theo Smolak, 2004) Mặc dù hình ảnh cơ thể tương đối không đổi theo thời gian nhưng chúng thay đổi trong một số bối cảnh nhất định (các mức độ dễ bị tổn thương và thay đổi theo độ tuổi cụ thể sau khi tiếp xúc với phương tiện truyền thông hoặc thay đổi tình trạng sức khỏe được làm nổi bật bởi các nghiên cứu theo chiều dọc
và nghiên cứu thực nghiệm) [12]
Tác giả Vani và các cộng sự (2021) khi tìm hiểu các mô hình và lý thuyết về cách mà hình ảnh cơ thể phát triển đã đề cập tới ba mô hình: mô hình ảnh hưởng ba bên (the tripartite influence model), lý thuyết so sánh xã hội (social comparison
theory) và lý thuyết sự sai lệch bản thân (self-discrepancy theory) Mô hình ảnh
hưởng ba bên - the tripartite influence model (Thompson và cộng sự, 1999) là một
quan điểm lâu đời phù hợp với quan điểm văn hóa xã hội Mô hình này cho thấy rằng
có những yếu tố xã hội hình thành ảnh hưởng đến sự phát triển và duy trì hình ảnh cơ thể tiêu cực và ăn uống rối loạn Có ba ảnh hưởng xã hội chính là cha mẹ, bạn bè đồng trang lứa và phương tiện truyền thông tạo cơ sở cho sự phát triển sau này của các mối quan tâm về hình ảnh cơ thể (Thompson và cộng sự, 1999) Xét về tổng quan, người
ta cho rằng những tác nhân xã hội này thường thúc đẩy sự tập trung cao độ vào ngoại hình và/hoặc chức năng của cơ thể thông qua giao tiếp (trực tiếp và gián tiếp), phóng chiếu các giá trị và chuẩn mực, đồng thời tán thành các khuôn mẫu và hình dạng, kích
thước và chức năng của một hình mẫu cơ thể lý tưởng Lý thuyết so sánh xã hội
(social comparison theory) của Festinger (1954) nói rằng các cá nhân có nhu cầu cố hữu để đánh giá ngoại hình và khả năng của họ so với những người khác Theo lý thuyết này, các cá nhân hoặc so sánh mình với những người kém hơn (được gọi là so sánh xã hội hướng xuống- downward social comparison); hoặc so sánh mình với những người tốt hơn (được gọi là so sánh xã hội hướng lên-upward social comparison)
về các thuộc tính giá trị (ví dụ: ngoại hình, hình thể, kỹ năng thể chất) So sánh hướng xuống thường dẫn đến tri giác, nhận thức tích cực trong khi so sánh hướng lên liên tục
có liên quan đến kết quả hình ảnh cơ thể tiêu cực hơn Lý thuyết sự sai lệch bản thân
(self-discrepancy theory) (Higgins, 1987) chỉ ra sự khác biệt về hình dạng cơ thể thực
tế của một cá nhân (hoặc ngoại hình, năng lực, kỹ năng, v.v.) và hình dạng cơ thể
Trang 16mong muốn là các chỉ số về sự không hài lòng của cơ thể (nhận thức hình ảnh cơ thể) Ngoài việc so sánh, nội tâm hóa cơ thể lý tưởng (the internalization of body ideals) cũng được coi là một yếu tố liên quan đến việc các cá nhân sẽ trải nghiệm hình ảnh cơ thể tích cực hay tiêu cực [101]
1.1.1.2 Nghiên cứu về phương pháp đo lường/đánh giá hình ảnh cơ thể
Vào những năm 1990, những nghiên cứu về hình ảnh cơ thể phát triển mạnh
mẽ, nhiều khái niệm được đưa ra, nhiều thang đo bảng hỏi được xây dựng nhằm sử dụng để đo lường, đánh giá và trị liệu tâm lý liên quan đến lĩnh vực này
Đo lường, đánh giá bằng hình ảnh
Đây là phương pháp đánh giá sử dụng các hình vẽ đường nét của các hình người từ cực gầy đến béo để hỏi trẻ về nhận thức về hình dáng của bản thân và sở thích của chúng về hình dáng cơ thể Một số nhà nghiên cứu đã sử dụng các thang đo này với phiên bản bảy hình vẽ, một số khác sử dụng phiên bản có chín hình vẽ Các thang đo được sử dụng nhiều có thể kể đến của các tác giả Thompson and Gray - The Contour Drawing Rating Scale (1995); Collins (1991); Stulkart và cộng sự - Figure Rating Scale (1983); Truby và Paxton - Children‘s Body Image Scale (2002); Thompson & Altabe - Children‘s Body Image Scale (2002); Gardner và cộng sự - Body Image Assessment Scale-BD (2009) Các câu hỏi thường được đặt ra đối với trẻ
em khi sử dụng những thang đo này là về hình dáng bản thân hiện tại - ―Bạn thấy mình trông giống với hình ảnh nào nhất?‖, và hình dáng mà bản thân cho là hình dáng
lý tưởng -―Bạn muốn mình trông giống với hình ảnh nào nhất?‖ Hiệu số của sự khác biệt giữa hai sự lựa chọn này đã được sử dụng để làm thước đo cho sự không hài lòng
về hình dáng cơ thể Sự chênh lệch càng lớn càng thể hiện sự không hài lòng nhiều hơn Một số nhà nghiên cứu cũng đã yêu cầu trẻ em lựa chọn hình dạng lý tưởng của một đứa trẻ khác giới, hình dạng lý tưởng của người lớn và hình dạng cơ thể mà cha
mẹ chúng thích Do đó, những thang đo này đã được sử dụng để đánh giá nhận thức của trẻ em về hình mẫu lý tưởng của người khác cũng như của chính chúng
Bên cạnh điểm mạnh là một biện pháp trực quan dễ hiểu, hấp dẫn về hình ảnh,
dễ thực hiện và có thể sử dụng dễ dàng trên cả những đối tượng trẻ em nhỏ tuổi,
Trang 17đánh giá được về khía cạnh tri giác của hình ảnh cơ thể, thiếu dữ liệu đo lường các thành phần tâm lý khác Việc sử dụng các hình ảnh không giống nhau và không có một tỷ lệ nhất định cho các hình vẽ cũng là một hạn chế được nhắc đến khi xem xét độ tin cậy của các thang đo
Đo lường, đánh giá bằng bảng câu hỏi
Có nhiều bảng câu hỏi đo lường được phát triển trên các mẫu, vị thành niên hoặc người lớn nhằm giúp nắm bắt nhiều sắc thái và các cấu trúc có liên quan đến hình ảnh cơ thể Mỗi khía cạnh của hình ảnh cơ thể (tri giác, cảm xúc và hành vi) hiện được đánh giá bằng một loạt các công cụ chuyên dụng
Khía cạnh nhận thức của hình ảnh cơ thể được sử dụng đo lường bằng các thang đo thường thiết kế câu hỏi trả lời kiểu likert hoặc các tuyên bố đồng ý/không đồng ý với một nhận định nào đó để đánh giá sự không hài lòng của cơ thể đối với hình dạng, kích thước, cân nặng và chức năng của các vùng cơ thể cụ thể (ví dụ: mũi, tay, chân, ngực, eo, hông, đùi, v.v ), các thuộc tính (ví dụ: gầy, cân nặng, ngoại hình,
cơ bắp) hoặc chức năng thể chất (ví dụ: sức bền, sức bền); hoặc đánh giá sự hài lòng - không hài lòng về ngoại hình chung hoặc tổng thể Các thang đo đánh giá các vị trí cụ thể trên cơ thể cũng có thể đánh giá mức độ hài lòng với các khía cạnh ngoại hình liên quan đến cân nặng và các khía cạnh ngoại hình không liên quan đến cân nặng Mặt khác, các thang đo đánh giá về ngoại hình chung, đánh giá xem một người có cảm thấy hấp dẫn về thể chất hay không hoặc có thích ―ngoại hình‖ của họ hay không Điểm được sử dụng để đưa ra báo cáo thường là điểm tổng hoặc trung bình của các mục của thang đo Những thang đo đầu tiên được xây dựng chủ yếu tập trung vào các bệnh lý của hình ảnh cơ thể và các tác động tiêu cực hơn về tri giác, nhận thức, tình cảm và hành vi: Self-Image Questionnaire for Young Adolescents Body Image subscale - Petersen, Schulenberg, Abramowitz, Offer, & Jarcho (1984); Body Image Automatic Thoughts Questionnaire (Cash, Lewis, và Keeton, 1987); Body Satisfaction Questionnaire - Rauste-von Wright (1989); Body Image Concern Inventory (BICI) - Littleton và cs năm (2005); The Assessment of Body-Image Cognitive Distortions Scale (Jakatdar, Cash, và Engle, 2006) , thì những thang đo sau này cũng hướng tới phát triển để đánh giá tri giác, nhận thức, cảm xúc và hành vi tích cực với hình ảnh cơ
Trang 18thể the Body Appreciation Scale (Avalos & cs., 2005; Tylka & Wood-Barcalow, 2015); The Functionality Appreciation Scale (Alleva & cs., 2017) Một cách phổ biến
để đo hình ảnh cơ thể của một người là đo lường mức độ lòng tự trọng cơ thể esteem) của người đó: Body Esteem Scale for Adolescents and Adults (BESAA) - Mendelson (2001)
(body-Khía cạnh cảm xúc của hình ảnh cơ thể được đo lường bằng cách đánh giá tình cảm và cảm xúc liên quan đến cơ thể của cá nhân, thường bao gồm lo lắng, xấu hổ, bối rối, tội lỗi, ghen tị, tự hào và những cảm xúc khác liên quan tới cơ thể Hầu hết các
đo lường về khía cạnh này là những thang đo tự báo cáo và thường bao gồm tần suất và/hoặc cường độ của các trải nghiệm cảm xúc Một số thang đo có thể kể đến như the Social Physique Anxiety Scale (SPAS; Hart & cs., 1989); Body Uneasiness Test - BUT (Cuzzolaro, 2006); the Body-related Appearance Self-conscious Emotions Scale (BASES; Castonguay & cs., 2014) và the Body-related Self-conscious Emotions Fitness Instrument (BSE-FIT; Castonguay & cs., 2016)
Khía cạnh hành vi của hình ảnh cơ thể là khía cạnh có ít các thang đánh giá và
đo lường hơn Một trong những công cụ đầu tiên được phát triển để đánh giá việc tránh mặc quần áo bó sát hoặc hở hang, tránh ra ngoài xã hội hoặc gần gũi thể xác, hạn chế ăn, chải chuốt và tránh những việc có liên quan đến cân nặng là The Body Image Avoidance Questionnaire (Rosen, Srebnik, Salzberg và Went, 1991) Ngoài ra
có thể nhắc tới thang đo The Body Image-Acceptance and Action questionnaire được phát triển bởi Sandoz, Wilson, Merwin, & Kellu, 2013 Một công cụ hữu ích khác, đo lường việc kiểm tra ngoại hình chung, xem xét các bộ phận cụ thể của cơ thể và các nghi thức kiểm soát cơ thể theo phong cách riêng của mỗi cá nhân là The Body Checking Questionnaire (Reas, Whisenhunt, Netemeyer và Williamson, 2002)
Một ưu điểm của những phương pháp đánh giá bằng thang đo này là có thể đo lường được nhiều cấu trúc liên quan đến hình ảnh cơ thể, các khách thể cũng có thể đưa ra những cảm nhận khác nhau về các bộ phận trên cơ thể, về nhiều chiều cạnh hơn của cơ thể họ Trong các nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thang đo để đo hình ảnh cơ thể của học sinh THCS
Trang 191.1.1.3 Phương pháp can thiệp các vấn đề hình ảnh cơ thể
Các nhà thực hành lâm sàng tập trung tìm hiểu các biện pháp khắc phục chất lượng cuộc sống và thay đổi những trải nghiệm về cơ thể và tâm trí nhằm giúp đỡ tích cực hơn cho những người có chất lượng cuộc sống bị giảm sút do trải nghiệm hình ảnh cơ thể của họ Những nghiên cứu ứng dụng quan tâm phát triển những biện pháp
can thiệp để ngăn ngừa các vấn đề về hình ảnh cơ thể
Liệu pháp nhận thức-hành vi hình ảnh cơ thể (BI-CBT) (Body image
cognitive-behavioral therapy) là một phương pháp điều trị hiệu quả cho rối loạn hình ảnh cơ thể (BID-body image disturbance) BI-CBT nhằm mục đích sửa đổi những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi bị rối loạn chức năng thông qua các biện pháp can thiệp như giáo dục tâm lý, tự giám sát, tái cấu trúc nhận thức, giải mẫn cảm, phơi nhiễm và phòng ngừa ứng phó Tác giả Thompson (1990) là tác giả nổi bật đã sử dụng tiếp cận này để đánh giá và điều trị với nhiều nhóm khách thể khác nhau Ông đề cập sâu tới các cảm nhận của bệnh nhân về kích thước cơ thể, sự hài lòng với trọng lượng và kích thước cơ thể, sự hài lòng về ngoại hình nói chung và phân tích nhiều công cụ đo lường
để đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc sử dụng chúng trong thăm khám lâm sàng
Tiếp cận trải nghiệm (Experiential Approaches) đưa ra quan điểm rằng hình
ảnh cơ thể là đa chiều và bao gồm các đại diện tinh thần (suy nghĩ, cảm giác và hình ảnh), cũng như các thành phần cảm giác (thính giác, thị giác và kinesthetic-khả năng kết nối, cảm nhận các bộ phận cơ thể đang ở đâu và chúng đang di chuyển như thế nào) và các yếu tố liên quan đến cơ thể (somatic components) Do đó, nếu mục tiêu là thay đổi suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác và nhận thức của một cá nhân liên quan đến hình ảnh cơ thể, thì chỉ can thiệp thông qua lời nói sẽ bị hạn chế Theo liệu pháp này, làm việc trực tiếp với trải nghiệm về cảm giác và trải nghiệm cơ thể một cách trọn vẹn phải được bao gồm cách tiếp cận trị liệu một cách chuyên sâu., bởi vì sự hình thành hình ảnh cơ thể bắt đầu ở giai đoạn phát triển tiền lời nói, các kỹ thuật được thiết kế
để khuyến khích khám phá và biểu đạt phi ngôn ngữ sẽ có hiệu quả trong việc tạo ra
sự thay đổi ở cấp độ đó Mức độ can thiệp này có thể đặc biệt quan trọng đối với những thân chủ có rối loạn hình ảnh cơ thể xuất phát từ trải nghiệm thời thơ ấu [22; tr415-442] Một số kỹ thuật được sử dụng trong liệu pháp này như các kỹ thuật về
Trang 20cảm giác (múa chuyển động, trị liệu âm nhạc…); các kỹ thuật thể hiện tinh thần (liệu pháp thôi miên, viết nhật ký…); phương pháp tiếp cận tổng hợp (chánh niệm, liệu pháp tâm lý cảm giác vận động…)
Tiếp cận tâm lý giáo dục để phòng ngừa dựa trên trường học Các chương
trình tại trường học nhằm ngăn ngừa rối loạn ăn uống và cải thiện hình ảnh cơ thể đã phát triển vào cuối những năm 1980 Những chương trình phòng ngừa được phát triển mới nhất bao gồm áp dụng phương pháp tiếp cận toàn trường rộng rãi hơn, kết hợp với các biện pháp ngăn ngừa béo phì và can thiệp sống lành mạnh, nhằm vào các yếu
tố nguy cơ dẫn đến hình ảnh cơ thể kém như trêu chọc cân nặng và tận dụng vai trò mạnh mẽ của cha mẹ (theo Cash & Smolak, 2011) Ngoài ra, cũng có những phương pháp can thiệp khác mang tính chất phòng ngừa như Tiếp cận dựa trên máy tính (Computer-Based Approaches) Tiếp cận sinh thái và chủ nghĩa tích cực (Ecological and Activism Approaches); Các phương pháp tiếp cận chính sách công (Public Policy Approaches)
1.1.1.4 Đặc điểm hình ảnh cơ thể ở các nhóm đối tƣợng khác nhau
Các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể được tiến hành trên cả các nhóm lâm sàng
và nhóm bình thường
Nghiên cứu trên các nhóm lâm sàng:
Một trong các rối loạn tâm lý có liên quan đến vấn đề hình ảnh cơ thể có thể kể đến là ―Rối loạn mặc cảm cơ thể‖ (body dysmorphic disorder), trong hầu hết các ca được chẩn đoán ở tuổi trưởng thành, có tới 70% người mắc báo cáo họ trải qua các triệu chứng liên quan trong thời thanh niên và đầu niên thiếu Chứng chán ăn tâm thần cũng là biểu hiện cực đoan của của sự quan tâm quá mức đến kích thước và cân nặng của cơ thể thường xuất hiện ở cuối tuổi vị thành niên và đầu tuổi trưởng thành (Dẫn theo Cash & Smolak, 2011) Tác giả Cash và Deagle trong một nghiên cứu tổng hợp
66 nghiên cứu khác đã nhận thấy rằng những khách thể có rối loạn ăn uống (chứng ăn uống vô độ - Bulimia Nervosa và chán ăn tâm thần - Anorexia Nervosa) thường đánh giá quá cao kích thước cơ thể của họ, họ nói rằng hình dáng hiện tại hoặc các bộ phận
cơ thể (eo, bụng, hông và đùi) lớn hơn so với sự thật khách quan và lớn hơn khoảng
Trang 21sự không hài lòng về cơ thể, có những cảm giác và niềm tin tiêu cực về hình dáng và cân nặng của mình cao hơn hẳn so với nhóm chứng và nhóm chán ăn tâm thần, đồng thời họ cũng có những phiền muộn và lo lắng đáng kể về hình dáng và cân nặng của
họ [23] Những người này cũng có những hành vi né tránh hình ảnh cơ thể (mặc quần
áo rộng, từ chối cân, từ chối soi gương…) và tăng cường việc kiểm tra cơ thể (chú ý quá mức tới kích thước, hình dạng, cân nặng của một người) Shafran, Fairburn, Robinson và Lask (2004) đã điều tra 64 phụ nữ mắc chứng rối loạn ăn uống về việc kiểm tra cơ thể và né tránh xa cơ thể, và thấy rằng 92% bệnh nhân cho biết họ kiểm tra cơ thể để đánh giá vóc dáng hoặc tìm dấu hiệu tăng cân; trong khi 62% cho biết chủ động tránh kiểm tra vóc dáng và cân nặng, thường xuyên nhất là vào những thời điểm họ tăng cân
Tác giả Hrabosky (2009) trong một nghiên cứu sử dụng Bảng câu hỏi về mối quan hệ đa chiều về cơ thể và bản thân (the Multidimensional Body-Self Relations Questionnaire) đưa ra kết quả các đối tượng mắc chứng rối loạn mặc cảm cơ thể có mức độ hài lòng về ngoại hình của họ thấp và những người đàn ông mắc rối loạn này
đã đầu tư hơn nhiều vào ngoại hình của họ Người ta cũng so sánh nhóm này với nhóm có rối loạn ăn uống thì thấy cả hai nhóm này đều có mức độ không hài lòng và tình trạng muộn phiền về cơ thể như nhau Tuy nhiên, những người tham gia mắc chứng rối loạn mặc cảm cơ thể cho biết hình ảnh cơ thể bị suy giảm nhiều hơn so với những người bị rối loạn ăn uống, bao gồm cả việc họ đầu tư nhiều hơn vào ngoại hình
để nâng cao giá trị bản thân và chịu ảnh hưởng xấu hơn của hình ảnh cơ thể đối với chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu trên nhóm bình thường:
Hầu hết những tài liệu về hình ảnh cơ thể trên nhóm bình thường được nghiên cứu nhiều trên khía cạnh sự không hài lòng về cơ thể ở nhóm những người phụ nữ trưởng thành, và càng ngày càng có nhiều sự quan tâm hơn đến tỷ lệ sự không hài lòng về cơ thể tăng cao trong nhóm trẻ em gái vị thành niên Nghiên cứu của Jillian Croll (2005) về hình ảnh cơ thể ở vị thành niên đã đưa ra nhận định sự quan tâm, chú
ý quá mức tới hình ảnh và hình dạng cơ thể có thể dẫn đến việc ăn kiêng quá mức và các phương pháp kiểm soát cân nặng không lành mạnh, có thể dẫn đến các hành vi ăn
Trang 22uống rối loạn tiềm ẩn nguy hiểm, cuối cùng hình thành các rối loạn ăn uống Hình ảnh
cơ thể kém cũng thường dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng như trên
Tác giả Akbarbegloo và cộng sự (2010) đã tiến hành một khảo sát tại Iran về nhận thức về hình ảnh cơ thể và các yếu tố liên quan Nghiên cứu chỉ ra mối bận tâm
về hình ảnh cơ thể ở mức trung bình, trong đó sinh viên bận tâm nhất về ―cách những người khác nói một cách tiêu cực về ngoại hình của tôi‖ và ―lo sợ rằng mọi người sẽ phát hiện ra khiếm khuyết trên cơ thể của tôi‖ Bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phụ nữ bận tâm đến sự thu hút về mặt cơ thể hơn là nam giới do những ảnh hưởng của truyền thông về hình mẫu của cái đẹp Tác giả Charlotte N Markey (2010) chỉ ra số lượng lớn trẻ em gái (24–90%) và trẻ em trai (10–75%) bị ảnh hưởng bởi sự không hài lòng về cơ thể Hình ảnh cơ thể có liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của trẻ: tuổi dậy thì, bản sắc cá nhân, gia đình, bạn bè và các mối quan hệ lãng mạn Các mối quan tâm đáng kể về sức khỏe, bao gồm béo phì và rối loạn ăn uống, có liên quan đến sự không hài lòng của cơ thể
Giới tính cũng là một yếu tố được quan tâm trong những nghiên cứu về hình ảnh cơ thể Nghiên cứu của Kostanski (2004) trên 448 trẻ em trai và 508 trẻ em gái xem xét sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể ở cả hai giới và đưa ra nhận định sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể khác nhau đáng kể tùy thuộc vào giới tính và khối lượng cơ thể Đối với cả hai giới, sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể được tìm thấy
rõ ràng ở thời thơ ấu cũng như trong thời kỳ vị thành niên Tổng điểm sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể đối với trẻ em gái nhiều hơn so với trẻ em trai Đối với trẻ gái,
có sự không hài lòng về cơ thể tăng đáng kể khi trọng lượng cơ thể tăng lên, phản ánh mong muốn gầy hơn Ngược lại, đối với trẻ em trai, những người thừa cân cũng mong muốn mình gầy hơn, nhưng những người thiếu cân lại muốn mình to lớn hơn, phản ánh xu hướng mong muốn có cơ bắp hơn (Kostanski & cs., 2004) Các tác giả Khor, Zalilah, Phan, Ang, Maznah, Norimah (2009), trong nghiên cứu 2.050 vị thành niên Malaysia từ 11–15 tuổi cũng cho thấy xu hướng thích một thân hình mảnh mai hơn ở
nữ giới và họ cũng có điểm số không hài lòng về cơ thể trung bình cao hơn đáng kể so với nam giới
Trang 23Tác giả Trương Quang Lâm (2012) trong đề tài nghiên cứu về tự đánh giá trên
257 học sinh trung học phổ thông cho biết nhìn chung học sinh có sự đánh giá khắt khe về thể chất và ngoại hình bản thân Tác giả sử dụng thang đo tự đánh giá E.T.E.S (Echel de Toulousaine Estime de Soi) của tác giả Florence Soldes Ader & cs Trong thang đo có 2 mệnh đề học sinh có sự đánh giá ngoại hình và cơ thể thấp hơn so với các mệnh đề khác ―Tôi tự hào về ngoại hình của mình‖ và ―Tôi cho rằng tôi có một cơ thể cân đối‖ Kết quả đưa ra phần lớn học sinh đánh giá ngoại hình của mình chưa đẹp, chưa hoàn thiện do các em có những điểm hạn chế trên gương mặt hoặc cơ thể khiến các em chưa thực sự tự tin vào ngoại hình bản thân Ngoài ra việc học sinh nhìn nhận và tự đánh giá về thể chất của của bản thân là tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài và yếu tố sinh lý của các em [7]
Tác giả Trần Thành Nam và cộng sự (2018) nghiên cứu xác định tương quan giữa ý thức diện mạo ở ngoài đời thực và trên mạng xã hội của 516 khách thể thông qua điều tra khảo sát bảng hỏi trực tuyến và phỏng vấn nhóm tập trung Nghiên cứu phát hiện ra những đặc điểm và biểu hiện khác nhau về sự thiếu hài lòng về cơ thể của nhóm học sinh và sinh viên Trong khi nhóm học sinh có xu hướng chú trọng đến hình ảnh trên facebook phải thật hoàn hảo so với bạn cùng trang lứa thì sinh viên có xu hướng cảm thấy mình cần giảm cân, so sánh số đo cơ thể đối với bạn cùng giới và cảm thấy bản thân cần tập gym nhiều hơn để đăng những tấm ảnh hoàn hảo trên facebook Khảo sát cho thấy sự tương quan giữa ý thức về diện mạo trên facebook của nhóm học sinh cao hơn nhóm sinh viên và tương tự ý thức diện mạo của nhóm học sinh ngoài đời thực cũng cao hơn sinh viên
Mối quan tâm và lo lắng về ngoại hình là điều phổ biến ở những người trẻ tuổi Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng tuổi vị thành niên là thời điểm đặc biệt quan trọng dễ phát triển sự không hài lòng với hình ảnh cơ thể (Cheung, Lee 2011; Gardner, 2001) Nếu trước đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm phụ nữ và trẻ gái da trắng thì càng ngày, các nghiên cứu càng chứng minh sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể không chỉ giới hạn trong các giai đoạn phát triển cụ thể hoặc chỉ ở nữ giới, dần dần khách thể được mở rộng hơn ở cả đàn ông, trẻ em, người lớn tuổi, nhóm trẻ cần sự chăm sóc đặc biệt với sự đa dạng về các nền văn hóa và sắc tộc
Trang 241.1.1.5 Các yếu tố liên quan tới hình ảnh cơ thể
Các yếu tố nguy cơ của hình ảnh cơ thể
Các nghiên cứu về sự phát triển hình ảnh cơ thể đã đưa ra yếu tố nguy cơ nhất quán với sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể ở trẻ em là chỉ số BMI Ngày càng có nhiều tài liệu về ảnh hưởng của kích thước và trọng lượng cơ thể đối với hình ảnh cơ thể Hơn nữa, mối quan hệ của hình ảnh cơ thể với khối lượng cơ thể dường như khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi và giới tính Mặc dù kích thước và hình dạng cơ thể không nhất thiết có mối liên hệ rõ ràng với hình ảnh cơ thể, nhưng có một số bằng chứng cho thấy kết luận rằng có mối tương quan của hình dáng bên ngoài đối với hình ảnh cơ thể (Folk và cs., 1993), phụ nữ và trẻ em gái nặng hơn có xu hướng ít hài lòng với cơ thể của họ hơn so với phụ nữ gầy (Schwartz & Brownell, 2004) Ngay từ 6 tuổi, trẻ thừa cân hoặc béo phì đã không hài lòng với cân nặng của mình hơn những trẻ khác Mối tương quan giữa sự không hài lòng của cơ thể và chỉ số BMI tăng lên trong thời gian học tiểu học [Linda Smolak, 22, tr69-73] Nhận thức sai về tình trạng cân nặng cũng
là một kiểu gián tiếp không hài lòng về hình ảnh cơ thể (Alexandra Neagu, 2015) Nghiên cứu của các tác giả Folk, Pederson, & Cullari (1993) trên nhóm học sinh lớp 3
và lớp 6 cho ra kết quả mức độ hài lòng về cơ thể có tương quan thuận với quan niệm hài lòng về hình ảnh bản thân, ngoại hình, cũng như hạnh phúc và sự hài lòng ở cả trẻ trai và trẻ gái Đối với các nữ sinh lớp sáu, quan niệm hài lòng về cơ thể của họ cũng tương quan với sự hài lòng về bộ ngực, hông, eo, cân nặng Ngoài ra, cân nặng thực tế của họ có tương quan nghịch với tổng mức độ hài lòng của cơ thể (Folk và cs., 1993) Thừa cân bị kỳ thị ở các nền văn hóa phương Tây, điều này có thể dẫn đến tâm trạng chán nản hơn, và sự không hài lòng về cơ thể ở những người này (Schwartz & Brownell, 2004) Tác giả Nguyễn Xuân Bách cùng các cộng sự (2020) tiến hành khảo sát trên 367 sinh viên từ 18-25 tuổi nhằm xem xét tỷ lệ thừa cân và béo phì, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng này với nhận thức cơ thể và một số yếu tố khác Nhóm tác giả đo lường nhận thức về cơ thể bằng cách để khách thể tự đánh giá về cơ thể mình là gầy, bình thường hay béo Sau đó họ so sánh tự đánh giá này với chỉ số BMI đo được,
từ đó xác định sự biến dạng sự biến dạng nhận thức của cơ thể (nhận thức chính xác nếu tự nhận thức cơ thể của họ không khác với phân loại BMI và ngược lại) Kết quả
Trang 25tỷ lệ những người nhận thức sai về hình ảnh cơ thể của họ là đáng kể; nhận thức về kích thước cơ thể bị bóp méo trên tất cả các loại BMI Có 45,9% người thừa cân/béo phì nghĩ rằng họ không gầy cũng không béo và 9,8% trong số này thậm chí còn cảm thấy gầy [74]
Có nhiều nghiên cứu đã điều tra một loạt các yếu tố nguy cơ văn hóa xã hội ở trẻ em Chúng bao gồm phương tiện truyền thông (tạp chí, chương trình truyền hình, phim hoạt hình dành cho trẻ em và phim hoạt hình), đồ chơi (trò chơi điện tử, búp bê Barbie, nhân vật hành động như GI Joe), nhận xét và mẫu hình của bạn bè và phụ huynh [22, 43] Các nền tảng truyền thông đại chúng miêu tả lý tưởng gầy cho phụ nữ
và lý tưởng cơ bắp cho đàn ông Nhiều búp bê, đặc biệt là Barbie, và các nhân vật hành động, bao gồm GI Joe, có hình dạng cơ thể không thực tế Phương tiện truyền thông có thể đóng vai trò trung tâm trong việc tạo ra và làm trầm trọng thêm hiện tượng không hài lòng về mặt cơ thể (dẫn theo Morris, 1989), và do đó làm tăng tỷ lệ các hành vi nguy cơ cũng như tỷ lệ rối loạn ăn uống (Garner và cộng sự, 1980) Bạn
bè có thể ảnh hưởng tới trẻ qua thái độ làm mẫu về cân nặng và hình dáng hoặc đưa ra nhận xét về ngoại hình đối với trẻ Sự không hài lòng về cơ thể của bạn bè cùng trang lứa có thể dự đoán về mong muốn gầy của các bé gái, ngay cả khi còn học tiểu học (Linda Smolak) Tác giả Helfert S & Warschburger P (2011) khám phá vai trò của
áp lực xã hội với ngoại hình liên quan đến những thay đổi về hình ảnh cơ thể ở vị thành niên Khách thể là 236 trẻ em gái và 193 trẻ em trai từ 11 - 16 tuổi trong một nghiên cứu chiều dọc kéo dài một năm đã hoàn thành các bảng hỏi về mức độ không hài lòng của cơ thể (về cân nặng và cơ bắp) và áp lực xã hội liên quan đến ngoại hình
từ bạn bè và cha mẹ Nghiên cứu chỉ ra việc cha mẹ khuyến khích kiểm soát cân nặng
và hình dáng là một yếu tố dự báo mạnh mẽ về mối lo lắng về cân nặng ở cả trẻ em trai và trẻ em gái; việc trao đổi về các tiêu chuẩn hình mẫu và thái độ của bạn bè ảnh hưởng đến những lo lắng về hình ảnh cơ thể theo giới tính, cụ thể là trẻ em gái phát triển lo lắng về cân nặng và trẻ em trai lo lắng về cơ bắp; cuối cùng, việc loại trừ khỏi nhóm xã hội dựa trên ngoại hình là một yếu tố dự báo cho sự lo lắng về cân nặng ở trẻ
em trai
Trang 26Yếu tố bảo vệ hình ảnh cơ thể
Linda Smolak (2011) đã đưa ra hai yếu tố bảo vệ của hình ảnh cơ thể ở vị thành niên Thứ nhất, đặc điểm tính cách tự chủ (khả năng chống lại áp lực từ người khác)
có thể giúp bảo vệ chống lại sự suy giảm mức độ hài lòng về cơ thể ở các nữ sinh tiểu học Yếu tố bảo vệ thứ hai có thể là sự từ chối thực tế của các cô gái đối với lý tưởng gầy được truyền thông quảng cáo Trong một nghiên cứu cắt ngang, những cô gái từ 6-12 tuổi từ chối hình ảnh trên phương tiện truyền thông có mức độ tự tin về cơ thể cao hơn Đối với người lớn, các mô hình về sự phát triển của sự không hài lòng về cơ thể trong thời thơ ấu thường xác định rằng các đặc điểm cá nhân có vai trò điều hòa hoặc làm trung gian các mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa xã hội, chỉ số BMI và hình ảnh cơ thể [22, tr69-73]
Hỗ trợ tinh thần từ gia đình — đặc biệt dưới dạng phản hồi tích cực và khuyến khích — có thể làm giảm một số ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố văn hoá xã hội đến trẻ
và giúp vị thành niên phát triển và duy trì hình ảnh cơ thể tích cực theo thời gian Kết quả theo chiều dọc cho thấy rằng những trẻ gái có mối quan hệ lành mạnh với cả bố
và mẹ thì có ít lo lắng hơn về cân nặng và vấn đề ăn uống cả thời gian đầu khảo sát lẫn hai năm sau đó Sự ủng hộ và chấp nhận xã hội của bạn bè có thể giúp vị thành niên vượt lên trên áp lực văn hóa xã hội và cảm thấy tích cực hơn về cơ thể của họ bằng cách thúc đẩy khả năng phục hồi (dẫn theo Rheanna N Ata, 2007)
Tóm lại, các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể ở vị thành niên cho thấy sự phát triển hình ảnh cơ thể của cá nhân là một dải trải dài từ thời thơ ấu đến suốt quá trình trưởng thành, sau đó dần dần ổn định Phần lớn họ đều quan tâm đến hình ảnh cơ thể của mình, đặc biệt mức độ quan tâm ở nữ giới cao hơn so với nam giới; ở các nhóm lâm sàng có mức độ hài lòng về hình ảnh cơ thể thấp hơn và mối bận tâm về ngoại hình lớn hơn nhóm bình thường Kết quả các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ của hình ảnh cơ thể (chỉ số BMI, các yếu tố văn hóa xã hội như các phương tiện truyền thông đại chúng, mẫu hình và nhận xét của cha mẹ và bạn bè) và một số yếu tố bảo vệ (hỗ trợ từ xã hội, các đặc điểm tâm lý cá nhân) Bên cạnh đó, rất nhiều thang
đo được phát triển để đo lường và đánh giá hình ảnh cơ thể trên tất cả các khía cạnh Các liệu pháp được sử dụng để điều trị vấn đề liên quan đến rối loạn cơ thể cũng được
Trang 27nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Những nghiên cứu chính thức về hình ảnh cơ thể hay đánh giá ngoại hình ở Việt Nam đã có nhưng chưa nhiều, trong đó các nghiên cứu mới chỉ đánh giá một số khía cạnh nhỏ trong HACT Các nghiên cứu này cũng mới hướng sự tập trung vào nhóm học sinh THPT và sinh viên, chưa tìm thấy nghiên cứu thực hiện trên nhóm học sinh THCS
1.1.2 Các nghiên cứu về các vấn đề hướng nội
1.1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng của các vấn đề hướng nội
Một số lượng đáng kể trẻ em và vị thành niên có khả năng trải qua các biểu hiện lâm sàng của hỗn hợp các triệu chứng lo âu và trầm cảm (Compas, 2000) Năm
2000, trong Báo cáo quốc tế về nghiên cứu xuyên quốc gia Hành vi sức khỏe ở trẻ em
trong độ tuổi đi học của WHO (HBSC) đã đưa ra một số con số về tình trạng sức khỏe
tâm thần ở trẻ em và vị thành niên Tỷ lệ tổng thể học sinh cảm thấy buồn chán hàng tuần là tương đối cao, trung bình trên 25%, trong đó tỷ lệ học sinh ở các quốc gia đều
là trên 10%, chỉ trừ Australia Tỷ lệ cảm giác cô đơn là phổ biến, vượt quá 10% ở 24/28 quốc gia được khảo sát Các tỷ lệ này ở trẻ em gái cao hơn trẻ em trai ở mọi lứa tuổi và tăng lên theo độ tuổi; còn tỷ lệ này ở trẻ em trai vẫn ổn định ở mức khoảng 20% [105] Những thay đổi nhanh chóng về thể chất và tâm lý ở vị thành niên đi kèm với việc gia tăng sự nhạy cảm và chú ý hơn đến các biểu hiện triệu chứng về cơ thể 56% trẻ em trai và 74% trẻ em gái trong độ tuổi từ 12 đến 17 cho biết đã từng bị đau đầu trong tháng trước đó Đau đầu thường xuyên được xác định là biểu hiện của bệnh trầm cảm ở vị thành niên, và các triệu chứng thể chất nổi bật có liên quan đến đau khổ, lo lắng và môi trường tâm lý xã hội không ổn định (dẫn theo báo cáo của WHO, 2000)
Trong một đánh giá tổng hợp năm 2017, tác giả Nicholas C Jacobson cùng đồng nghiệp Michelle G Newman đã xem xét mối quan hệ giữa lo âu và trầm cảm ở
cả mức độ triệu chứng và mức độ các rối loạn Các chẩn đoán về lo âu và trầm cảm không chỉ có xu hướng xảy ra đồng thời, mà các triệu chứng của chúng còn có mối tương quan rất cao Tất cả các loại lo âu (lo âu lan tỏa, ám sợ…) dự đoán các triệu chứng trầm cảm về sau này, và tất cả các triệu chứng trầm cảm đều dự đoán các triệu chứng lo âu Rối loạn trầm cảm có thể là tiền đề của chứng ám sợ xã hội và ám sợ đặc
Trang 28hiệu, trong khi các rối loạn lo âu và trầm cảm có mối quan hệ dự đoán nguy cơ hai chiều [71]
Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung từ 8% đến 30% đối với trẻ em và vị thành niên, với những khác biệt về tỷ lệ tùy theo tỉnh, giới tính và đặc điểm của người trả lời Một khảo sát dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành cho thấy mức trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em vào khoảng 12%, tương đương hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần (Weiss và cộng sự, 2014) Nghiên cứu của Ngô Thanh Hồi (2005) trên địa bàn Hà Nội và lân cận trên 1203 học sinh tiểu học và trung học cơ sở cho thấy 19.46% các em gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần Một nghiên cứu của các tác giả Lê Thị Kim Dung, Lã Thị Bưởi, Đinh Đăng Hòe và các cộng sự (2007) trên
2549 học sinh THCS có 12.3% học sinh có rối loạn lo âu, 8.4% trầm cảm Năm 2012, Nguyễn Cao Minh tiến hành nghiên cứu trên 233 trẻ trong độ tuổi 12 đến 16 trên địa bản 4 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Hoài Bình và Thái Nguyên đưa ra kết quả 18% số trẻ
có vấn đề sức khoẻ tâm thần, thu mình trầm cảm chiếm 6,6%, lo âu/ trầm cảm chiếm 5,5% (Nguyen Cao Minh, 2012) Nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Minh và các cộng sự (2013) đã điều tra dịch tễ trên 1314 trẻ em từ 6 - 16 tuổi ở 10 tỉnh, thành phố Việt Nam đã cho thấy có 9.6% trẻ có vấn đề hướng nội ở mức lâm sàng, trong đó, lo
âu, trầm cảm chiếm 1.8%, thu mình chiếm 2.1%, than phiền cơ thể chiếm 4.1% Tỷ lệ này ở mức ranh giới là 18.3% Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 639 học sinh Trung học cơ sở tại trường Song Mai và Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên được khảo sát bằng thang đánh giá trầm cảm - lo âu - stress (DASS 42: Depression - Anxiety - Stress Scales) Kết quả tỷ lệ học sinh mắc rối loạn trầm cảm là 17,7%, lo âu
là 35,4% và stress là 20,3% Khối lớp 9 có tỷ lệ rối loạn trầm cảm và stress cao nhất
so với các khối khác Trầm cảm - lo âu - stress là các rối loạn tâm thần học đường thường gặp ở trẻ vị thành niên (Ngô Anh Vinh và cs, 2021)
1.1.2.2 Nghiên cứu về yếu tố nguy cơ của các vấn đề hướng nội
Theo nghiên cứu tổng hợp của Graber và cộng sự 2009, căn nguyên của các vấn đề hướng nội có thể được sắp xếp xung quanh một số yếu tố nguy cơ và dễ bị tổn thương Chúng bao gồm các quá trình nhận thức, đặc điểm tính cách và tâm lý liên
Trang 29quan; yếu tố sinh học của căng thẳng (bao gồm các biểu hiệu của rối loạn, sự phát triển thần kinh và các hormone; di truyền và môi trường tương tác gen); và mối quan
hệ liên cá nhân (Birmaher và cộng sự, 1996; Garber, 2000; Petersen và cộng sự, 1993) Đánh giá của mỗi cá nhân về tầm quan trọng của sự kiện, mức độ tiêu cực của
sự kiện, những tác động của sự kiện đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống của cá nhân, và cách cá nhân đánh giá khả năng kiểm soát sự kiện đều là những yếu tố ảnh hưởng đến việc liệu các sự kiện căng thẳng có liên quan đến việc làm gia tăng các vấn
đề hướng nội và rối loạn hướng nội hay không (Birmaher et al., 1996; Vasey & Ollendick, 2000) Hơn nữa, sự khác biệt rõ ràng về cách diễn giải các sự kiện hoặc nhận thức về cách xử lý có liên quan đến việc khởi phát và duy trì các vấn đề hướng nội (Kaslow, Adamson, & Collins, 2000; Graber & cs., 2009)
Có mối quan hệ đáng kể giữa các triệu chứng hướng nội và tuổi tác Vị thành niên trẻ tuổi báo cáo các triệu chứng hướng nội nhiều hơn đáng kể do với vị thành niên lớn hơn (Daughters, 2009) Sự phát triển của các vấn đề hướng nội hoặc rối loạn hướng nội ở tuổi thiếu niên (trong nhiều trường hợp) không phải do sự thay đổi của những hành vi mới xuất hiện hoặc các vấn đề mới phát sinh, mà phụ thuộc vào các đặc điểm cá nhân đã tồn tại trước tuổi vị thành niên (Bandura, 1964; dẫn theo Graber
&cs., 2009) Đối với một số thanh niên, những thách thức của tuổi vị thành niên làm trầm trọng thêm hoặc làm nổi bật những đặc điểm có vấn để đã có từ trước này, dẫn đến giảm chức năng và rối loạn nghiêm trọng trong việc điều hòa tâm trạng Trong quá trình phát triển, các triệu chứng lo âu và trầm cảm tăng lên và phổ biến hơn, liên quan đến suy giảm chức năng xã hội và chức năng tại trường học Các triệu chứng hoặc rối loạn lo âu và trầm cảm trong giai đoạn phát triển sớm là dự báo của các vấn
đề tương tự ở tuổi trưởng thành (Hammen & Rudolph, 1996)
Thời gian dậy thì cũng được xem là một yếu tố dễ tổn thương của vị thành niên với các vấn đề hướng nội Tuổi vị thành niên đánh dấu sự xuất hiện của sự khác biệt
về giới tính trong việc hình thành các triệu chứng và rối loạn hướng nội, với trẻ em gái
có nhiều nguy cơ bị trầm cảm và lo lắng trong quá trình chuyển đổi tuổi dậy thì Đối với các bé gái, trưởng thành sớm hơn các bạn cùng tuổi sẽ thúc đẩy sự phát triển của phong cách phản ứng suy nghĩ nghiền ngẫm nhiều hơn (Alloy và cộng sự, 2016), sau
Trang 30đó dẫn đến các triệu chứng trầm cảm ở mức độ lớn hơn và bắt đầu các giai đoạn trầm cảm (Stice và cộng sự, 2001) Đối với trẻ trai, thời gian dậy thì cũng có mối liên quan đến các triệu chứng hướng nội (Ge, Conger, & Elder, 2001; Graber và cộng sự, 1997) Với nữ giới, khả năng chịu đựng đau khổ (khả năng kiên trì hoạt động hướng đến mục tiêu trong khi trải qua đau khổ về cảm xúc) được nhắc đến như một cơ chế tiềm ẩn có thể làm nền tảng cho các triệu chứng hướng nội Khả năng chịu đựng thấp làm tăng nguy cơ mắc các triệu chứng hướng nội và gia tăng xu hướng tham gia vào hành vi tiêu cực ở nữ giới, trong khi đối với nam, mức độ khả năng chịu đựng đau khổ không phải là một yếu tố nguy cơ đối với các triệu chứng hướng nội (Daughters và các cs., 2009)
Tác giả Allen và Sheeber (2008) tập trung vào sự phát triển và điều chỉnh cảm xúc như là những điểm dễ tổn thương đối với chứng trầm cảm ở tuổi vị thành niên Việc xuất hiện các vấn đề hướng nội là dấu hiệu của những khó khăn trong việc điều chỉnh cảm xúc tiêu cực Kỹ năng điều chỉnh cảm xúc có xu hướng phát triển đáng kể trong thời thơ ấu (Rothbart & Bates, 2006; Zahn - Waxler và cộng sự, 2000), nhưng cũng tiếp tục phát triển để đáp ứng nhu cầu mới của trải nghiệm cảm xúc ở tuổi vị thành niên Deater-Deckard (2001) xác định các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc và nhận thức xã hội là đặc biệt nổi bật đối với các mối quan hệ đồng đẳng của trẻ em và vị thành niên Zeman, Shipman, & Suveg (2002) cũng cho rằng có mối quan hệ đáng kể giữa các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc và các triệu chứng hướng nội Kết quả chỉ ra khả năng nhận biết các biểu hiện cảm xúc kém hoặc có khó khăn trong việc xác định những trạng thái cảm xúc tiêu cực là chỉ báo dự đoán sự tồn tại của các triệu chứng hướng nội Hơn nữa, dựa trên hai thang đo về quản lý cảm xúc ở trẻ em là CSMS và CAMS, sự ức chế của trạng thái tức giận và những biểu hiện không phù hợp của trạng thái này, cũng như trạng thái buồn, là chỉ báo để dự đoán cho mức độ những triệu chứng hướng nội tăng lên Ngược lại, cách đương đầu có cấu trúc với các hành vi tức giận có mối tương quan nghịch với các triệu chứng hướng nội (đương đầu tốt thì triệu chứng giảm)
Nhiều nghiên cứu đã xác định rằng cân nặng, chỉ số BMI và sự không hài lòng
về cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề như trầm cảm, lo
Trang 31lắng hoặc ý tưởng tự tử ở trẻ em gái vị thành niên (Cho, 2009; Kim và cộng sự, 2009; Ohring et al., 2002) Ames, Wintre & Flora (2015) tìm thấy mối liên hệ giữa BMI và các triệu chứng hướng nội Các bé trai cho thấy BMI có thể tác động tới các triệu chứng hướng nội theo một chiều, còn các bé gái cho thấy mối liên hệ hai chiều Những cậu bé bắt đầu có chỉ số BMI cao hơn cho thấy mức độ các triệu chứng cao hơn từ đầu đến giữa tuổi vị thành niên nhưng không có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn ở độ tuổi 16 và 17 Đối với trẻ gái, có mối quan hệ hai chiều giữa BMI và các triệu chứng hướng nội kéo dài đến tuổi vị thành niên sau này Mặc dù các triệu chứng hướng nội cũng có thể dẫn đến ăn uống thiếu chất và chán ăn, hầu hết các nghiên cứu
sử dụng mẫu trẻ em và vị thành niên cho thấy các triệu chứng hướng nội có liên quan đến sự gia tăng chỉ số BMI (Goodman & Whitaker, 2002; Roberts & Duong, 2013)
Tác giả Amstadter và nhiều cộng sự khác (2009) tiến hành khảo sát tỷ lệ và một số yếu tố tương quan của các vấn đề sức khỏe tâm thần ở 1.368 vị thành niên từ 11–18 tuổi có thể xảy ra ở Việt Nam (do cha mẹ trả lời) Nghiên cứu tìm ra khoảng 9% vị thành niên Việt Nam gặp khó khăn về sức khỏe tâm thần Các nhóm tuổi cao hơn ít có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần hơn các nhóm tuổi trẻ hơn Tôn giáo đóng vai trò như một yếu tố bảo vệ, với những vị thành niên tán thành việc liên kết với một tôn giáo ít có khả năng mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn; vốn xã hội cao hơn có liên quan đến việc giảm khả năng xảy ra các vấn đề sức khỏe tâm thần Các tác giả Jacqueline Kim, Bahr Weiss, Lam Tu Trung và các cộng sự khác tiến hành nghiên cứu dài hạn đánh giá tại ba thời điểm, cách nhau ba tháng với số lượng khách thể 304 người Âu Mỹ, 420 người Mỹ gốc Việt và 717 trẻ vị thành niên Việt Nam tự báo cáo các triệu chứng nội tâm (soma, lo âu, trầm cảm) Nghiên cứu này đã xác định văn hóa là một yếu tố có ý nghĩa, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các lĩnh vực của các triệu chứng hướng nội Than phiền cơ thể là một phần không thể thiếu của các triệu chứng hướng nội và nó dự báo sự gia tăng các triệu chứng trầm cảm và lo lắng ở
vị thành niên người Mỹ gốc Việt và người Việt Nam, nhưng không dự đoán cho người
Mỹ gốc Âu Các triệu chứng lo âu dự đoán việc gia tăng các triệu chứng trầm cảm ở vị thành niên Âu Mỹ, và mối quan hệ này có giá trị hai chiều ở vị thành niên người Việt
nam và người Mỹ gốc Việt [54]
Trang 32Trong Báo cáo tóm tắt của UNICEF Việt Nam (2018) về Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam đã đưa
ra một số kết quả có liên quan đến các vấn đề cảm xúc trên số lượng khách thể là 402
em học sinh (trong hai độ tuổi 11-14 và 15-17) Những lo lắng, buồn bã và bi quan nhìn chung được thể hiện với tần suất cao hơn trong nhóm trẻ ở độ tuổi lớn hơn và thường bắt nguồn từ việc cha mẹ đánh lộn, thành viên trong gia đình bị ốm, kết quả học tập ở trường, nỗi sợ bị buộc thôi học, cảm giác không chắc chắn về tương lai và việc phải kết hôn sớm Biểu hiện của sự lo lắng và buồn phiền này bao gồm căng thẳng dẫn đến bỏ bữa, đau đầu và nóng giận Những rối loạn cảm xúc, trong đó có trầm cảm và tự tử, xuất hiện phổ biến trong mẫu nghiên cứu Nguyên nhân dẫn tới ý định hoặc hành vi tự tử của nam và nữ bao gồm sự thất bại trong các mối quan hệ tình cảm, mâu thuẫn trong hôn nhân, các vấn đề trong trường học, các vấn đề trong gia đình, và do sự e dè trong chia sẻ cảm xúc Đối với nam giới, nguyên nhân còn bao gồm việc không thể duy trì những đóng góp và hành vi nam tính được kỳ vọng, trong
đó bao hàm cả khả năng duy trì gia đình/hộ gia đình Bên cạnh đó những triệu chứng
cơ thể – đau đầu, chán ăn, ngủ kém và gặp ác mộng cũng được nhiều người trả lời nhắc đến [8] Áp lực thi cử, học tập và gia đình không hạnh phúc là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc học sinh bị trầm cảm, lo âu ở Bà Rịa - Vũng Tàu trong một nghiên cứu hai năm 2013-2014 (Ngô Thành Phong, 2014) Tác giả Trần Thành Nam và các cộng sự (2016) đã đề cập tới các vấn đề lo âu mà các em học sinh lớp 9 hay gặp phải
đó là lo âu về học đường nói chung và lo âu về việc không thỏa mãn được các mong đợi của người khác
Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, các triệu chứng trầm cảm của cha mẹ, các mối quan hệ trong gia đình như tương tác cha mẹ - con cái và giữa cha mẹ với nhau … cũng là những yếu tố liên quan đến các triệu chứng hướng nội được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới (Vazsonyi & Belliston, 2006; Hughes, & Gullone, 2008; Crawford, Schrock & Woodruff-Borden, 2010; Reising, Watson và cộng sự, 2012; Quach và cộng sự, 2013; Pinquart, 2016; Merz, Tottenham,
& Noble, 2017)
Trang 331.1.2.3 Nghiên cứu về yếu tố bảo vệ của các vấn đề hướng nội
Nhiều nghiên cứu đã xem xét các yếu tố bảo vệ cho những vị thành niên khỏi các vấn đề hướng nội Năm 2013, McMahon và cộng sự khảo sát trên 188 học sinh lớp 5 đến lớp 8 và đưa ra kết luận sự hỗ trợ của cha mẹ, giáo viên, bạn cùng lớp và bạn bè đều có liên quan đến tỷ lệ trầm cảm thấp hơn Sự hỗ trợ của cha mẹ và bạn bè giúp giảm bớt tác động của các yếu tố gây căng thẳng lên các triệu chứng trầm cảm Bên cạnh đó sự hỗ trợ của cha mẹ và bạn cùng lớp cũng có liên quan đến ít triệu chứng sợ hãi/tập trung hơn và sự hỗ trợ của bạn cùng lớp có liên quan đến ít triệu chứng lo lắng/quá nhạy cảm Sự hỗ trợ của bạn thân chỉ liên quan đến ít trầm cảm hơn [64] Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Gaylord-Harden (2006) rằng nhận thức được về hỗ trợ từ gia đình và bạn bè đồng trang lứa sẽ phát huy tác dụng bảo vệ đối với chứng trầm cảm và lo âu (ít các triệu chứng trầm cảm và lo lắng hơn) thông qua ảnh hưởng tích cực của nó đối với nhận thức của vị thành niên về lòng tự trọng và nhận thức về nhóm dân tộc của họ [36] Những cá nhân thiếu sự hỗ trợ xã hội có khả năng bị trầm cảm cao hơn Do đó, hỗ trợ xã hội được xem là một yếu tố quan trọng khi đề cập đến việc ngăn ngừa các triệu chứng của trầm cảm; khi một người gặp phải tình huống căng thẳng, hỗ trợ xã hội có thể làm giảm căng thẳng hoặc giúp họ điều chỉnh căng thẳng cảm xúc để giảm bớt các triệu chứng trầm cảm và nó được coi như
là một yếu tố bảo vệ quan trọng chống lại bệnh trầm cảm (Adams và cộng sự, 2016; Shih, Cheng, Chang và Sun, 2020)
Theo Germani và các cộng sự (2020), các yếu tố liên quan đến tự chủ bản thân đóng vai trò bảo vệ với các triệu chứng trầm cảm, hay nói cách khác sự kết hợp của quyền tự chủ và sự tự kết nối với bản thân sẽ giúp làm giảm các mức độ trầm cảm Phong cách gắn bó an toàn và lòng tự trọng cũng có những tác động tích cực giúp giảm trầm cảm và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa tự chủ bản thân và trầm cảm Các yếu tố bảo vệ tiềm năng như định hướng mục tiêu, sự tự tin, năng lực
xã hội, hỗ trợ xã hội và sự gắn kết cá nhân trong gia đình có liên quan đến sự xuất hiện ít các triệu chứng trầm cảm hơn (Askeland và cộng sự, 2020)
Trang 341.1.3 Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa HACT và các VĐHN
1.1.3.1 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội
Đối với vị thành niên, việc đánh giá về sự phát triển thể chất hoặc hình ảnh cơ thể là những lĩnh vực tự đánh giá nổi bật và chúng có nguy cơ dẫn tới các vấn đề hướng nội (Graber, 2009) Những căng thẳng liên quan tới ngoại hình hoặc sự không hài lòng về hình ảnh cơ thể đã được chứng minh là có thể tiên lượng trước sự gia tăng các triệu chứng trầm cảm ở vị thành niên (dẫn theo Ramos, 2019) Hai tác giả Marion Kostanski, Eleonora Gullone (1998) nghiên cứu trên 516 vị thành niên từ 12-18 tuổi tìm ra lo lắng và trầm cảm được cho là có mối tương quan thuận với sự không hài lòng về cơ thể Hay nói cách khác mức độ tự ti, lo lắng và trầm cảm có liên quan đến nhận thức về sự không hài lòng với cơ thể, mức độ không hài lòng cao có liên quan đến mức độ các cảm xúc tiêu cực cao hơn, đặc biệt là đối với trẻ em gái Kết quả tương tự được Siegel, Yancey, Aneshensel & Schuler (1999) tìm thấy trên 877 vị thành niên (13–18 tuổi), cảm giác tiêu cực về cơ thể của vị thành niên góp phần làm tăng tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em gái, những người có hình ảnh cơ thể tích cực hơn ít bị trầm cảm hơn [93] Những cô gái có hình ảnh cơ thể kém hoặc có tình trạng bất mãn với hình ảnh cơ thể kéo dài dai dẳng trong thời kỳ vị thành niên không chỉ gia tăng các triệu chứng trầm cảm trong thời kỳ vị thành niên, mà còn có nhiều triệu chứng hơn ở tuổi thanh niên (Ohring và các cs., 2002) Đồng quan điểm với nghiên cứu của tác giả này, Jocelyn Smith Carter và các cộng sự (2013) đã thực hiện một nghiên cứu dài hạn Họ tiến hành đánh giá nhóm 140 khách thể tuổi từ 10–
16 từ các trường công lập ở thành thị ở Chicago trong hai lần đo, mỗi lần cách nhau khoảng hơn một năm Nghiên cứu này đưa ra nhận định rằng hình ảnh cơ thể có tương quan đáng kể với các triệu chứng hướng nội ở cả hai thời điểm đo Mức độ hình ảnh
cơ thể tiêu cực hơn dự báo điểm số các triệu chứng hướng nội càng nhiều hơn [21]
Ramos và các cộng sự (2019) tìm hiểu vai trò của hình ảnh cơ thể trong các vấn
để sức khỏe tâm thần hướng nội với 4531 vị thành niên Tây Ban Nha từ 13 đến 18 tuổi Nghiên cứu sử dụng bản tự đánh giá của thanh thiếu niên (YSR) đề cập tới ba khía cạnh của triệu chứng hướng nội: lo lắng/trầm cảm, thu mình/trầm cảm và than phiền cơ thể, trong đó lo lắng / trầm cảm được giải thích tốt nhất bằng sự kết hợp của
Trang 35chỉ số khối cơ thể (BMI), nhận thức về tình trạng thừa cân, sự hài lòng cơ thể, giới tính, tuổi tác và điều kiện kinh tế Mặt khác, giữa các thành phần khác nhau của hình ảnh cơ thể thì sự hài lòng cơ thể cho thấy khả năng dự đoán cao hơn cả trên ba thang
đo phụ và thang điểm tổng của các triệu chứng hướng nội; những vị thành niên có điểm sự hài lòng hình ảnh cơ thể thấp hơn có ý nghĩa nguy cơ hơn đối với các triệu chứng hướng nội Nghiên cứu này cũng đưa ra kết quả rằng sự hài lòng về cơ thể (BIS) - thành phần cảm xúc liên quan đến hình ảnh cơ thể - là yếu tố dự báo chính về các triệu chứng hướng nội ở tuổi vị thành niên Trong báo cáo của UNICEF Việt Nam (2018) đã đề cập đến yếu tố nguy cơ gây ra vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh (trong đó nổi bật là nhóm vấn đề về cảm xúc) là liên quan đến những quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất vị thành niên Những lo ngại bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở những em gái lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt hoặc những em bị coi là thừa cân Những mối lo khác xoay quanh hình thể thấp bé, dẫn đến việc bị chọc ghẹo, bêu tên và phân biệt đối xử trong các hoạt động thể thao tại trường học [8]
Một số nghiên cứu khác cũng đã gợi ý rằng sự tự nhận thức về ngoại hình có thể ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tâm lý của một người Việc tự đánh giá, nhìn nhận bản thân một cách tiêu cực trong bối cảnh thái độ tiêu cực của xã hội đối với người thừa cân, và ít có khả năng đối phó với sự kỳ thị này có thể dẫn đến tăng các triệu chứng trầm cảm (Needham và cộng sự, 2005) Kết quả này cũng được ủng hộ bởi tác giả Murray và các cộng sự (2011) trong khi điều tra căng thẳng ở tuổi vị thành niên và hình ảnh cơ thể ở 533 học sinh trung học từ lớp 7 đến lớp 10 cũng cho rằng các triệu chứng trầm cảm có tương quan nghịch với hình ảnh cơ thể Họ cũng nhận thấy khối lượng cơ thể thực tế và sức khỏe tâm lý là độc lập, nhưng cả hai đều liên quan đáng kể đến cảm nhận hình ảnh cơ thể Trong nghiên cứu của Jie Tang và đồng nghiệp (2010) phát hiện ra rằng hình ảnh cơ thể tiêu cực được thể hiện bằng nhận thức thừa cân hoặc thiếu cân có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm và/hoặc lo âu Ter Bogt (2006) lại tìm ra những trẻ tự phân loại mình là quá gầy hoặc quá béo thể hiện mức độ các vấn
đề về hướng nội gia tăng hơn, nhất là ở những trẻ đánh giá cân nặng của mình là quá nặng hay tự nhận cơ thể mình quá béo Khảo sát từ 3841 vị thành niên trong độ tuổi
11 đến 16 tuổi ở Trung Quốc của tác giả Ren, Lingling và các cộng sự khác (2018)
Trang 36cho biết sự không hài lòng về cơ thể có liên quan đáng kể đến các triệu chứng cảm xúc và các vấn đề cảm xúc-hành vi khác ở cả hai giới Những cô gái tự nhận mình là thừa cân báo cáo các triệu chứng cảm xúc gấp 1,58 lần và tổng số các vấn đề khó khăn gấp 1,74 lần so với những cô gái tự nhận mình là có cân nặng bình thường Đối với trẻ trai, cả những trẻ nhận thức mình nhẹ cân và thừa cân đều có liên quan đến hầu hết các vấn đề về cảm xúc và hành vi So với các trẻ trai có cân nặng bình thường, các trẻ trai tự nhận mình là thiếu cân có khả năng mắc các vấn đề về cảm xúc cao hơn Các tác giả Đặng Kim Anh, Phan Thị Bích Hạnh, Nguyễn Quang Dũng Nguyễn Thị Thu Liễu, Nguyễn Thị Hương Lan (2020) đã thực hiện một nghiên cứu tổng hợp số liệu từ
66177 đối tượng nghiên cứu thông qua 20 nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau nhằm mục tiêu đánh giá mối liên quan giữa trầm cảm và thừa cân/béo phì ở trẻ vị thành niên Kết quả trẻ nữ ở bất kỳ cân nặng nào đều có xu hướng không hài lòng cơ thể lớn hơn và đánh giá hình ảnh cơ thể của họ thấp hơn so với nam vị thành niên Nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan thuận chiều giữa chẩn đoán trầm cảm và cả béo phì
và thừa cân ở trẻ vị thành niên Sự gia tăng các triệu chứng trầm cảm cũng có mối liên quan thuận chiều ở trẻ béo phì và thừa cân Cụ thể, những trẻ béo phì có nguy cơ mắc trầm cảm cao gấp 1,23 lần so với những trẻ không béo phì và những trẻ thừa cân có nguy cơ mắc trầm cảm cao gấp 1,14 lần so với những trẻ không thừa cân
Một số nhà nghiên cứu cho rằng các vấn đề hướng nội có thể gây ra căng thẳng liên quan đến ngoại hình Mối quan hệ này được chứng minh trong một nghiên cứu của Noles, Cash, & Winstead (1985) đã chỉ ra rằng những người báo cáo mức độ cao của các triệu chứng trầm cảm cũng nhìn nhận ngoại hình của họ một cách tiêu cực hơn, ít hài lòng với cơ thể của họ hơn và thấy bản thân kém hấp dẫn hơn so với những người báo cáo mức độ thấp hơn của các triệu chứng trầm cảm Họ bóp méo mức độ hấp dẫn về thể chất của họ và cho rằng bản thân kém hấp dẫn hơn những người đánh giá khách quan [76] Tâm trạng chán nản là một trong những nguyên nhân gây ra nhận thức tiêu cực về hình ảnh cơ thể Phụ nữ có dấu hiệu của các triệu chứng trầm cảm có
xu hướng phát triển hình ảnh cơ thể tiêu cực hơn vì họ có xu hướng có hình ảnh cơ thể
dễ bị phản hồi từ các thông điệp bên ngoài về hình ảnh cơ thể của họ (Mori & Morey, 1991) Do đó, những vị thành niên trải qua tâm trạng chán nản sẽ có nhiều khả năng đưa vào các thông điệp ngụ ý rằng họ kém hấp dẫn hơn so với hình ảnh cơ thể lý
Trang 37tưởng Cole và các cộng sự (1998) cũng tìm ra kết quả ủng hộ mạnh mẽ cho ý kiến các triệu chứng trầm cảm dự đoán sự đánh giá thấp về ngoại hình từ lớp 6 đến lớp 8 đối với nam và từ lớp 4 đến lớp 8 đối với nữ Marcotte và cộng sự (2002) làm nghiên cứu trên 547 vị thành niên từ 11 tuổi đến 18 tuổi Tác giả này cho rằng đối với cả hai giới, điểm số các triệu chứng trầm cảm có tương quan nghịch và đáng kể với điểm số về hình ảnh cơ thể Vị thành niên bị trầm cảm có hình ảnh cơ thể tiêu cực hơn Nghiên cứu này còn tìm ra hình ảnh cơ thể làm trung gian cho mối quan hệ giữa tình trạng dậy thì và các triệu chứng trầm cảm trong quá trình chuyển tiếp lên trung học
Các mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và các triệu chứng hướng nội có thể có hai chiều Tác giả Julie Lee (2012) đã xem xét và tìm ra mối liên hệ có tính hai chiều giữa căng thẳng liên quan đến ngoại hình và các vấn đề hướng nội ở vị thành niên nữ Hàn Quốc Khách thể là tổng số 1.320 trẻ em gái bắt đầu vào lớp 4 (độ tuổi trung bình
là 9,8) được đánh giá hàng năm trong suốt 5 năm Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng có mối tương quan thuận đáng kể giữa căng thẳng liên quan đến ngoại hình và các vấn đề hướng nội ở hầu hết tất cả những người tham gia trong mỗi năm năm Đồng thời các vấn đề hướng nội cũng gây ra căng thẳng liên quan đến ngoại hình ở trẻ em gái vị thành niên từ lớp 6 trở đi Căng thẳng liên quan đến ngoại hình trải qua ở lớp 5 được phát hiện là nguyên nhân gây ra các vấn đề về hướng nội ở lớp 6 và các vấn đề hướng nội ở lớp 6 và lớp 7 được phát hiện là nguyên nhân gây ra căng thẳng liên quan đến ngoại hình ở lớp 7 và lớp 8
Ở một vài nghiên cứu khác, Rierdan et al (1989) tiến hành nghiên cứu theo chiều dọc kiểm tra tác động lâu dài của sự không hài lòng của cơ thể đối với các triệu chứng trầm cảm, nhận thấy rằng sự không hài lòng về cơ thể chiếm một lượng nhỏ nhưng đáng kể trong phương sai về nguy cơ trầm cảm ở trẻ em gái vị thành niên trong thời gian 6 tháng Tuy nhiên, theo nghiên cứu này, các triệu chứng trầm cảm không dự đoán được sự bất mãn của cơ thể sau đó dù những cô gái bị trầm cảm ở cả hai thời điểm đo có sự không hài lòng về cơ thể nhiều hơn những cô gái trầm cảm nhất thời hoặc liên tục không có biểu hiện trầm cảm gì Tác giả Holsen et al (2001) cũng đã xem xét bản chất của mối quan hệ này ở nam thiếu niên Họ nhận thấy sự không hài
Trang 38lòng về cơ thể không dự đoán được tâm trạng trầm buồn ở một mẫu trẻ nam từ 13 đến
15 tuổi nhưng dự đoán tâm trạng chán nản từ 15 đến 18 tuổi
Nhìn chung, có những nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể
và các vấn đề hướng nội là mối quan hệ hai chiều, nhưng những góc nhìn hai chiều về mối quan hệ này còn khá phức tạp
1.1.3.2 Các nghiên cứu vai trò của hỗ trợ xã hội và khả năng điều chỉnh cảm xúc đối với mối quan hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội
Tác giả Bearman và Stice (2008) tìm hiểu về vai trò của hình ảnh cơ thể với trầm cảm ở vị thành niên từ 12 đến 16 tuổi trên mẫu 247 trẻ em gái và 181 trẻ trai trong hai năm đã nhấn mạnh sự không hài lòng về cơ thể là một yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở trẻ em gái vị thành niên, và sự hỗ trợ của gia đình có là vai trò trung gian quan trọng của trong việc giải quyết mối quan hệ này Phát hiện này đồng nhất với nghiên cứu của các tác giả Delfabbro, Winefield, Anderson, Hammarström, Winefield (2011) Sau khi tiến hành nghiên cứu về hình ảnh cơ thể và sức khỏe tâm lý ở vị thành niên trên 1281 khách thể từ 13 đến 17 tuổi, nghiên cứu đã đưa ra nhận định môi trường gia đình có vai trò rất quan trọng, những cô gái có hình ảnh cơ thể kém và gia đình kém gắn kết có khả năng có sức khỏe tâm lý thấp nhất Những cô gái vị thành niên cho rằng bản thân không hấp dẫn về thể chất, không hài lòng với cơ thể của mình
và không có bạn bè thân hoặc có ít sự hỗ trợ của xã hội hoặc gia đình có khả năng bị đau khổ tâm lý hơn Morken, Ida Sund và các cs (2018) tiến hành điều tra 547 trẻ em
từ 12-13 tuổi nhằm điều tra vai trò của sự không hài lòng về cơ thể đối với sự khác biệt về giới trong các triệu chứng trầm cảm, cũng như tác động của sự hỗ trợ xã hội từ bạn bè và cha mẹ Nghiên cứu đã chỉ ra sự hỗ trợ của bạn bè đồng trang lứa điều chỉnh mối liên hệ tích cực giữa sự không hài lòng về cơ thể và các triệu chứng trầm cảm
Một yếu tố được biết là có tầm quan trọng đối với sức khỏe tâm thần nhưng lại
ít được chú ý liên quan đến hình ảnh cơ thể là điều chỉnh cảm xúc Cụ thể, người ta cho rằng vị thành niên có khả năng điều chỉnh cảm xúc hiệu quả sẽ ít gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến các vấn đề về hình ảnh cơ thể Hughes, Gullone (2011) khi nghiên cứu trên mẫu gồm 533 trẻ em trai và gái (11–20 tuổi) đã đưa ra nhận định điều chỉnh cảm xúc điều chỉnh mối quan hệ giữa các mối quan tâm về hình
Trang 39ảnh cơ thể và các triệu chứng trầm cảm, nhưng không phải là yếu tố điều hòa mối quan hệ giữa mối quan tâm về hình ảnh cơ thể và các triệu chứng lo âu Vị thành niên thường xuyên trải qua những suy nghĩ và cảm giác tiêu cực về ngoại hình của họ ít có khả năng mắc triệu chứng trầm cảm hơn nếu họ có xu hướng sử dụng các chiến lược chấp nhận để điều chỉnh cảm xúc tiêu cực liên quan đến hình ảnh cơ thể, hoặc nếu họ
có xu hướng sử dụng các chiến lược điều chỉnh cảm xúc chức năng nội bộ (đánh giá lại tổng quát một cách tích cực, sửa đổi các mục tiêu, lập kế hoạch, đưa ra quan điểm tích cực và tập trung vào các hoạt động thú vị)
Trong phạm vi tìm hiểu của đề tài này, chúng tôi không tìm được nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa hình ảnh cơ thể và các vấn đề hướng nội nói chung cũng như
ở học sinh THCS nói riêng Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này mới chỉ hướng tới việc đánh giá tác động của các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan tới cân nặng
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm hình ảnh cơ thể
Quan niệm của các tác giả về các khía cạnh trong các mô hình hình ảnh cơ thể rất đa dạng Các khái niệm về hình ảnh cơ thể trong quá khứ thường bao gồm ít nhất một trong bốn chiều sau: tri giác, nhận thức, tình cảm và hành vi Khái niệm hình ảnh
cơ thể được đề cập đến lần đầu tiên bởi tác giả Schilder vào năm 1935 Ông định nghĩa rằng hình ảnh cơ thể là ―bức tranh về cơ thể của chính chúng ta mà chúng ta hình thành trong tâm trí, nghĩa là cách thức mà cơ thể xuất hiện với chính chúng ta‖ Định nghĩa này sau đó đã bị phê bình vì quá đơn giản, vì các nhà nghiên cứu đưa ra lập luận rằng cấu trúc hình ảnh cơ thể có nhiều khía cạnh hơn những gì có thể được phân biệt trong định nghĩa ban đầu này (Cash, 2002) Theo tác giả Fisher (1972), hình ảnh cơ thể có thể được coi là đồng nghĩa với các thuật ngữ như ―khái niệm cơ thể‖ và
―sơ đồ cơ thể‖ Ông cho rằng ―chúng thể hiện cách thức mà một người đã học cách tổ chức và tích hợp các trải nghiệm cơ thể của mình‖ Nói rộng ra, định nghĩa này liên quan đến cách cá nhân nhận thức về cơ thể của chính mình Tác giả Alsaker (1992) cho rằng hình ảnh cơ thể được sử dụng như là cảm giác hài lòng hoặc không hài lòng
Trang 40chủ quan của cá nhân đối với cơ thể và ngoại hình của một người Như vậy, các định nghĩa này chỉ đề cập đến khía cạnh nhận thức của hình ảnh cơ thể
Ngày nay, một cách suy nghĩ phổ biến về hình ảnh cơ thể là chia nó thành hai thành phần: một thành phần tri giác, đề cập đến việc ước tính kích thước và ngoại hình chung hoặc một vài bộ phận cơ thể của một người; một thần phần khác liên quan đến cảm giác và thái độ đối với cơ thể của một người (Gardner, 2011) Hai thành phần này đều được đưa vào định nghĩa đề cập đến hình ảnh cơ thể là nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc của một người về cơ thể của họ; là sự kết hợp giữa việc ước tính kích thước
cơ thể, đánh giá mức độ hấp dẫn của cơ thể và cảm xúc liên quan đến hình dạng và kích thước cơ thể (Grogan, 1999; Muth & Cash, 1997) Tác giả Pesa và các cộng sự (2000) nhìn nhận hình ảnh cơ thể theo cấu trúc tương tự, được cho là bao gồm hai chiều: cảm nhận (đánh giá kích thước cơ thể của một người) và tình cảm/nhận thức (thái độ đối với cơ thể của một người) Theo từ điển của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), hình ảnh cơ thể là một cấu trúc đa chiều về nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc của một cá nhân về những đặc điểm ngoại hình của bản thân và thái độ của cá nhân với chính những đặc điểm ngoại hình này Theo quan điểm của Meghan Green, Ronald Lankford (2016), hình ảnh cơ thể là nhận thức của một người về ngoại hình của chính mình và những gì người đó tin rằng người khác nghĩ về nó Tác giả cũng chia ra hai loại hình ảnh cơ thể: hình ảnh cơ thể tích cực và hình ảnh cơ thể tiêu cực
Có một số tác giả định nghĩa về hình ảnh cơ thể bằng một cấu trúc đa chiều hơn, gồm ba thành tố: tri giác/nhận thức, thái độ và hành vi/sự bận tâm về cơ thể (Mazzeo 1999; Sophie và Marita, 2002; Cash, 2004) Hai thành tố ban đầu được diễn đạt giống như những khái niệm mà các tác giả phái trên đã đề cập đến Nhóm này thêm vào thành phần hành vi, cụ thể là sự kiểm tra lặp đi lặp lại (quá chú ý đến ngoại hình/cân nặng/hình dáng của một người; trang điểm quá nhiều…) và xu hướng tránh những tình huống mà ta có thể cảm thấy không thoải mái về cơ thể (ví dụ mặc quần áo thùng thình, tránh soi gương, tự nguyện cô lập xã hội…)
Lòng tự trọng cơ thể (Body Esteem) đề cập đến ―sự tự đánh giá về cơ thể hoặc ngoại hình của một người‖ (Mendelson, White, & Mendelson, 2002) Mặc dù ban đầu, khái niệm này được coi là một cấu trúc đơn chiều nhưng những bằng chứng sau đó