1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án nhân dân

92 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đương Sự Là Cá Nhân Trong Vụ Án Tranh Chấp Hợp Đồng Tín Dụng Tại Tòa Án Nhân Dân
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Triều Dương
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân”, nhằm đánh giá thực trạng áp dụng và các vấn đề phát sinh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -*** -

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -*** -

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự (định hướng ứng dụng)

Mã Số: 838 0101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Triều Dương

HÀ NỘI – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thanh Hương

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự BLDS Bộ luật dân sự BLLĐ Bộ luật lao động TTDS Tố tụng dân sự HĐTD Hợp đồng tín dụng TCTD Tổ chức tín dụng TANDTC Tòa án nhân dân tối cao TAND Tòa án nhân dân KDTM Kinh doanh thương mại UBND Ủy ban nhân dân PLTTDS Pháp luật tố tụng dân sự NVTT Nghĩa vụ tố tụng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN 8

1.1 Quan niệm về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 8 1.2 Đặc điểm của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng 17 1.3 Vai trò của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 20

Kết luận Chương 1 23 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TẠI TOÀ

ÁN NHÂN DÂN VỀ ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 24

2.1 Thực trạng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án 24 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 34 2.3 Những hạn chế, bất cập còn tồn tại của pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 58 2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong pháp luật về đương sự là

cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 63

Kết luận Chương 2 66 CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN 67

Trang 6

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 67 3.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án 71

Kết luận Chương 3 79 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thực tế các doanh nghiệp, cá nhân muốn phát triển kinh tế cần phải huy động nguồn vốn, một trong những cách huy động nguồn vốn đó là hình thức vay vốn tại các các tổ chức tín dụng, mà cụ thể là các ngân hàng Các ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…, phục vụ cho việc phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ

chức kinh tế, cá nhân Trong hoạt động ngân hàng thì “Hoạt động cho vay” là

hoạt động cốt lõi mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng

là hoạt động tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn Những rủi ro tín dụng đó là khi khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, từ đó ngân hàng khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người vay phải thanh toán lại số tiền

đã vay, hoặc yêu cầu bán phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gốc và lãi, từ

đó làm phát sinh những tranh chấp trong hợp đồng tín dụng

Tại Việt Nam, pháp luật về xác định đương sự là cá nhân và tranh chấp hợp đồng tín dụng là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau Hiện nay hợp đồng tín dụng được quy định ở rất nhiều các văn bản khác nhau như: Bộ luật dân sự, Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay của tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn khác, … Những văn bản này đã tạo ra được bộ khung về pháp lý cho hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ổn định và tăng trưởng Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng ở thực tiễn, pháp luật về hợp đồng tín dụng cũng như các văn bản liên quan đã bộc lộ nhiều điểm thiếu sót, tạo nhiều khó khăn về phương hướng giải quyết các tranh chấp về tín dụng

Trang 8

2

Trong quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần được khắc phục Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án đã chỉ ra những điểm thiếu sót của việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Hệ quả là gây mất niềm tin giữa các chủ thể của hợp đồng tín dụng, gián tiếp cản trở sự thông suốt của hoạt động ngân hàng, cản trở hoạt động cấp tín dụng khiến nền kinh

tế hoạt động kém năng động

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Đương sự là cá nhân trong

vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân”, nhằm đánh giá

thực trạng áp dụng và các vấn đề phát sinh từ việc áp dụng các quy phạm pháp luật đó, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về xác định đương sự trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

2 Tình hình nghiên cứu

Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu rất cụ thể về hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng có các công trình nghiên cứu liên quan đến tranh chấp hợp đồng dân sự tại Tòa án nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nói riêng, về nội dung hoạt động của Ngân hàng có thể kể đến một số cuốn sách như:

Cuốn sách “Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ

chức tín dụng” do tác giả Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên [26] Nội dung cuốn

sách đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm tiền vay và các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản, hoặc bằng tài sản cầm cố của khách hàng vay Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay hay bằng tài sản của bên thứ ba, đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Đồng thời cuốn sách cũng đã đề ra phương hướng và giải pháp

Trang 9

3

hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Một số công trình nghiên cứu về xác định đương sự và giải quyết tranh

chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án như: Luận văn luật học “Thực tiễn giải

quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”

của tác giả Hồ Thị Khuyên [18]; Luận văn “Giải quyết tranh chấp hợp đồng

tín dụng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ” của tác giả

Trần Tuấn Anh [2]; Luận văn “Hòa giải trong vụ án kinh doanh thương mại

từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng” của tác giả

Đặng Ngọc Hưng [14], Luận văn: Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Võ Hữu Chánh (2019) [3]

Các công trình trên phần nào có đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến nội dung hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng, ở các góc độ tranh chấp thương mại

Một số công trình khác đã phân tích và đánh giá về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án qua các thời điểm nhất định, cụ thể:

“Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng: Thực tiễn xét xử tại tòa

án nhân dân TP Hà Nội” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh [10], Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kề của tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ của tác giả Lý Thị Thanh Huyền (2012) [13], Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng (2013) [12], Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam của tác giả Trần Thị Thùy Trang (2014) [28] Các

nghiên cứu trên đã chỉ ra các rủi ro thường gặp khi thực hiện hợp đồng tín dụng và đề ra các phương thức giải quyết cũng như thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng hiện nay tại các Tòa án

Trang 10

4

Về quyền và nghĩa vụ của các đương sự có một số nghiên cứu điển hình

như: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự - Những bất cập

cần khắc phục của tác giả Võ Văn Tuấn Khanh [15], Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam của tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc (2013) [19]

Các nghiên cứu này đã khái quát thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các đương sự nói chung trong quá trình tố tụng dân sự, từ đó đưa

ra các kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập Tuy nhiên, những công trình này được nghiên cứu trước thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần tạo

cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng Tuy nhiên, các đề tài và các bài viết không đề cập một cách cụ thể về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: những lý luận cơ bản của pháp luật Việt Nam về hợp đồng tín dụng, xác định đương sự và tranh chấp hợp đồng tín dụng, đồng thời tổng hợp thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án và chỉ ra những điểm thiếu sót trong quá trình giải quyết, từ

đó đề xuất ý kiến về hướng hoàn thiện trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu giới hạn về nội dung nghiên cứu, nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến xác định đương sự là cá nhân và giải quyết hợp đồng tín dụng như: Bộ Luật dân sự, Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, các văn bản dưới

Trang 11

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích những vấn đề lý luận để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hợp đồng tín dụng, xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng

tín dụng tại Tòa án;

- Phân tích các vấn đề cơ bản của pháp luật Việt Nam về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Đồng thời đánh giá các quy định dưới góc độ luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy định về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án;

- Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp

đồng tín dụng tại Tòa án

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích để nêu rõ khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng, đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

- Phương pháp so sánh các quy định pháp luật, phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp được sử dụng để nêu rõ nội dung pháp luật về đương sự và

Trang 12

6

giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm; thực trạng pháp luật về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng; các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

- ử dụng kết quả thống kê từ Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để nêu thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ

phương diện lý luận trong khoa học pháp lý của vấn đề xác định đương sự và

giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Trong quá trình nghiên cứu về mặt lý luận, đề tài đã khái quát được mô hình pháp luật về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân, giúp cho việc đánh giá thực trạng pháp luật có cơ sở lý thuyết và sâu sắc hơn

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: những vấn đề, kiến nghị trong luận văn

có thể được tham khảo, sử dụng để sửa đổi một số quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, điều đó góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật, đưa pháp luật

có giá trị áp dụng cao trong thực tế

Luận văn cũng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cái nhìn cụ thể hơn và kịp thời hơn, chuyên sâu hơn về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, qua đó nâng cao hiệu quả của việc xác

định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài những phần như: Phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với 3 chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án;

Trang 14

1.1.1 Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án và các yếu

tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án

(i) Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án được tiến hành mà việc áp dụng cơ chế thương lượng và hòa giải không còn có hiệu quả và các bên bên tranh chấp cũng không tự thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại Việc tự giải quyết tranh chấp của các bên thường gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy sự cần thiết phải có sự can thiệp của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến ở đây là Tòa án Mặt khác, khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, quyết định trọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết định của Tòa án, việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như thi hành bản án của Tòa mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và hợp tác giải quyết của các bên Do đó, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết khi tranh chấp không còn lựa chọn nào khác

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản, trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định; Trình

tự, thủ tục khởi kiện; Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; Quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành

Trang 15

9

tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan, đây chính là thủ tục tố tụng tại Tòa án Hay nói cách khác, tố tụng Tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án

Ở hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh nói chung và giải quyết tranh chấp HĐTD nói riêng được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình tự tố tụng Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp hợp HĐTD

mà chỉ có luật về tố tụng dân sự Cụ thể như ở Cộng hòa Liên bang Đức, Luật

tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất trong Bộ luật Tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực HĐTD thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự

Từ đó có thể nhận thấy, “Giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án được

hiểu là việc giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực của nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể

Trang 16

10

hợp đồng tín dụng nói riêng tại Toà án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải

áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản pháp luật về nội dung cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm đưa ra bản án chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao Chính vì vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng không hoàn thiện, thì chất lượng áp dụng pháp luật sẽ không cao, thậm chí không thực hiện được

Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng tại Toà án đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải có sự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định; ự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật

ự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định được thể hiện ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật ự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật biểu hiện thông qua các vấn đề cơ bản như các văn bản pháp luật có liên quan tới chức năng nhiệm vụ của Toà án nhân dân, các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự, việc ban hành các văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành pháp luật; Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong xã hội; Công tác tổ chức và chất lượng hoạt động của cơ quan

áp dụng pháp luật; Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia áp dụng pháp luật; Chất lượng của các văn bản áp dụng pháp luật… Ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân phụ thuộc không nhỏ vào công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cũng như chất lượng của pháp luật; Chất lượng của hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật Điều này cho thấy có sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thì hoạt động áp dụng pháp luật mới đạt chất lượng cao

Thứ hai, yếu tố thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng

Trang 17

11

Về phía bên cho vay:

Bên cho vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như đã cam kết Các tổ chức tín dụng không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Nhiều tổ chức cho vay không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character), năng lực trả nợ (capacity), tiền mặt (cash), tài sản thế chấp (collateral), các điều kiện môi trường (conditions), sự kiểm soát (control), mà vẫn dựa vào cảm tính của nhân viên ngân hàng Điều này tạo điều kiện cho tổ chức “tín dụng đen” ngày càng được tổ chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tổ chức này Trên thực tế, bên cho vay khi tiến hành thẩm định cũng không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một tổ chức tín dụng đen nào không Chính sách và quy trình cho vay chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện

và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn Ở Việt Nam, các ngân hàng thường dựa chủ yếu vào giá trị tài sản bảo đảm để quyết định cho vay nên nhiều khi bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng

Về phía bên vay (khách hàng):

Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình Điều này có thể do nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan

Yếu tố chủ quan: Là yếu tố xuất phát từ mỗi khách hàng, đó có thể xuất

phát từ vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của tổ chức, cá nhân không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường

và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả kinh doanh thua lỗ lâm vào tình trạng

Trang 18

12

phá sản Ngoài ra nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn Những tổ chức, cá nhân thiếu hiểu biết về pháp luật Hiện nay, trình độ hiểu biết của khách hàng về những kiến thức pháp luật liên quan còn rất hạn chế Đã có nhiều trường hợp khách hàng

ký hợp đồng trái pháp luật, tự họ đặt bản thân họ vào tình trạng bất lợi và phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề Trong thời gian tới, Nhà nước cần có nhiều kênh thông tin tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân nói riêng tiếp cận và nắm vững được quy định của pháp luật, nhằm hạn chế những rủi ro đối với các bên

Yếu tố khách quan: Là những yếu tố tác động ngoài ý chí của khách

hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh

tế, điều chỉnh quy hoạch, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan

hệ cung cầu hàng hoá thay đổi…làm cho hoạt động của bên vay không tiến hành được như kế hoạch đã định

Yếu tố gây ra do quy định của pháp luật: Nhiều quy định còn được

hiểu chưa thống nhất, dẫn đến mỗi bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, từ đó nảy sinh những bất đồng mâu thuẫn và đi đến tranh chấp Hiện nay, pháp luật quy định các bên cho vay nếu muốn từ chối khách hàng nào thì bắt buộc phải đưa ra các căn cứ hay những

lý do chính đáng Nhưng chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này Vì thế, phía người cho vay quan niệm rằng cho vay là quyền được tự do kinh doanh của họ vì vậy lý do có chính đáng hay không do họ quyết định Còn người đi vay thì không đồng ý với cách hiểu đó và trong những trường hợp bị

từ chối họ sẵn sàng khiếu nại tới các cơ quan có liên quan để yêu cầu giải quyết Cả hai cách hiểu đó đều không thoả đáng Để khắc phục tình trạng này, nhất thiết phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các bên trong hợp đồng cũng như các nhà áp dụng pháp luật được thống nhất

Trang 19

lý và kiến thức xã hội Trong đó, kiến thức pháp lý toàn diện và chuyên sâu là điều cần thiết Lý do nó được nêu ra bởi vì kiến thức chuyên môn đã được xem như là yếu tố căn bản nhất Bằng kiến thức đó, Thẩm phán có thể giải thích các sự kiện pháp lý, những mâu thuẫn, tranh chấp và các yếu tố khách quan, chủ quan để áp dụng pháp luật một cách chính xác Bên cạnh đó, Thẩm phán còn phải trang bị và trau dồi kỹ năng Trong đó, kỹ năng xét xử là kỹ năng cốt lõi của Thẩm phán, bao gồm kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, kỹ năng điều hành phiên tòa Những kỹ năng này tuy đã được trang

bị cơ bản từ khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, nhưng các Thẩm phán cần tiếp tục tích lũy và mài dũa nhiều hơn Trong những kỹ năng trên, kỹ năng diễn đạt, (bằng lời nói và viết) là rất quan trọng, bởi nó gắn với hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của Thẩm phán Giao tiếp tinh tế là quan trọng với cả đương sự và đồng nghiệp trong quá trình làm việc và cuộc sống Thẩm phán phải diễn đạt một cách rõ ràng, chính xác và đúng ngữ pháp, dù bằng lời nói hay bằng văn bản Kỹ năng giao tiếp tốt cũng bao gồm khả năng lắng nghe, hiểu Điều này giúp chia sẻ các phương pháp hay nhất và thông tin tư pháp hữu ích từ đồng nghiệp Cần tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về vấn đề pháp luật và vấn đề trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng

Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng

Trang 20

14

Người khởi kiện, người tham gia tố tụng thực hiện thủ tục gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và việc Tòa án cấp, tống đạt thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử theo quy định của BLTTD , thủ tục này gọi là Giao dịch điện tử trong tố tụng dân sự [33] Dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử từ đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, văn bản tố tụng đã được ban hành theo quy định của pháp luật được gọi là Thông điệp dữ liệu điện tử trong tố tụng dân sự Xây dựng Cổng thông tin điện tử Tòa án công bố bản án, quyết định Tòa án Người đọc cũng có thể tương tác bằng cách trực tiếp cho ý kiến về bản án, quyết định được công bố,

trong đó có mục “Ý kiến phản hồi đối với bản án, quyết định” Việc công khai

bản án góp phần nâng cao trách nhiệm, kỹ năng viết bản án, kỹ năng công nghệ thông tin của Thẩm phán

1.1.2 Đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng

Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự thông thường là các chủ thể độc lập trong một hoặc nhiều quan hệ đang được xem xét, giải quyết trong vụ việc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ việc đó Do đó, muốn xác định được đầy đủ đương sự trong vụ việc nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng thì cần phải xác định được những mối quan

hệ được giải quyết trong vụ án đó và những mối quan hệ có liên quan đến việc giải quyết vụ án Một vụ án mà có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều chủ thể thì vụ án đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong vụ

án đó chỉ phải giải quyết một mối quan hệ giữa hai chủ thể thì chỉ hai bên chủ thể đó được xác định là đương sự

Ngoài ra, đương sự trong tố tụng dân sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đó Vì vậy, để xác định được đầy đủ những ai là đương sự, trước hết cần xác định rõ bản chất của vụ án thì mới có thể xác định được ai là

Trang 21

15

chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc giải quyết vụ án đó Tùy thuộc vào từng vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng mà thành phần các chủ thể được xác định là đương sự sẽ khác nhau, có những vụ án mà việc giải quyết

vụ án này có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều chủ thể, tuy nhiên có

vụ án thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hai bên chủ thể Thông thường đương sự có quyền, lợi ích được giải quyết ngay trong vụ

án đó Tuy nhiên, đương sự cũng còn bao gồm cả những người mà quyền và lợi ích không được giải quyết ngay trong vụ án nhưng kết quả giải quyết vụ

án này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ Vì vậy, họ cũng phải được tham gia vào việc giải quyết vụ việc

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTD )

2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân

bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Như

vậy các đương sự trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng khá phong phú đa dạng bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập

o với các pháp lệnh tố tụng trước đây thì khái niệm “đương sự” trong

BLTTD 2015 mở rộng hơn Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

năm 1989 quy định: “Các đương sự là công dân, pháp nhân tham gia tố tụng

với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Với quy định này trước đây, các tổ chức không có tư cách pháp nhân

như tổ hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh… không phải là đương sự Rõ ràng quy định như trên không bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự Theo

đó, với quy định của BLTTD hiện hành thì đương sự là cá nhân trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng bao gồm

Trang 22

16

nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch

BLTTD 2015 quy định đã quy định rất cụ thể đương sự là người từ đủ

18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng, họ không thể tự mình tham gia tố tụng dân sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Đối với đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do đại diện hợp pháp của họ thực hiện

Đối với đương sự là người từ đủ 15 tuối đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan

hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Quy định này xuất phát từ quy định trong Bộ luật lao động và Bộ luật dân sự, vì theo BLLĐ người đủ 15 tuổi có quyền ký kết hợp đồng lao động Còn BLD quy định trường hợp người từ đủ

15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Ngoài ra BLTTD

quy định nếu “pháp luật có quy định khác” thì căn cứ vào các quy định đó để

xác định năng lực hành vi tố tụng của đương sự

Từ những nội dung đã nêu trên, có thể định nghĩa về đương sự là cá

nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng như sau: “Đương sự là cá

nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là những cá nhân tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi các bên xảy ra mâu

Trang 23

sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước [4], do đó, việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án sẽ có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, các phiên tòa xét xử về tranh chấp HĐTD thường được tổ

chức công khai, bản án được công bố rộng rãi Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn vụ tranh chấp giữa họ được giải quyết bằng con đường trọng tài Tòa án là cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết giải quyết tranh chấp, buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng cưỡng chế nhà nước

Thứ hai, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án,

các bên trong tranh chấp HĐTD phải nắm rõ được bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng và đặc điểm này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt hoạt đồng tín dụng đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và nhanh gọn Bên cạnh đó, việc giải quyết tại Tòa án sẽ thông qua nhiều cấp xét xử, vì vậy, việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt

Trang 24

18

nêu trên sẽ giúp bảo đảm cho quyết định của Tòa án được chính xác, công bằng, khách quan

Thứ ba, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con

đường Tòa án dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc hòa giải, nguyên tắc xét xử vụ án dân

sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Thứ tư, các phán quyết của Tòa án về vụ án tranh chấp hợp đồng tín

dụng được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án Mục đích hàng đầu của hoạt động này là nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Chính vì vậy, sự bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là một

ưu điểm, tạo ra sự khác biệt trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ quan tài phán Sở dĩ phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế bởi Tòa án nhân dân là cơ quan nằm trong hệ thống tư pháp, nhân danh Nhà nước để giải quyết các tranh chấp nói chung và tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng, thông qua đó bảo vệ quyền lợi, tài sản của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật Khi đương sự không tự giác thi hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án có quyền tổ chức cưỡng chế buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quyết định của Tòa

án Với đặc điểm này, hiệu lực thi hành phán quyết của Tòa án sẽ hiệu quả và mang tính cưỡng chế cao nhất

Trang 25

19

1.2.2 Đặc điểm của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng

Đương sự là cá nhân trong TTD là người tham gia TTD , do đó, họ

có đầy đủ các đặc điểm của người tham gia tố tụng Tuy nhiên, do đương sự

là những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, không giống với mục đích của hai nhóm còn lại là để bảo về quyền, lợi ích hợp pháp cho người khác hoặc để hỗ trợ cho hoạt động tố tụng nên đương sự có những đặc điểm khác biệt dưới đây

Thứ nhất, đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật về hợp đồng tín

dụng mà trong quan hệ đó, họ có quyền, lợi ích bị tranh chấp, bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng Trước khi trở thành đương sự trong TTD , các chủ thể này đã tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể đó là quan hệ về hợp đồng tín dụng và khi có tranh chấp hay yêu cầu phát sinh, họ mới khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết

Vì vậy, quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thực chất

là giải quyết các quan hệ pháp luật nội dung phát sinh giữa các chủ thể

Thứ hai, đương sự là chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án

tranh chấp hợp đồng tín dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Họ

có thể mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng, nhưng họ tham gia trước hết là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Những lợi ích mà họ hướng tới có thể là lợi ích cá nhân, lợi ích của pháp nhân hoặc lợi ích của các chủ thể đặc biệt khác

Thứ ba, các đương sự bình đẳng với nhau trong tố tụng, có thể tham gia

tố tụng độc lập hoặc thông qua người đại diện trong TTD Họ bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng Mặc dù các đương sự với tư cách tố tụng khác nhau có một số quyền và nghĩa vụ khác nhau nhưng với những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ đó, họ có điều kiện thuận lợi

Trang 26

20

như nhau khi tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ tư, đương sự có quyền tự định đoạt trong TTD Điều đó nghĩa là

việc các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ là cơ sở làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nói chung

và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng Chỉ đương sự mới có quyền

tự định đoạt này, trong khi các chủ thể khác có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm

1.3 Vai trò của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

ự phát triển kinh tế ở các cường quốc tiên tiến trên thế giới đã chỉ ra rằng, sự ổn định và phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng là một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển đó Để bảo đảm thiết lập hệ thống TCTD an toàn và hiệu quả, phát huy tích cực đối với nền kinh tế và các mối quan hệ trong đời sống xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tín dụng Ngược lại, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình thì các TCTD cũng luôn phải tuân thủ các chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ phát triển của Nhà nước, tuân thủ các quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi

ro trong các hoạt động tín dụng nói chung và giảm thiếu các tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói riêng

Cùng với sự phát triển và ổn định chính sách tiền tệ tại các TCTD thì các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng đang gia tăng đột biến, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế nước nhà trên đà suy thoái Các tranh chấp phát sinh từ HĐTD nếu không được giải quyết triệt để, kịp thời sẽ dẫn tới nguy cơ mất vốn của các TCTD, nợ xấu trong hệ thống TCTD tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường tài chính tiền tệ Tùy thuộc vào tính chất của các tranh chấp, mức độ tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà các bên chủ thể có thể

Trang 27

21

lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào phù hợp nhất trên cơ sở pháp luật cho phép và cùng có lợi Với vai trò là hệ thống cơ quan xét xử và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, Toà án được xem là một giải pháp rất tối ưu và có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp nói chung và các tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng nói riêng

Pháp luật là phương diện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống của xã hội Pháp luật còn là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân [30] Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an toàn xã hội và đặc biệt là giải pháp góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đề

ra Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm cũng là nơi Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét thẩm của Tòa án, những người tham

dự phiên tòa biết rõ hơn các quy định của pháp luật được Tòa án áp dụng giải quyết vụ án từ để nâng cao được ý thức pháp luật của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp

Hiện nay, nước ta trong giải đoạn phát triển kinh tế nên các giao dịch hàng hóa, tiền tệ trong xã hội diễn ra hàng ngày rất đa dạng, phong phú, đặc biệt trong các tổ chức tín dụng - nơi cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế Để bảo đảm an toàn về mặt pháp lý, các bên trong giao dịch chọn hình thức giao dịch thông qua hợp đồng tín dụng để ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên, là

cơ sở để pháp luật bảo về quyền lợi của các bên khi có tranh chấp Trong thực tiễn ta nhận thấy HĐTD có nhiều vấn đề phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nên rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng Khi lợi ích giữa các bên không đạt được, không thể cùng nhau thỏa thuận thì thông thường bên bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra Tòa án để được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Trang 28

22

Trong TTD , có nhiều chủ thể tham gia và mỗi chủ thể đóng vai trò khác nhau Tuy nhiên, có thể nói đương sự là cá nhân có vai trò đặc biệt quan trọng bởi lợi ích của họ vừa là nguyên nhân, vừa là mục đích của quá trình tố tụng

Thứ nhất, đương sự là cá nhân có quyền quyết định làm phát sinh, thay

đổi hoặc chấm dứt hoạt động TTD Trong một quan hệ pháp luật dân sự mà các bên không thống nhất được vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ, họ yêu cầu Tòa án giải quyết, khi đó phát sinh tư cách mới là đương sự, và đồng thời, phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới được điều chỉnh bởi Luật TTD

Thứ hai, yêu cầu của đương sự cá nhân là cơ sở quan trọng cho việc

tham gia tham gia của các chủ thể khác của quá trình TTD Khi đương sự yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản,… mà được Tòa án chấp nhận thì vụ việc dân sự đó sẽ có sự tham gia của người làm chứng, người giám định, người định giá,…

Thứ ba, đương sự là cá nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

cũng là cơ sở để làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác như Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác Chẳng hạn,

về nguyên tắc, đương sự là chủ thể có nghĩa vụ chính trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh yêu cầu của họ là hợp pháp và có căn cứ, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp pháp luật quy định (khi đương sự không tự thu thập được…)

Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm cũng là nơi Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, những người tham dự phiên tòa biết rõ hơn các quy định của pháp luật được Tòa án áp dụng giải quyết vụ án từ đó nâng cao được ý thức pháp luật của họ Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch dân sự, đặc biệt là các giao dịch thông qua HĐTD ngân hàng diễn ra càng ngày càng nhiều trên phạm vi rộng, gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp này ở Tòa án

Trang 29

23

Trước tình hình đó cần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về đương sự là cá nhân liên quan đến việc giải quyết tranh chấp HĐTD và nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn để có nhận thức toàn diện về cơ chế giải quyết tranh chấp này tại Tòa án

là rất cần thiết

Kết luận Chương 1

Trong Chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề cơ bản về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng như khái niệm, đặc điểm cũng như những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án cũng và nêu ra các yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án và vai trò của việc xác định tư cách đương sự trong vụ án tranh chấp HĐTD Từ đó, là cơ sở lý luận cần thiết trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án để làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng ở Chương 2 và đề ra giải pháp ở Chương 3

Trang 30

24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TIỄN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

VỀ ĐƯƠNG SỰ LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN TRANH CHẤP

Thứ nhất: Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự

Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 5 BLTTD 2015, theo đó:

“Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”

Như vậy, quyền của chủ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp HĐTD là việc quyết định chọn phương thức giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu và chỉ giải quyết các vấn đề tranh chấp trong phạm vi yêu cầu Có nghĩa là khi tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp có quyền tự quyết định việc khởi kiện, chủ động đề xuất các yêu cầu, phạm vi mức độ quyền và lợi ích cần được bảo vệ Thậm chí, ngay khi đưa vụ án tranh chấp ra giải quyết các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa

Trang 31

25

thuận với nhau một cách tự nguyện không trái với pháp luật và yêu cầu đạo đức xã hội

Thứ hai, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

Được quy định tại Điều 6 BLTTD 2015 nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh được thể hiện thông qua những khía cạnh sau:“Đương sự có

quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”

Đây được xem là việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong giải quyết tranh chấp HĐTD và đồng thời là quyền và nghĩa vụ của các đương sự Khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp HĐTD thì đương sự phải chứng minh được các yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Các bên có quyền

và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết và có thể phản đối yêu cầu của người khác đối với mình nhưng phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án không bị bắt buộc thu nhập, xác minh chứng cứ mà chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do BLTTD quy định Nguyên tắc này tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng các vụ tranh chấp và nâng cao trách nhiệm chứng minh của các

đương sự bảo vệ lợi ích của mình

Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự

Được quy định tại Điều 8 BLTTD 2015, đây là nguyên tắc thể hiện

quyền con người trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

theo đó: “Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật,

Trang 32

26

không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”

Khi tham gia giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án, các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, không ai được phân biệt đối xử Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, có quyền đưa ra yêu cầu và phản đối yêu cầu của bên kia cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ

cung cấp chứng cứ nhằm bảo vệ lợi ích của mình

Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp của đương sự

Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTD được quy định tại Điều 9 BLTTD thể hiện trách nhiệm của cơ quan tiến hành TTD đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự, cụ thể: “Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật

sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự”

Như vậy, trong TTD nói chung và trong giải quyết tranh chấp HĐTD nỏi riêng, đương sự chỉ có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện được các quyền, nghĩa vụ TTD của họ Bên cạnh đó ngoài quyền tự bảo vệ cho mình, các đương sự có quyền nhờ luật sư hay

Trang 33

27

người khác có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Thứ năm, nguyên tắc hoà giải

Vì đặc điểm của tranh chấp phát sinh từ HĐTD phản ảnh về lợi ích kinh tế của các bên nên biện pháp mà các bên tiến hành để giải quyết tranh chấp trước tiên là hoà giải và chỉ cần đến sự can thiệp của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi không thể hoà giải được Khi Toà án tiến hành giải quyết tranh chấp, trước tiên Tòa án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau Điều này có nghĩa, tại Tòa án, các đương sự vẫn có quyền tiến hành hoà giải dưới sự hướng dẫn

và công nhận của Tòa án

Khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “1 Trong thời hạn

chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều

207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”

Theo đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; Vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTD ) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTD ) Tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng

hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp

Thứ sáu, nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia

Điều 11 BLTTD 2015 có quy định: “Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường

Trang 34

Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự

để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”

Như vậy, có thể thấy nguyên đơn trong vụ án dân sự nói chung và vụ

án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng không những chỉ là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong vụ án dân sự còn

là cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi

Trang 35

29

ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ

tố tụng

Theo đó, nguyên đơn được giả thiết có quyền lợi bị xâm hại hay có tranh chấp Mặc dù nguyên đơn có quyền, lợi ích giả thiết bị xâm phạm nhưng vẫn có thể khởi kiện và được Toà án thụ lý vì họ đã cung cấp các chứng cứ ban đầu cần thiết để chứng minh họ có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết Về nguyên tắc thì nguyên đơn phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, có quyền, lợi ích liên quan quan hệ pháp luật nội dung đó và cụ thể hơn trong trường hợp này, đó là tranh chấp trong quan hệ tín dụng

Với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại điện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự và được Tòa

án thụ lý thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn Nếu

cá nhân là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện khởi kiện thì người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự được bảo

vệ quyền lợi là nguyên đơn

(ii) Về việc xác định bị đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương

sự trong vụ việc dân sự với tư cách bị đơn: “Bị đơn trong vụ án dân sự là

người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”

Theo đó, một cá nhân được xác định là bị đơn trong vụ án dân sự nói chung và trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng khi:

Trang 36

30

Thứ nhất, là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khởi kiện

Thứ hai, bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm

đến quyền lợi của nguyên đơn

Đối với việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ bảo lãnh, tín dụng thì trong quan hệ này, việc xác định tư cách của bị đơn phụ thuộc vào những điều kiện luật định Chủ nợ có thể khởi kiện người có nghĩa

vụ theo quan hệ hợp đồng tín dụng hoặc theo quan hệ bảo lãnh để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự Bị đơn sẽ là người bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu không thuộc trường hợp này thì người bị kiện hay bị

đơn chính là người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng

(iii) Về việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ

án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

Theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương

sự trong vụ việc dân sự với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy

không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách

là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia

tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 37

31

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn Một chủ thể được coi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ tự mình đề nghị được tham gia tố tụng, được các đương sự khác đề nghị Tòa án chấp nhận đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc họ sẽ tham gia tố tụng theo ý chí của Tòa án

Như vậy, để xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, trước hết ta căn cứ vào việc xác định

tư cách của các đương sự trước đó của Tòa án Việc xác định tư cách tham gia

tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi kiện của nguyên đơn và việc thụ lý vụ án dân sự của Tòa án

Theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 73 Quyền, nghĩa vụ của người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: “Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn”

Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào hoạt động tố tụng của vụ án có yêu cầu độc lập trước Tòa

án Yêu cầu này là đối tượng mà Tòa án phải xem xét giải quyết cùng với yêu cầu của nguyên đơn Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn

là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn Do đó, yêu cầu của họ có thể chống lại nguyên đơn, bị đơn hoặc chống lại cả hai

Bên cạnh đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn hay có thể hiểu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập là người tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia

Trang 38

32

tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn do có quyền, lợi ích của họ gắn liền với quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

Theo quy định của pháp luật, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân

sự nói chung và vụ án tranh chấp về HĐTD nói riêng khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Do vậy, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Trong quá trình giải quyết, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, điều đó cũng là cơ sở để hình thành nên tư cách tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp về

hợp đồng tín dụng nói riêng và vụ án dân sự nói chung

Theo đó, đối với nguyên đơn trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do BLTTD quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa

án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người

đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn

Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung của các đương sự quy định tại Điều

70 của BLTTD năm 2015 thì nguyên đơn cũng được pháp luật ghi nhận các quyền và nghĩa vụ riêng quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Cụ thể nguyên đơn có quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; Rút một phần hoặc toàn

bộ yêu cầu khởi kiện; Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Trang 39

33

Pháp luật cũng không ghi nhận quyền yêu cầu của nguyên đơn đối với người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Bởi lẽ, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTD năm 2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn Trường hợp quyền yêu cầu độc lập này của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nghĩa vụ mà nguyên đơn phải thực hiện và nguyên đơn cũng có yêu cầu ngược lại với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì BLTTD hiện hành chưa ghi nhận [15]

Đối với bị đơn trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm Căn cứ theo điều 72 BLTTD 2015, bị đơn sẽ có các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đặc biệt, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tại khoản 4 Điều 72 BLTTD

2015 quy định “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn,

nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa

vụ của nguyên đơn” Theo đó, căn cứ vào Điều 200 của BLTTD năm 2015

thì phạm vi yêu cầu phản tố của bị đơn không chỉ dừng lại đối với nguyên đơn, mà còn có thể yêu cầu phản tố đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nói cách khác, phạm vi yêu cầu phản tố của bị đơn bị giới hạn trong 03 trường hợp Cụ thể như sau:

a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

Trang 40

34

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, theo quy định tại Điều 73 BLTTD năm 2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này hoặc nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ luật này Quy định trên thể hiện trong một số trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng có quyền lợi hay nghĩa vụ như của nguyên đơn, bị đơn Tuy nhiên, xét trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn, bị đơn là chủ thể đặc biệt được pháp luật ghi nhận có quyền, nghĩa vụ đặc trưng so với những chủ thể tham gia tố tụng tụng khác Do vậy, chỉ nguyên đơn, bị đơn mới được pháp luật trao cho các quyền và thực hiện các nghĩa vụ nhất định khi tham gia tố tụng Còn việc người có quyền, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc

bị đơn thì chỉ liên quan đến quyền lợi hoặc nghĩa vụ nhất định trong vụ án dân

sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng [15]

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ

án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

2.2.1 Tình hình thụ lý, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án

Theo thống kê, hiện nay trong số các tranh chấp KDTM đã thụ lý và được giải quyết tại Tòa án thì tranh chấp phát sinh từ HĐTD chiếm tỷ lệ lớn thứ hai sau hợp đồng mua bán Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ một trong những đặc trưng cơ bản của HĐTD là sự chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn đối với quyền lợi của bên cho vay

Ngày đăng: 23/09/2022, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thông Anh, Tranh chấp trong kinh doanh thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại, Link tham khảo: www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest(ngày đăng: 26/02/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp trong kinh doanh thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại
2. Trần Tuấn Anh, Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
3. Trần Võ Hữu Chánh (2019), Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Võ Hữu Chánh
Năm: 2019
4. Công ty Luật TNHH Lawkey, Các ưu điểm và hạn chế khi giải quyết tranh chấp tại tòa án, Link tham khảo: https://lawkey.vn/cac-uu-diem- va-han-che-khi-giai-quyet-tranh-chap-tai-toa-an/(ngàyđăng:15/8/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ưu điểm và hạn chế khi giải quyết tranh chấp tại tòa án
5. Nguyễn Triều Dương (2010), Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đương sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2010
6. Nguyễn Triều Dương (2015), Cơ chế bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đáp ứng tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự đáp ứng tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2015
7. Phạm Văn Đàm (2011), “Các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng”
Tác giả: Phạm Văn Đàm
Năm: 2011
8. Phan Thị Thu Hà (2006), “Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam – cách tiếp cận từ tính chất sở hữu”, Tạp chí ngân hàng, ố 24/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam – cách tiếp cận từ tính chất sở hữu”, "Tạp chí ngân hàng
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Năm: 2006
9. Trần Vũ Hải (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Trần Vũ Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
11. Đào Văn Hội (2005), Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Hội
Năm: 2005
12. Nguyễn Thị Thu Hồng (2013), Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, Học viện Khoa học Xã Hội - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hồng
Năm: 2013
13. Lý Thị Thanh Huyền (2012), Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kề của tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ, Học viện Khoa học Xã Hội - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kề của tòa án nhân dân ở tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Lý Thị Thanh Huyền
Năm: 2012
14. Đặng Ngọc Hưng (2016), Hòa giải trong vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hòa giải trong vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Đặng Ngọc Hưng
Năm: 2016
15. Võ Văn Tuấn Khanh, Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự - Những bất cập cần khắc phục, Tạp chí Tòa án Nhân dân điện tử:https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-va-nghia-vu-cua- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự - Những bất cập cần khắc phục
16. Phạm Quốc Khánh, Giải pháp xử lý nợ xấu hiên nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Tài Chính:http://tapchitaichinh.vn/nganhang/xu-ly-no-xau-va-tang-truong-tin-dung-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-vietnam-309460.html (ngày đăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp xử lý nợ xấu hiên nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam", Tạp chí Tài Chính: "http://tapchitaichinh.vn/nganhang/xu-ly-no-xau-va-tang-truong-tin-dung-tai-cac-ngan-hang-thuong-mai-vietnam-309460.html
17. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005),“Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam”
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
19. Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Hoàng Phúc
Năm: 2013
21. Quốc Hội (2015), Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
22. Quốc Hội (2010), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
23. Quốc Hội (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w