1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam

122 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Linh
Người hướng dẫn PGS.TS Hà Thị Mai Hiên
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, luận văn “Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” được tác giả đã tiếp cận, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về thực trạng pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LINH

BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ LINH

BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên

Hà Nội – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Linh

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 11 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QBĐ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 11

1.1 Khái niệm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 111.1.1 Khái niệm, đặc điểm hôn nhân và gia đình 111.1.2 Khái niệm, đặc điểm quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình 151.1.3 Bình đẳng giới và quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 181.2 Khái quát về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 211.2.1 Khái niệm, ý nghĩa bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 211.2.2 Chủ thể, nội dung và biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 241.3 Các yếu tố tác động đến thực tiễn bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 40

Kết luận chương 1 48 Chương 2 50 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN

Trang 5

BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ

GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 50

2.1 Các quy định chung về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình 50

2.2 Nội dung pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ 54

2.2.1 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong kết hôn 54

2.2.2 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ vợ và chồng 55

2.2.3 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc nuôi con nuôi 62

2.2.4 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ với tư cách là thành viên trong gia đình 65

2.2.5 Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ khi chấm dứt hôn nhân 67

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 70

2.3.1 Tích cực 71

2.3.2 Hạn chế 73

2.3.3 Nguyên nhân 76

2.3.4 Một số vụ việc nổi bật về quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình tại Việt Nam 79

Kết luận chương 2 89

Chương 3 90

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 90

3.1 Xu hướng của thời đại về bảo đảm quyền của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình 90 3.2 Giải pháp chung bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật

Trang 6

hôn nhân và gia đình 94

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 99

3.3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong Luật hôn nhân và gia đình 99

3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong Luật bình đẳng giới 105

3.3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong Tư pháp hình sự 106

Kết luận chương 3 108

KẾT LUẬN 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động dành thời gian làm việc nhà,theo loại công việc cụ thể và số giờ trung bình hàng tuần cho việc này (2019) 84

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CEDAW : Convention on the Elimination of All Forms of

Discrimination against Women ( Công ước về xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ) HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

UDHR : Universal Declaration of Human Rights ( Tuyên

ngôn quốc tế nhân quyền )

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền bình đẳng của phụ nữ về thực chất là quyền con người, quyền công dân của phụ nữ; là một trong những nội dung định hướng của đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam ngay từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời và đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng, trong tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam

Do đó, việc bảo đảm quyền của phụ nữ luôn thu hút sự quan tâm rất lớn trong xã hội, không chỉ ở trong nước mà còn rộng khắp trên toàn cộng đồng quốc tế QBĐ của phụ nữ được xem như một trong những chuẩn mực quan trọng, vừa là mục tiêu chung của toàn nhân loại, vừa là nhiệm vụ quan trọng mà các quốc gia luôn hướng tới việc thúc đẩy phát triển, bảo đảm nhằm xây dựng bền vững quốc gia, ổn định dân chủ, phát triển xã hội Đặc biệt, vấn

đề BĐG chỉ được công nhận và quan tâm hơn kể từ khi Liên hợp quốc ra đời, được đề cập cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 với lời khẳng định sự “bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn ông…” Tiếp đó, ba năm sau đó (năm 1948), Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (viết tắt là UDHR) xác lập nguyên tắc nền tảng là tất cả mọi người đều được hưởng các quyền tự do một cách bình đẳng, không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, dân tộc, giới tính (Điều 1, Điều 2) Sau đó, tiếp nối là một loạt các điều ước quốc tế được Liên hợp quốc thông qua nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em gái Trong đó, tiêu biểu và nổi bật nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (viết tắt là CEDAW), được Liên hợp quốc thông qua năm 1979 Công ước đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống điều ước quốc tế về quyền con người với mục đích bảo đảm QBĐ của phụ nữ với nam giới trong xã hội

Trang 10

Tại Việt Nam, đề tài hôn nhân và gia đình cũng được Đảng và Nhà nước chú trọng, quan tâm Với quan điểm gia đình là tế bào của xã hội; HN&GĐ là nền tảng quan trọng của xã hội, là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục các thế

hệ tương lai của đất nước, nơi giữ gìn và phát triển các nét đặc trưng văn hóa, truyền thống của dân tộc, quốc gia Trong đó, các tế bào khỏe mạnh thì xã hội mới phát triển bền vững và ổn định, ngược lại, nếu xuất hiện nhiều tế bào lỗi thì xã hội sẽ trở nên suy thoái dần, cũng như những yếu tố về truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội của đất nước sẽ tan vỡ Do đó, không chỉ vợ, chồng, các con, mà cả Nhà nước và toàn xã hội đều hướng tới sự quan tâm trong việc xây dựng, bảo vệ và củng cố quan hệ hôn nhân bền vững, gia đình hạnh phúc Trong đó, vấn đề đảm bảo quyền lợi của phụ nữ trong gia đình là một mục tiêu quan trọng giúp gây dựng bền vững, ổn định gia đình và xã hội Thấm nhuần tư tưởng, quan điểm, đồng thời nắm chắc về phương thức hoạt động và phát triển đất nước, xã hội nên Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi BĐG là một trong các trụ cột để phát triển bền vững và là công cụ để tiến tới công

bằng xã hội Theo Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, "Việt

Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á" Trong thời gian tới, Nhà

nước Việt Nam quyết tâm khắc phục một số vấn đề còn tồn tại như tình trạng phân biệt đối xử, ngược đãi và bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, hay các tệ nạn mại dâm,… Để đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ trên, Nhà nước

ta đã ban hành ra hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đa dạng nhằm đảm bảo quyền BĐG trong HN&GĐ, phù hợp với pháp luật quốc tế, phải kể đến như: Luật BĐG, Luật HN&GĐ, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… cùng với đó là những văn bản hướng dẫn luật, các chính sách, chủ trương hành

Trang 11

động trong giai đoạn mới nhằm xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng trên lĩnh vực tiếp cận nhân quyền của mỗi cá nhân, đặc biệt là quyền lợi người phụ nữ trong mối quan hệ hôn nhân, gia đình

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Bảo

đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ

cứu như: Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Luận án tiến sĩ luật học: “Đảm bảo quyền

của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay”, năm 2017; Đặng Thị Thơm,

Luận án tiến sĩ luật học: “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam”, năm 2016; TS Ngô Bá Thành, “Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ

trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam”, năm 2001;

Lương Phan Cừ: “Bình đẳng giới – hiện trạng chính sách và pháp luật về

BĐG”, năm 2004; Dương Thị Ngọc Lan, “Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, năm 2000; Hoàng Mai Hương, “Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”; Cao Quốc

Việt, “Hoàn thiện pháp luật về phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt

Nam hiện nay”, năm 2006…

Bùi Thị Mừng, Chương 6 “Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới”, Ngô Thị Hường - Nguyễn Phương Lan (đồng chủ biên), Tập bài giảng Luật bình đẳng giới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2013 Nội dung công trình này đề cập

Trang 12

trực tiếp đến các biện pháp bảo đảm BĐG, trong đó có đề cập đến những khía cạnh nhất định của biện pháp thúc đẩy BĐG;

Trường Đại học Luật Hà Nội, “Bảo đảm quyền và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật”- Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp trường, Hà Nội năm 2016 Các báo cáo khoa học khai thác 10 các nội dung về thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ ở nhiều khía cạnh khác nhau trong việc tổ chức và thực hiện pháp luật 12 Trần Thị Minh Thi “Bình đẳng giới trong chính trị từ chiều cạnh thể chế, văn hóa và hội nhập quốc tế” Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 2017 Nghiên cứu này tiếp cận từ góc độ lý thuyết về BĐG để đánh giá về BĐG và thực trạng BĐG trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến BĐG trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam 13 Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019, “Pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới trong doanh nghiệp”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Nghiên cứu những vấn đề lí luận và pháp luật lao động

về BĐG trong doanh nghiệp Phân tích thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về BĐG trong doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động Việt Nam về vấn

đề này 14 Nguyễn Nam Phương, “Bình đẳng giới trong lao động và việc làm với tiến trình hội nhập Việt Nam Cơ hội và thách thức”, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội 2016 Cuốn sách chuyên khảo này đã trình bày hệ thống lí luận và thực trạng về BĐG trong lao động và việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và chuẩn bị gia nhập WTO; trên

cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao BĐG trong lĩnh vực việc làm 16 Học viện Phụ nữ Việt Nam- Viện Friedrich-Ebert-Stiftung, Hà Nội – 2019; Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020, “Pháp luật bình đẳng giới và thực tiễn thi hành tại Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đề tài nghiên cứu pháp luật Việt Nam về BĐG, thực tiễn thi hành pháp luật Việt

Trang 13

Nam về BĐG trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Đây là một công trình nghiên cứu công phu về pháp luật BĐG Tuy nhiên, đề tài không đi sâu nghiên cứu về các biện pháp thúc đẩy BĐG mà chỉ xem xét về các biện pháp thúc đẩy BĐG với ý nghĩa là một nội dung của BĐG trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo- các lĩnh vực hiện nay có áp dụng biện pháp thúc đẩy BĐG nhằm rút ngắn sự chênh lệch về khoảng cách giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, cơ hội và sự thụ hưởng; Bên cạnh đó, khi nghiên cứu việc bảo vệ quyền của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ; vấn đề BĐG cũng được quan tâm và chú trọng Do đó, đã có nhiều bài viết được đề cập, đăng trong các tạp chí pháp luật, điển hình như một số luận văn thạc sĩ luật học, luận án tiến sĩ và các bài viết, bài nghiên cứu như: Chu Thị Thoa,

“Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay”,

năm 2002; Nguyễn Thị Hoàng Giang, “Bình đẳng giới trong pháp luật Hôn

nhân – Gia đình Việt Nam, năm 2014; Hoàng Thị Khánh Linh, “Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014”, năm

2015; NCS Phạm Thị Bích Phượng, “Một số vấn đề về bảo vệ quyền của phụ

nữ khi ly hôn ở Việt Nam”… Ngoài ra vấn đề BĐG còn được được đề cập

trong tạp chí phụ nữ, điển hình là bài viết với chuyên đề: “Bình đẳng giới

trong gia đình”, đăng trong tạp chí Hội Liên Hiệp phụ nữ tỉnh Thái Bình; hay

một loạt những bài viết về chủ đề: “Chung tay phòng chống bạo lực trong gia

đình Việt Nam”; “Bảo vệ quyền lợi người phụ nữ trong gia đình tại Việt Nam…” lần lượt ra đời và được đăng trên tạp chí nhân quyền cũng như trong

các hội thảo khoa học trên toàn quốc Qua đây, nhìn chung vấn đề BĐG, bảo

vệ quyền lợi người phụ nữ trong gia đình và xã hội là một trong những chủ đề hay và tiêu biểu, được cộng đồng xã hội hết sức quan tâm và chú trọng, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Do vậy, chắc chắn tất cả những bài viết, công trình nghiên cứu khoa học… trên là

Trang 14

những nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quan trọng và bổ ích, phục vụ và giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, phân tích nhằm làm sáng tỏ vấn đề, bảo đảm QBĐ của phụ nữ trên mọi lĩnh vực, trong đó đặc biệt quan tâm và chú trọng tới vấn đề pháp luật HN&GĐ hiện hành

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết khác nhau với đa dạng phương hướng, cách thức tiếp cận liên quan tới chủ đề BĐG, vấn đề nhân quyền trong việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Tuy nhiên,

luận văn “Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và

gia đình Việt Nam” được tác giả đã tiếp cận, phân tích, làm rõ các vấn đề lý

luận về thực trạng pháp luật Việt Nam; thực tiễn xã hội về việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trên toàn lĩnh vực, trong đó đặc biệt tập trung vào vấn đề hôn và nhân gia đình ở một góc độ tiếp cận mới Từ phương lý luận đến thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra hệ thống các quan điểm, bình luận dưới góc nhìn khách quan, chân thực để đánh giá thực tiễn xã hội một cách đúng đắn và toàn diện Qua đó, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi người phụ nữ trong vấn đề hôn nhân gia đình dưới góc nhìn pháp luật quốc gia và thực tiễn khách quan phù hợp với xu thế của thời đại hiện nay

Qua việc đánh giá, phân tích về tình hình hình nghiên cứu hiện nay liên

quan đến chủ đề “Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn

nhân và gia đình Việt Nam”, tác giả đã đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu chính để

đi tìm hiểu và làm sáng tỏ trong bài luận văn trên, đó là:

Câu hỏi 1: QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ là gì? Các yếu tố tác động và điều kiện đảm bảo đến quyền trên như thế nào? Tại sao cần phải quan tâm và bảo đảm quyền phụ nữ tại Việt Nam?

Câu hỏi 2: Thực trạng pháp luật HN&GĐ tại Việt Nam về bảo đảm QBĐ của phụ nữ diễn ra như thế nào? Thực tiễn thực hiện vấn đề trên ra sao?

Trang 15

Câu hỏi 3: Xu hướng thời đại và các giải pháp hiệu quả giúp tăng cường việc thực hiện pháp luật bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ tại Việt Nam hiện nay được triển khai và thực hiện như thế nào?

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn hướng đến việc cung cấp cho người đọc những tri thức liên quan đến quyền BĐG giữa nam, nữ; QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình hiện nay từ vấn đề lý luận đến pháp luật Đồng thời, tiến hành phân tích và bình luận vấn đề luật pháp dưới góc nhìn đối sánh giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Từ đó, tạo cơ sở, tiền đề vững chắc nhằm đánh giá đúng những vấn đề thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc kiến nghị, đưa ra những phương hướng và giải pháp quan trọng nhằm tăng cường việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Đồng thời, với hy vọng luận văn sẽ trở thành một nguồn tài liệu bổ ích để hỗ trợ quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức khác khác trong xã hội với mục tiêu chung tay xóa bỏ tình trạng bất BĐG nói chung và quyền người phụ

nữ nói riêng trong pháp luật HN&GĐ tại Việt Nam

Để làm rõ mục đích của đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu những nhiệm vụ chính sau:

Thứ nhất, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hôn nhân

gia đình, QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ; vấn đề bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân, gia đình

Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá về thực trạng pháp luật HN&GĐ Việt Nam

trong việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ và thực tiễn thực hiện trong xã hội hiện nay Qua đó, phân tích những thành tựu nổi bật cũng như những hạn chế tồn đọng trong xã hội về việc thực hiện QBĐ của phụ nữ về hôn nhân, gia đình Việt Nam

Trang 16

Thứ ba, đề xuất định hướng phát triển và một số giải pháp cơ bản nhằm

tăng cường việc thực hiện pháp luật bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Việt Nam hiện nay Qua đó, nâng cao và thúc đẩy tiến trình BĐG trong hôn nhân gia đình hiện nay

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật QBĐ, quyền BĐG giữa nam nữ, đặc biệt chú trọng nghiên cứu tập trung về QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ; những yếu tố tác động, những điều kiện bảo đảm, thúc đẩy QBĐ của phụ nữ tại Việt Nam hiện nay Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, luận văn tập trung tìm hiểu đối tượng chính đó là người phụ nữ

và các quyền cơ bản của phụ nữ trong xã hội nói chung và hôn nhân gia đình nói riêng

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu phân tích, làm rõ các quy định pháp luật liên quan đến QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2014 đến nay Từ đó làm rõ những điểm tích cực

và tìm ra một số điểm hạn chế, bất cập trong pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề bình đẳng của phụ nữ trong HN&GĐ để để xuất các cách thức, phương thức bảo đảm nhằm đưa ra các kiến nghị và giải pháp mang tính thiết thực, khả thi trong việc nâng cao và bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, phương pháp luận khoa học biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân quyền, cùng với việc vận dụng những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xu hướng xây dựng, phát triển đất nước gắn liền với việc chăm lo, bảo vệ quyền con người, trong đó đặc biệt chú trọng trong vấn đề BĐG Kết hợp các cơ sở phương pháp luận trên, luận văn tập trung

Trang 17

nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận và pháp luật về thực tiễn xã hội trong việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ hiện nay

Để triển khai và nghiên cứu về chủ đề “Bảo đảm quyền bình đẳng của

phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, tác giả đã kết hợp sử

dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để thu nhận những tri thức, kết luận khách quan, xác thực về các quan điểm trong xã hội Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính cụ thể như : phương pháp nghiên cứu, phân

tích tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phân tích số liệu

Bên cạnh đó, các phương pháp khác như: phương pháp tổng hợp, chứng minh, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn… cũng được kết hợp sử dụng trong bài viết nhằm tăng tính hiệu quả và xác thực cho luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở góc nhìn khách quan, biện chứng về vấn đề

QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam hiện nay, luận văn đã

có những cái nhìn sâu sắc hơn và đóng góp một số điểm mới về vấn đề lý luận xoay quanh QBĐ của phụ nữ nói chung và QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng Luận văn đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc nhìn khác so với những công trình nghiên cứu trước đó là đảm bảo và thúc đẩy QBĐ của phụ

nữ trong pháp luật HN&GĐ thông qua việc tìm hiểu và trình bày một cách khái quát về các vấn đề: Khái niệm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ; Khái niệm, nội dung, ý nghĩa bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ; Các yếu tố tác động đến thực tiễn bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ; Khái quát QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ trong pháp luật Việt Nam và thực trạng pháp luật Việt Nam về QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã trình bày thực tiễn thực hiện pháp luật về

bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam bằng việc đưa

ra những số liệu và một vài vụ việc nổi bật trên thực tế Trên cơ sở xu hướng

Trang 18

của thời đại về bảo đảm quyền của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ, luận văn

đã đề xuất, kiến nghị một số giải pháp chung và giải pháp cụ thể để thúc đẩy

và bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam

Luận văn hoàn thành có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, vận dụng trong thực tiễn, làm tiền đề để xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật về QBĐ của phụ nữ ở Việt Nam Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam tham gia vào các Hiệp định về BĐG nói chung, QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành các Chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Chương 2: Thực trạng pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay

Trang 19

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QBĐ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hôn nhân và gia đình

1.1.1.1 Khái niệm hôn nhân và gia đình

Hôn nhân là một hình thức, một hiện tượng được hình thành từ rất lâu

đời trong xã hội loài người Ban đầu, hôn nhân được coi là “sự sắp đặt của xã

hội để điều chỉnh mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, hôn nhân là sự liên kết hợp pháp giữa người đàn ông và người đàn bà để xây dựng gia đình và

Ở các nước theo hệ thống thông luật (Common Law), khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866) được sử dụng phổ biến2

: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người

đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác” Ngoài ra,

một số luật gia ở Châu Âu và Hoa Kỳ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết

pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” hoặc

“Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một

nhân thân và những quyền lợi, nghĩa vụ giữa họ cũng được hình thành Thực

huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.6

luật dân sự, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/09/11/01/57/56834-2/ , truy cập ngày 01/8/2021

Trang 20

chất và ý nghĩa của hôn nhân được biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày Từ khi pháp luật xuất hiện và phát triển, hoàn thiện như ngày nay, những hình thái hôn nhân cũng xuất hiện đồng thời và mang những nét đặc trưng của riêng hình thái hôn nhân đó Theo đó, trong xã hội nào thì

sẽ có hình thái hôn nhân đó, tương ứng với chế độ hôn nhân nhất định Ví dụ như trong xã hội phong kiến, hình thức hôn nhân phong kiến mang nét bản chất đề cao vai trò của người chồng và những bất công đối với người vợ hay

“trọng nam, khinh nữ” hay xã hội tư bản có hình thức hôn nhân tư sản, mang bản chất của xã hội tư sản với quan niệm: “hôn nhân là một hợp đồng, một giao kèo có tính chất pháp lý, hơn nữa lại là một giao kèo quan trọng nhất trong tất cả mọi giao kèo, vì nó định đoạt cả thể xác lẫn tinh thần của hai con người trong suốt cả đời họ”4

… Hiện nay, một số quốc gia đã công nhận hôn nhân đồng giới, do đó, khái niệm hôn nhân cũng được mở rộng hơn, không chỉ giữa người đàn ông và người đàn bà mà hôn nhân được xác lập chỉ cần hai người có mối quan hệ tình cảm, có chung mục đích muốn có sự liên kết, gắn

bó với nhau về mặt tinh thần cũng như về mặt luật pháp Hôn nhân là bình đẳng, không có bất kỳ sự phân biệt nào về giới tính, chủng tộc, quan điểm tôn giáo, quốc tịch…

Ở Việt Nam, các giáo trình dân luật dưới chế độ cũ chưa đưa ra khái

niệm cụ thể về hôn nhân mà đưa ra khái niệm giá thú, theo đó “giá thú (hay

hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” hay “giá thú là sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh những nghĩa vụ tương hỗ cho cả hai bên về phương diện đồng cư,

4 Nguyễn Thị Tuyết, Những giá trị lý luận và thực tiễn từ quan điểm của C.Mác về HN&GĐ, Trang thông tin

điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Trang 21

http://mattran.org.vn/hoi-dong-tu-van/nhung-gia-tri-ly-luan-va-thuc-trung thành và tương trợ”5 Theo cổ luật và tục lệ Việt Nam, việc sinh con đẻ cái, đặc biệt là con trai để nối dõi tông đường và thờ phụng tổ tiên là mục đích chủ yếu của hôn nhân

Ngày nay, hôn nhân được xác định ngoài các mục đích về vấn đề sinh học, tình cảm đôi bên phải được đặt lên hàng đầu Theo đó, Khoản 1 Điều 3

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng

sau khi kết hôn” Theo tinh thần của các nhà làm luật, hôn nhân tại Việt Nam

là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ trên nguyên tắc hoàn toàn

tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa công nhận hôn nhân đồng giới là hôn nhân hợp pháp, lý do là vì hôn nhân đồng giới sẽ làm mất đi khái niệm truyền thống về người vợ, người chồng được xác định dựa trên giới tính

Gia đình là khái niệm rộng hơn khái niệm hôn nhân, lấy hôn nhân làm

tiền đề Khoản 2 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Gia

đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa

họ với nhau” Như vậy, ngoài quan hệ hôn nhân, gia đình còn được xây dựng

dựa trên các quan hệ về nuôi dưỡng, huyết thống Gia đình có thể bao gồm: ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em… trong quá trình chung sống, giữa họ phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội được các triết học gia, các nhà xã hội học, sử học, luật học… nghiên cứu Theo quan điểm chung nhất, hôn nhân được coi là cơ sở của gia đình còn gia đình là tế bào của xã

2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 7,8

Trang 22

hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, nhà nước

và xã hội6

1.1.1.2 Đặc điểm hôn nhân và gia đình

Thứ nhất, HN&GĐ có mối quan hệ gắn bó với nhau Theo đó, hôn nhân

được coi là tiền đề tạo nên một gia đình dựa trên sự kiện kết hôn và xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ là một trong những mục đích mà hôn nhân hướng tới

Thứ hai, HN&GĐ là một mối quan hệ đặc thù, dung hòa những cá nhân

có mối quan hệ tương hỗ với nhau Nét đặc trưng cơ bản của hôn nhân là dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không được có những hành vi cưỡng

ép, lừa dối kết hôn… để xây dựng quan hệ vợ chồng Còn gia đình là một hình thức tổ chức, gắn bó mỗi cá nhân, không phân biệt về giới tính, được hình thành và phát triển từ hôn nhân, tạo nên quan hệ ruột thịt, huyết thống, nuôi dưỡng Trong gia đình, cá nhân phải thực hiện quyền và trách nhiệm phù hợp với vị trí, vai trò mà họ đảm nhận Các cá nhân trong gia đình ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau về nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, truyền thống…

để tạo nên bản sắc văn hóa riêng của từng gia đình

Thứ ba, mặc dù kết hôn chỉ là một trong những quan hệ xác lập nên gia

đình, song đây được coi là con đường phổ biến để tạo nên một gia đình Ngày nay, gia đình hạt nhân (gia đình bao gồm hai thế hệ: cha mẹ và con) ngày càng chiếm số lượng đông đảo, những gia đình này đều từ sự kiện kết hôn mà tạo nên từng lớp thế hệ sau này Bên cạnh đó, trong gia đình, các thành viên

có thể thuộc nhiều thế hệ, gắn bó với nhau không chỉ vì quan hệ hôn nhân mà còn là quan hệ ruột thịt, huyết thống, nhận nuôi…

Trang 23

Thứ tư, HN&GĐ tạo nên xã hội vững mạnh, với những chức năng về

kinh tế, chức năng sinh sản, duy trì nòi giống, chức năng giáo dục và các chức năng khác Mỗi gia đình vững mạnh là gia đình thực hiện được những chức năng đó, hài hòa được những yếu tố về vật chất và tinh thần sẽ tạo nên một xã hội, một đất nước phồn vinh

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình

Quyền con người (Human rights, Droits de L'Homme) là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành Quyền con người không những được nhìn nhận trên quan điểm các quyền tự nhiên (natural rights) mà nó còn được nhìn nhận trên

quan điểm các quyền pháp lý (legal right) Theo đó “quyền con người được

hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cả nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến

Quyền phụ nữ trong hôn nhân gia đình là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình Phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, dễ bị tổn thương, và rất dễ bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng truyền thống còn lạc hậu như “trọng nam khinh nữ”, sự phân biệt về quyền và nghĩa vụ trong gia đình… Quyền của phụ nữ trong hôn nhân gia đình là một trong những bộ phận quan trọng của quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo đảm trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên có thể thấy hiện nay chưa có bất kỳ một khái niệm cụ thể nào quy định về quyền của phụ

nữ trong HN&GĐ Thông qua khái niệm về hôn nhân gia đình, và với vị thế

Trang 24

là nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong gia đình có thể hiểu quyền của phụ nữ

trong quan hệ hôn nhân gia đình có thể hiểu là: Quyền của phụ nữ trong quan

hệ hôn nhân gia đình là hệ thống các quyền, lợi ích tự nhiên vốn có của phụ

nữ trong quan hệ HN&GĐ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Đặc điểm quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình:

Quyền phụ nữ là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ

nữ chính vì vậy chúng mang các đặc điểm của quyền con người Theo đó quyền con người có những đặc tính cơ bản sau:

Thứ nhất, tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người là

những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ

lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Liên quan đến tính chất này, cũng cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người

Thứ hai, tính không thể tước bỏ: Thể hiện ở chỗ các quyền con người

không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào,

kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước quyền tự do

Thứ ba, tính không thể phân chia: Thể hiện ở chỗ các quyền con người

đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi

là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người Tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định dựa trên những cơ sở

và yêu cầu thực tế, một số quyền con người có thể được ưu tiên, Ví dụ, trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế

Trang 25

Thứ tư, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated,

interdependent): Đặc điểm này thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

Cùng với đó quyền phụ nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình cũng mang những đặc trưng riêng cụ thể:

Thứ nhất, quyền của phụ nữ trong HN&GĐ xuất phát trên cơ sở hôn

nhân hợp pháp và kéo dài trong suốt quá trình hôn nhân đến khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng dựa trên việc thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn, nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững

Hôn nhân là quan hệ gắn liền với nhân thân của mỗi bên với tư cách là

vợ chồng Trong xã hội mà các quan hệ hôn nhân được coi là quan hệ pháp luật thì sự liên kết giữa người nam và người nữ mang ý nghĩa như một sự kiện pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định cho các bên trong quan

hệ vợ chồng Như vậy có thể thấy quyền của phụ nữ trong HN&GĐ gắn liền với quá trình hôn nhân và chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt

Thứ hai, quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình luôn gắn liền

với người phụ nữ và không thể chuyển giao cho bất cứ người nào khác và nhằm bảo vệ nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của quan hệ vợ chồng có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau quyền của phụ nữ trong hôn nhân gia đình mang những đặc thù riêng gắn liền với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với

tư cách là nhóm dễ bị tổn thương, chẳng hạn như chức năng sinh đẻ gắn với

Trang 26

quyền sinh con, quyền được thừa nhận là mẹ, quyền được nuôi dưỡng và chăm sóc con cái

Thứ ba, quyền của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân gia đình là cơ sở để

phụ nữ thực hiện các chức năng vai trò của mình trong gia đình đó là các vai trò người vợ, người mẹ, người bà, người con trong gia đình, nhằm đảm bảo và thực hiện quyền BĐG của phụ nữ trong gia đình

1.1.3 Bình đẳng giới và quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

1.1.3.1 Khái niệm bình đẳng giới

Theo Từ điển xã hội học thì: “Bình đẳng được hiểu trên hai bình diện

có quan hệ mật thiết với nhau: Bình diện tự nhiên và bình diện xã hội Trên bình diện tự nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi người đều có năng lực thể chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên, bình đẳng được coi là

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): “Bình đẳng được định

nghĩa là sự đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là

Như vậy, có thể hiểu rằng: Bình đẳng là sự ngang nhau về quyền và

nghĩa vụ của các chủ thể mà không có sự phân biệt nào

Khái niệm BĐG là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại và thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và lập pháp Liên quan đến khái niệm này, đã có rất quan điểm khác nhau, tiêu biểu phải kể đến một số quan điểm sau:

8

Nguyễn Khắc Việt (Chủ biên) (1994), Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 21

9 Tạp chí cộng sản (2020), Giá trị bình đẳng - tiêu chí quan trọng của chủ nghĩa xã hội,

Trang 27

https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/820729/gia-tri-binh-dang -tieu-chi-quan-trong-Theo Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ: “BĐG là một môi

trường trong đó có cả nam giới và nữ giới được hưởng vị trí ngang nhau, có

cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến

Theo tác giả Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạc: “BĐG là sự biểu đạt đối

xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí ngang nhau, có cơ hội như nhau để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã

Theo quy định của Luật BĐG năm 2006: “BĐG là việc nam, nữ có vị

trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau

giống và khác nhau, do đó, cùng một công việc như nhau, cơ hội như nhau có thể không đem lại kết quả như nhau đối với nam và nữ giới Chúng ta không nên hiểu BĐG theo cách hiểu đơn giản là nam và nữ giới có quyền tham gia

như nhau trong các hoạt động, cũng càng không phải là việc nữ giới “vùng

lên” đòi hỏi quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính

sinh học giữa nam và nữ Do vậy, BĐG cần được hiểu là sự đối xử ngang nhau giữa nam và nữ giới đồng thời xét đến những đặc điểm của từng giới để

có chính sách đối với từng giới hợp lý

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Bình đẳng giới là việc nam và

nữ có vị trí, vai trò ngang nhau trong xã hội Nam và nữ giới đều được hưởng

Trang 28

các điều kiện và cơ hội phát huy đầy đủ tiềm năng của họ, có cơ hội đóng góp

và thụ hưởng lợi ích như nhau về thành quả của sự phát triển đó

Như vậy, để đạt được BĐG, một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữ giới được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, lĩnh vực HN&GĐ giữ vai trò quan trọng

1.1.3.2 Quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình

Ở bình diện pháp luật quốc tế, Điều 16 Công ước CEDAW đã liệt kê đầy

đủ các phương diện trong lĩnh vực HN&GĐ phải được thực hiện BĐG nói chung, bình đẳng với phụ nữ nói riêng từ các quyền tự do, tự nguyện kết hôn, QBĐ trong quan hệ với chồng về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, QBĐ đối với con cái và các thành viên khác trong gia đình, quyền nhận nuôi con nuôi…

Ở bình diện pháp luật quốc gia, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận những nguyên tắc và những quy định cụ thể về QBĐ của phụ nữ trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ Các nguyên tắc về QBĐ của phụ nữ

sẽ được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia, làm cơ sở để ghi nhận các quy định về QBĐ của phụ nữ trong các văn bản pháp luật liên quan đến HN&GĐ như luật HN&GĐ, luật BĐG, luật phòng, chống bạo lực gia đình…

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ là: Sự

đối xử công bằng khi tham gia các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa người nam và người nữ trên các phương diện, những chế định như: bình đẳng trong việc kết hôn, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng (quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản), quyền được nuôi con nuôi, quyền ly hôn, quyền bình đẳng với các thành viên khác trong gia đình

Trong pháp luật Việt Nam hiện nay, QBĐ của phụ nữ được quy định trong Luật BĐG năm 2006 Theo đó, phụ nữ có QBĐ so với nam giới, họ có quyền được thụ hưởng những quyền mà nam giới có, được tạo điều kiện để

Trang 29

phát huy những tiềm năng của mình trong quan hệ HN&GĐ “trong quan hệ

dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; trong sở hữu tài sản chung, sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển Các thành viên

Các quyền này phải được đảm bảo dựa trên sự nhận thức của người phụ

nữ, sự hỗ trợ, tạo điều kiện của người chồng và các thành viên khác trong gia đình, trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt đối xử trong các mối quan hệ Sự bình đẳng mà người phụ nữ nhận được sẽ tạo nên gia đình bình đẳng, từ đó tạo thành một xã hội bình đẳng

1.2 Khái quát về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình

1.2.1 Khái niệm, ý nghĩa bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Lĩnh vực HN&GĐ có vai trò và vị trí rất quan trọng và liên quan trực tiếp đến mỗi chủ thể trong xã hội Với vị thế là nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương, người phụ nữ trong gia đình luôn cần được bảo vệ, thúc đẩy và bảo đảm quyền lợi hợp pháp Như vậy, cả gia đình và xã hội người phụ nữ đều được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giúp họ an tâm, lao động, sinh hoạt trong gia đình và ngoài xã hội

Có thể hiểu, bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ là tổng

hợp, hệ thống các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội của nhóm yếu thế và

dễ bị tổn thương cần được thúc đẩy, bảo đảm bình đẳng trong lĩnh vực

Trang 30

HN&GĐ phản ánh giá trị xã hội cao quý được thừa nhận chung, là đặc trưng

tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt, được bảo đảm

bằng việc ghi nhận, thực thi pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ

Qua đó, cần bảo đảm sự vận hành của các yếu tố, điều kiện khách quan nhằm mục đích ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người, quyền của phụ

nữ trong lĩnh vực HN&GĐ, bảo vệ và thực thi các quyền đó đối với người phụ nữ Bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ mang một số đặc trưng cơ

bản Thứ nhất, bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ mang những đặc trưng chung về việc bảo đảm quyền con người Thứ hai, bảo đảm QBĐ của

phụ nữ trong HN&GĐ là bảo đảm quyền của nhóm yếu thế và dễ bị tổn

thương Thứ ba, bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ thúc đẩy bảo đảm

QBĐ của phụ nữ ngoài xã hội

Vì thế, cần phải thực hiện tốt và nhất quán các quan điểm trong việc giải phóng phụ nữ, giúp bảo đảm QBĐ của người phụ nữ trong gia đình và thực hiện tốt chủ trương, quan điểm nam nữ bình quyền trên mọi phương diện mà Đảng, Nhà nước đã đặt ra Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể:

Thứ nhất, giúp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo đảm

QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Hiện nay, những vấn đề về vi phạm quyền con người, đặc biệt là quyền BĐG giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong lĩnh vực HN&GĐ hiện vẫn còn xảy ra Do đó, để ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến quyền con người nói chung và QBĐ nói riêng thì đòi hỏi hệ thống các chính sách pháp luật cần được hoàn thiện hơn, đồng

bộ và theo xu hướng hội nhập quốc tế tuy nhiên cũng cần phải phù hợp với những điều kiện thực tế tại tình hình Việt Nam Việc nghiên cứu về QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ sẽ bảo đảm cơ sở pháp lý vững vàng, hợp pháp và có căn cứ pháp luật áp dụng trong các trường hợp phát sinh trên thực

tế liên quan đến QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình

Trang 31

Thứ hai, xóa bỏ những quan điểm cổ hủ, lạc hậu không phù hợp ngăn

cản việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ nhằm tạo điều kiện để nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ trong xã hội Việc chịu ảnh hưởng lớn bởi những nét văn hóa, tập tục truyền thống xa xưa đã lỗi thời, lạc hậu cũng đã hạn chế phần lớn các quyền cơ bản của người phụ nữ, trong đó có QBĐ, quyền được phát triển bản thân và nhiều quyền khác… Vấn đề hiện thực hóa QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ sẽ là một giải pháp hiệu quả trong việc xóa bỏ những nét văn hóa truyền thống lạc hậu để hướng đến những điều mới mẻ, phù hợp với xu thế thời đại ngày nay, hơn nữa còn giúp bảo vệ quyền lợi người phụ nữ được tốt hơn và tạo thêm những cơ hội trong việc phát triển bản thân Điều này đã làm thay đổi rõ rệt đối với chính bản thân mỗi người phụ nữ; thay vì họ sống trong cảnh thụ động, phụ thuộc phần lớn vào người chồng

từ các vấn đề về kinh tế, tài chính trong gia đình, nhiều trường hợp người phụ

nữ còn không có tiếng nói, vị trí trong gia đình thì nay họ đã có thể tự chủ về thu nhập, tài sản, có tiếng nói và có quyền đưa ra quyết định về các vấn đề quan trọng trong gia đình, được chồng và các thành viên khác trong gia đình tôn trọng hơn Do đó, việc đấu tranh bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ là rất cần thiết để xóa bỏ đi những quan điểm lạc hậu; đồng thời, tạo điều kiện vững chắc để nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ trong xã hội hiện nay

Thứ ba, đảm bảo sự hòa thuận, êm ấm và bình đẳng trong gia đình Có

thể nói, trong mỗi gia đình, khi quyền lợi người phụ nữ được đảm bảo bình đẳng về mọi mặt so với người chồng thì gia đình mới thực sự hạnh phúc, êm

ấm và vững bền Bởi lẽ, việc BĐG giữa vợ và chồng trong gia đình là cơ sở

để giúp các bên hiểu nhau hơn, vợ chồng cùng thông cảm cho nhau, cùng chia

sẻ các công việc trong gia đình để đôi bên cùng cố gắng hoàn thành các mục tiêu, công việc, đồng thời thêm gắn kết và hiểu nhau hơn Bên cạnh đó, việc

Trang 32

bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ còn tạo điều kiện cho người phụ nữ có thể tham gia vào các công việc, hoạt động xã hội, văn hóa; qua đó giúp cho họ tích lũy thêm nhiều kiến thức bổ ích và kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc con cái, xây dựng tổ ấm gia đình, làm cho cuộc sống thêm hạnh phúc và hòa thuận giữa các mối quan hệ trong gia đình

Thứ tư, tạo tiền đề vững chắc giúp nâng cao và hoàn thiện công tác tuyên

truyền, giáo dục nhận thức về giới và BĐG cho trẻ em và toàn xã hội Quá trình giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về giới cũng như vấn đề BĐG là điều kiện tiên quyết và quan trọng trong việc giáo dục nhân cách và định hình suy nghĩ, lối sống cho trẻ em nói riêng và toàn xã hội nói chung Để quá trình trên được thực hiện thành công thì cần phải hoàn thiện các vấn đề lý luận chung cũng như đấu tranh nhằm xóa bỏ các vấn đề phân biệt về giới tính, trong đó điển hình là việc bất bình đẳng về quyền của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Việc nghiên cứu nhằm đảm bảo các quyền nói chung và QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình nói riêng sẽ góp một phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về QBĐ cũng như lên tiếng đấu tranh giúp người phụ nữ được bình đẳng trên mọi phương diện Qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển quá trình giáo dục, đào tạo về vấn đề giới tính và BĐG cho trẻ nhỏ, giúp các em nhận thức đúng đắn các vấn đề trên để hình thành trong nhân cách các em về cách cư xử đúng mực, sự tôn trọng các bạn khác giới, đồng thời gây dựng cho các em ý thức đấu tranh, bảo vệ vấn đề BĐG ngay từ nhỏ nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và phát triển ổn định

1.2.2 Chủ thể, nội dung và biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ

nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Ngày nay trước quá trình hội nhập và phát triển đang đặt nhân loại và mỗi quốc gia trước nhiều cơ hội và thách thức, trong đó có vấn đề cần được

Trang 33

quan tâm đó là việc bảo đảm quyền con người trong đó có việc bảo đảm quyền của phụ nữ Để đảm bảo tốt nhất các QBĐ của phụ nữ được ghi nhận

và thực hiện trong xã hội rất cần có các phương thức phù hợp nhằm bảo đảm thực hiện QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ

1.2.2.1 Chủ thể bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn

nhân và gia đình

Với mục tiêu nghiên cứu trong khuôn khổ của bài viết chỉ đi sâu vào

khía cạnh bảo đảm QBĐ của phụ nữ với tư cách là người vợ Từ đó, cho thấy việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ đòi hỏi cần phải có

sự nỗ lực tham gia của rất nhiều nhóm chủ thể khác nhau mới bảo đảm tốt được hiệu quả của việc thực hiện quyền của phụ nữ

Thứ nhất, nhóm chủ thể là cơ quan nhà nước

Một là, cơ quan ban hành pháp luật Quốc hội là cơ quan thực hiện chức

năng xây dựng và ban hành pháp luật quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của cơ quan nhà nước Hoạt động xây dựng pháp luật sẽ tạo ra những cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm, tôn trọng quyền của phụ nữ Quốc hội đã xây dựng các luật – cơ sở pháp lý cho việc thúc đẩy quyền BĐG, cho việc áp dụng các biện pháp bảo đảm BĐG Nhận thấy, Việt Nam đã ban hành, sửa đổi và lồng ghép yếu tố giới trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thể kể đến như Luật BĐG năm 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ luật TTDS năm 2015… Những văn bản luật trên được soạn thảo, ban hành dựa trên sự đánh giá chung về tình hình thực tiễn trong nước về việc bảo đảm quyền của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Bên cạnh đó, Quốc hội còn thực hiện chức năng giám sát tối cao việc ban hành văn bản pháp luật và thực hiện

và áp dụng pháp luật trên thực tế nhằm bảo đảm tốt nhất các quyền cho phụ nữ; qua đó hướng tới sự bình đẳng giữa các cá nhân nói chung và giữa nam

Trang 34

nữ nói riêng trong xã hội Đây được xem như một cơ quan, tổ chức quan trọng có tác động tích cực, rõ rệt và thiết yếu nhất trong tiến trình hình thành, xây dựng và phát triển các chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu về việc bảo vệ tốt nhất các QBĐ của phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân gia đình hiện nay

Hai là, cơ quan thi hành pháp luật Đây là cơ quan hành chính nhà nước

cao nhất Bên cạnh việc thực hiện và thi hành những nội dung được quy định trong Hiến pháp và trong các văn bản luật được Quốc hội quy định thì cơ quan hành chính còn đưa ra những chính sách nhằm thúc đẩy tốt hơn nữa việc đảm bảo tốt nhất quyền phụ nữ trong xã hội Trong đó, để thực hiện tốt các nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả thực tiễn thực hiện QBĐ phụ nữ thì mỗi tổ chức, mỗi cơ quan trong nhánh hành pháp như: Chính phủ, các Bộ ngành (Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ Y tế,… và UBND các cấp đã có sự phối hợp nhịp nhàng, thường xuyên và liên tục để chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ từ cấp trung ương đến địa phương nhằm thực hiện tốt nhất các chính sách đảm bảo quyềnphụ nữ trên mọi phương diện xã hội, trong đó, đặc biệt quan tâm là phương diện hôn nhân gia đình Cụ thể:

Về phía Chính phủ Nhằm nâng cao và bảo đảm QBĐ của phụ nữ, Chính phủ cũng xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế, các chính sách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, lao động… Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cho xây dựng, chỉ đạo thực hiện

và tiến hành các hoạt động đánh giá tổng kết việc thực hiện những kế hoạch, chiến lược hành động vì QBĐ của phụ nữ Việt Nam Đến nay, đã có rất nhiều chỉ tiêu đặt ra trong các chiến lược, kế hoạch về QBĐ của phụ nữ đã đạt được cũng như một số chiến lược đã vượt kế hoạch đề ra Như vậy có thể thấy, Chính quyền với thẩm quyền của mình có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cũng như đảm bảo các QBĐ của phụ nữ Việt Nam hiện nay.Ngoài việc

Trang 35

xây dựng ban hành và chỉ đạo các chính sách, các chương trình mục tiêu nhằm bảo vệ và nâng cao QBĐ của phụ nữ Chính phủ cũng đưa ra các biện pháp xử

lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm quyền của phụ nữ

Về phía các Bộ ngành Với mục tiêu đảm bảo và thúc đẩy sự phát triển công bằng, bình đẳng trong việc tiếp cận các quyền của phụ nữ trong pháp luật HN&GĐ Do đó, cần phải tăng cường sự phối hợp của các tổ chức ban ngành đoàn thể từ trung ương đến địa phương, củng cố và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, tận tâm, đáp ứng nhiệm vụ bảo đảm và thúc đẩy bảo đảm QBĐ của phụ nữ, sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền của phụ nữ điển hình như các Chính sách về bảo hiểm xã hội, về lao động như phụ nữ được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội về chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí,

tử tuất, thất nghiệp, mất sức lao động,

Về phía các UBND các cấp Là cơ quan hành chính tại địa phương, UBND luôn tiếp nhận những yêu cầu phát sinh trong các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có các vấn đề mâu thuẫn xảy ra trong hôn nhân gia đình Hơn hết, tại các UBND cấp xã luôn theo dõi sát sao, tích cực đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân, chung tay đẩy lùi vấn nạn bạo lực gia đình, tuyên truyền, thúc đẩy các phong trào về việc chống phân biệt đối xử giữa nam, nữ hay xử lý các vụ việc xâm phạm quyền phụ nữ tại gia đình khi tiếp nhận được các yêu cầu, phản ánh của người dân… Do đó, đây được xem như cầu nối quan trọng, giúp giải quyết và hạn chế được nhiều vụ việc xâm phạm tới QBĐ của phụ nữ trong lĩnh vực pháp luật HN&GĐ hiện nay

Ba là, cơ quan bảo vệ pháp luật Tòa án với tư cách là cơ quan tư pháp

thực hiện việc xét xử chấm dứt quan hệ hôn nhân và ra phán quyết về các vấn

đề con chung, tài sản, cấp dưỡng… Đây đều là những hậu quả pháp lý gắn liền với sự kiện ly hôn; việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn phụ thuộc

Trang 36

rất lớn vào Tòa án Có thể thấy trong trường hợp với lý do cấp bách như một bên đương sự phải chịu hành vi bạo lực, có thể rút ngắn hoặc miễn thời gian cân nhắc Trường hợp có sự tranh chấp nuôi con khi ly hôn, Tòa án sẽ phải đưa ra các biện pháp giám sát, theo dõi nhu cầu của trẻ, đồng thời cử người có thẩm quyền điều tra về các điều kiện nuôi dạy con để từ đó có cơ sở giao con cho bố hay mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng… Đây là những quy định, thủ tục hợp lý, linh hoạt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cả vợ và chồng khi ly hôn, đảm bảo sự bình đẳng và bảo vệ quyền của người phụ nữ khi ly hôn

Thứ hai, nhóm chủ thể là các tổ chức chính trị - xã hội

Một trong những tổ chức chính trị xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Đây là tổ chức tiên phong hành động vì bình đẳng và phát triển của phụ nữ, là tổ chức nhằm đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp phụ nữ Việt Nam Trải qua 90 năm hình thành và phát triển, Hội tiếp tục khẳng định đóng góp của mình bằng sự nhạy bén, bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Hội luôn quan tâm đến đời sống của các hội viên, phát động các chương trình, các phong trào thi đua sôi nổi như chương trình “Hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập”, cuộc vận động

“xây dựng mái ấm tình thương” Qua đó, chia sẻ và tư vấn để đưa ra những lời tư vấn phù hợp, những biện pháp, hành động kịp thời nhằm xử lý các trường hợp xâm phạm quyền phụ nữ, đảm bảo tốt nhất các lợi ích của phụ nữ trên phương diện bình đẳng với quyền lợi của nam giới, đặc biệt là trong mối quan hệ hôn nhân gia đình

Thứ ba, nhóm các chủ thể là những người thân trong gia đình

Quan hệ hôn nhân gia đình đôi khi rất phức tạp, thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn giữa các thành viên trong cuộc sống Tuy nhiên, cần phải biết điều chỉnh những hành vi giữa các mối quan hệ trong gia đình sao cho

Trang 37

phù Hơn nữa, các thành viên trong gia đình cũng có chức năng và vai trò to lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của các thành viên khác trong gia đình Trong đó:

Về phía cha mẹ Đây là người sinh ra con cái Do đó, cha mẹ hoàn toàn

có quyền và nghĩa vụ trong việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ con cái khi nhận thấy con mình phải chịu những cảnh bị bạo lực, xâm hại trong gia đình Trong trường hợp trên, các bậc cha mẹ cần phải linh hoạt và hoàn toàn có thể đưa ra những biện pháp nhằm ngăn chặn và hạn chế các hành vi trên, đồng thời kịp thời báo cáo với các cơ quan chức năng, tổ chức có thẩm quyền về các hành vi xâm phạm QBĐ của phụ nữ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho con mình Điều này được Luật quy định rõ rằng cha mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn khi người vợ (người phụ nữ) là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần

Về phía người chồng Đây là người có ảnh hưởng lớn nhất tới việc bảo

đảm QBĐ của vợ (người phụ nữ) trong gia đình Do đó, nên người chồng cần phải có ý thức tôn trọng quyền của vợ (người phụ nữ), có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình Hơn hết, trong những trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa đôi bên, người chồng cần phải biết kìm chế, điều chỉnh để dung hòa, hạn chế vấn đề bạo lực gia đình đối với người vợ… Điều này cũng giúp ích rất nhiều trong việc xây dựng gia đình bền vững và bảo đảm quyền lợi người phụ nữ không bị xâm phạm tại chính trong gia đình của mình

1.2.2.2 Biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Biện pháp là phương pháp và cách thức, là hệ thống các đường lối được xây dựng bởi những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, nhằm giải quyết một

Trang 38

vấn đề nào đó, được thực hiện dưới một hình thức nhất định Hiện nay, việc bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ cần được tổ chức thực hiện một cách bài bản, với nhiều biện pháp khác nhau, cụ thể như:

Thứ nhất, Biện pháp bảo đảm bằng pháp luật Bảo đảm các nguyên tắc

cơ bản về BĐG và quyền của phụ nữ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật; lồng ghép vấn đề BĐG trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ bảo đảm tốt nhất lợi ích, các QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình, đòi hỏi cần phải có hệ thống pháp luật vững chắc để giải quyết các vấn đề trên Đây được coi là phương thức quan trọng và hiệu quả nhất Xây dựng pháp luật là để bảo đảm QBĐ cho người phụ nữ được ghi nhận, ban hành và có tính bắt buộc đối với mọi người, tạo một khung quy định thống nhất về việc các chủ thể có nghĩa vụ và quyền hạn thực hiện các biện pháp, công tác để bảo đảm QBĐ cho phụ nữ trong HN&GĐ Mặt khác, do phụ nữ là nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy QBĐ của phụ

nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận QBĐ của phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn

đề BĐG Hệ thống các văn bản pháp luật quy định QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ bao gồm: Hiến pháp, hệ thống pháp luật dân sự, hệ thống pháp luật HN&GĐ và nhiều hệ thống pháp luật khác Các văn bản quy phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực cần được thống nhất với nhằm, bảo đảm QBĐ của phụ nữ được bảo đảm toàn diện và sâu sắc

Thứ hai, Biện pháp tự thực hiện và bảo vệ Để quyền và lợi ích hợp pháp

trong HN&GĐ của mình được bảo vệ một cách tối đa, không có phương thức nào tối ưu hơn việc chính những người phụ nữ trong gia đình tự bảo vệ bản thân mình trước những hành vi vi phạm Sở dĩ nói như vậy là bởi, người phụ

nữ là một chủ thể trong quan hệ HN&GĐ, là người trực tiếp tham gia, thực

Trang 39

hiện cũng như có đủ các cơ sở để nhận thức rõ về việc có hay không những hành vi xâm phạm QBĐ của bản thân Do đó, bản thân người phụ nữ cần nên: :

Một là, người phụ nữ cần tự nâng cao nhận thức của bản thân về các kiến

thức pháp luật hiện hành về việc bảo vệ các QBĐ của bản thân trong HN&GĐ, đồng thời cần trang bị tốt hơn nữa những kỹ năng, kiến thức để xử

lý, giải quyết các tình huống trên thực tế một cách khéo léo, hợp lý bằng cách tham gia các khóa học, khóa đào tạo về chia sẻ kiến thức về hôn nhân gia đình hoặc tìm hiểu qua các trang thông tin chính thống trên báo đài, trên mạng

xã hội

Hai là, người phụ nữ cần nêu lên ý kiến, yêu cầu những cá nhân trong

gia đình họ sinh sống chấm dứt các hành vi xâm phạm QBĐ của bản thân trong HN&GĐ như: hành vi phân biệt đối xử về việc tiếp cận các quyền dân

sự - chính trị, , hành vi cưỡng ép kết hôn, hành vi ép buộc người vợ làm việc quá sức… Trong trường hợp, các yêu cầu trên không được chấp nhận và các quyền đó vẫn bị xâm phạm thì cá nhân người phụ nữ đó nên đến các tổ chức,

cơ quan có thẩm quyền tại nơi mình sinh sống như: cơ quan công an, UBND cấp xã, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hội phụ nữ xã, phường… nhờ tư vấn, giúp đỡ và giải quyết, xử lý các trường hợp vi phạm trên

Ba là, trường hợp các hành vi trên vẫn tiếp diễn và với mức độ ngày

càng gia tăng thì người phụ nữ có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, hoặc gửi đơn yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn khi chính bản thân người phụ nữ trở thành nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện và bảo vệ quyền con người, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm người phụ nữ

Thứ ba, phương thức bảo vệ bằng kinh tế và an sinh xã hội Đây là một

trong các phương thức bảo vệ khá quan trọng và đặc biệt cần nên quan tâm Với phương thức bảo vệ bằng kinh tế, an sinh xã hội Để bảo đảm quyền phụ

Trang 40

nữ tốt nhất không thể thiếu đi sự chung tay, góp sức của xã hội trong việc cần đưa thêm những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để phụ nữ có điều kiện phát triển khả năng bản thân, tạo điều kiện và môi trường bình đẳng về việc làm Hơn nữa, xã hội cũng cần quan tâm và hỗ trợ các chính sách về sử dụng lao động của các cơ quan, tổ chức, pháp nhân khác, bảo hiểm y tế, hỗ trợ phụ nữ có thai, bà mẹ nuôi con nhỏ, các bà mẹ đơn thân… để giúp họ có cuộc sống ổn định và tự chủ hơn về mọi mặt Qua đó, giúp người phụ nữ có thể vừa phát huy được khả năng bản thân, vừa đáp ứng được mục tiêu bình đẳng và tự chủ về phương diện kinh tế trong gia đình Đồng thời, giúp cho việc thực hiện và bảo đảm các QBĐ của phụ nữ trong hôn nhân gia đình được tốt hơn

Thứ tư, phương thức bảo vệ bằng đạo đức xã hội và truyền thống gia

đình Những nét đẹp đạo đức, những truyền thống tốt đẹp của từng gia đình chắc chắn sẽ là một trong những yếu tố tác động lớn tới việc duy trì và bảo đảm QBĐ của phụ nữ trong HN&GĐ Việt Nam Nét đẹp đạo đức sẽ tác động tích cực nhằm điều chỉnh những hành vi của con người theo đúng chuẩn mực

xã hội, giúp chúng ta sống tình nghĩa hơn, tôn trọng trên phương diện bảo vệ

và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển tiến bộ hơn Điều này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc hạn chế những trường hợp bạo lực gia đình, ngăn chặn những hành vi vi phạm các chuẩn mực chung của mỗi con người Bên cạnh

đó, truyền thống gia đình cũng tác động liên hợp lẫn nhau với nét đạo đức, lối sống con người Điều này đã tác động và hình thành phần lớn nhân cách con người với đức tính tôn trọng, giữ gìn và lưu truyền các nét đẹp quý giá, biết trân trọng và chung tay đấu tranh nhằm bài trừ các hành vi xâm phạm quyền phụ nữ, qua đó giúp phát triển tốt hơn quyền trên trong xã hội ngày nay

Thứ năm, biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về BĐG và quyền

của phụ nữ Qua quá trình phân tích tác động của các chủ thể bảo đảm QBĐ

Ngày đăng: 23/09/2022, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Dương Danh Thành (2020), Áp dụng pháp luật xử lý các trường hợp cấm kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật xử lý các trường hợp cấm kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014
Tác giả: Dương Danh Thành
Năm: 2020
15. Nguyễn Hữu Bảo Nguyên (2016), Áp dụng pháp luật trong giải quết các vụ án về HN&GĐ tại TAND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong giải quết các vụ án về HN&GĐ tại TAND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hữu Bảo Nguyên
Năm: 2016
16. Lường Ánh Nhàn (2016), Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;C. Sách, báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ
Tác giả: Lường Ánh Nhàn
Năm: 2016
17. Dương Tuyết Miên (2004), “Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong CEDAW”, Tạp chí Luật học, số Đặc san phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong CEDAW”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Năm: 2004
18. Lương Thị Thùy (2018), “Các biện pháp thúc đẩy BĐG”, Tạp chí Luật học, số 3/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp thúc đẩy BĐG"”, Tạp chí Luật học
Tác giả: Lương Thị Thùy
Năm: 2018
19. Nguyễn Khắc Việt (Chủ biên) (1994), Từ điển xã hội học, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Tác giả: Nguyễn Khắc Việt (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1994
20. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), (2015), giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
22. Nguyễn Thanh Tâm (2004), “Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong CEDAW”, Tạp chí Luật học, số Đặc san phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong CEDAW”
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Năm: 2004
23. Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ (2004), Hướng dẫn tổng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách
Tác giả: Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 2004
24. Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạc (đồng chủ biên), Khoa học Giới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội;D. Websites Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Giới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
27. Lê Thư - Phương Thảo (2021), Gần 20% đàn ông Việt không làm việc nhà: Khi nào phụ nữ hết gánh nặng kép, Báo Lao động,https://laodong.vn/chuyen-nha-minh/gan-20-dan-ong-viet-khong-lam-viec-nha-khi-nao-phu-nu-het-ganh-nang-kep-887480.ldo, truy cập ngày 16/7/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gần 20% đàn ông Việt không làm việc nhà: Khi nào phụ nữ hết gánh nặng kép
Tác giả: Lê Thư - Phương Thảo
Năm: 2021
28. Nguyễn Duy Phương, “Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208377, truy cập ngày 5/9/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
29. Tạp chí Cộng sản (2020), Giá trị bình đẳng - tiêu chí quan trọng của chủ nghĩa xã hội, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/820729/gia-tri-binh-dang---tieu-chi-quan-trong-cua-chu-nghia-xa-hoi.aspx, truy cập ngày 04/07/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị bình đẳng - tiêu chí quan trọng của chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2020
12. Nghị định số 167/2013 NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình Khác
21. Phạm Hồng Thái (chủ biên) (2016), sách chuyên khảo Tư tưởng Việt Nam về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TTH S: Tố tụng hình sự - Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam
t ụng hình sự (Trang 8)
Hình 1. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động dành thời gian làm việc nhà, theo loại cơng việc cụ thể và số giờ trung bình hàng tuần cho việc này (2019) 27 - Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam
Hình 1. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động dành thời gian làm việc nhà, theo loại cơng việc cụ thể và số giờ trung bình hàng tuần cho việc này (2019) 27 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w