1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI THẢO LUẬN THỨ 5 CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP KHÁC

11 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 61,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THẢO LUẬN THỨ 5 CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP KHÁC 1. Có quan điểm cho rằng: “Chỉ dẫn địa lý là một loại nhãn hiệu đặc biệt”. Bạn có đồng ý với quan điểm này không? Vì sao? 2. Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại. 3. Trình bày căn cứ xác lập quyền đối với tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý. 1. Đọc, nghiên cứu Bản án số 652009KDTMPT ngày 1342009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và trả lời các câu hỏi sau:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Môn: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Nhóm: 4

Lớp: TM42A2

BÀI THẢO LUẬN THỨ 5 CÁC ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP KHÁC

Danh sách thành viên:

Họ và tên Mã số sinh viên Nguyễn Thị Bích Hồng 1753801011066

Nguyễn Mai Lan Hương 1753801011069

Huỳnh Ngọc Loan 1753801011106

Lê Thị Bích Loan 1753801011107

Nguyễn Thị Thu Mai 1753801011113

Nguyễn Văn Minh 1753801011115

Nguyễn Thị Mỹ Mỹ 1753801011121

Ngày 12/4/2020

Trang 2

BÀI THẢO LUẬN THỨ BA

NHÃN HIỆU

A Nội dung thảo luận tại lớp:

A.1 Lý thuyết:

1 Có quan điểm cho rằng: “Chỉ dẫn địa lý là một loại nhãn hiệu đặc biệt” Bạn có đồng ý với quan điểm này không? Vì sao?

Nhóm chúng tôi không đồng ý với quan điểm “Chỉ dẫn địa lý là một loại nhãn hiệu đặc biệt”

Mặc dù có điểm giống nhau nhưng hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau, mang nhưng ý nghĩa khác nhau và không thể đồng nhất chúng

Như đã biết, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu đều là các chỉ dẫn thương mại cung cấp cho người tiêu dùng thông tin nguồn gốc của hàng hóa Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc

gia cụ thể (khoản 22 Điều 4 Luật SHTT) Còn nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt

hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (khoản 16 Điều 4 Luật SHTT) Cũng có thể nói rằng mục đích của chúng là khác nhau, chỉ dẫn địa lý phân biệt về nguồn gốc từ khu vực địa lý, nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa của các chủ thể khác nhau Ví dụ: Nước mắm Phú Quốc là loại hàng hóa có chỉ dẫn địa lý dùng để phân biệt với nước nắm của các khu vực khác, chứ không có vai trò trong việc phân biệt hàng hóa của các chủ thể khác nhau bởi tại Phú Quốc có thể có nhiều tổ chức, cá nhân sản xuất nước mắm

Điều kiện bảo hộ cũng có sự khác biệt Điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Điều 72, 73 và Điều 74 Luật SHTT, theo đó điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh… và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ khác Nhãn hiệu được bảo hộ khỏi việc chiếm đoạt trái phép theo đơn yêu cầu của chủ sở hữu đã đăng ký của nhãn hiệu đó Còn điều kiện để được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa

lý được quy định ở Điều 79, 80 và Điều 81 Luật SHTT là dấu hiệu về danh tiếng, tính chất, chất lượng đặc thù Chỉ dẫn địa lý được giám sát và bảo hộ bởi các hiệp hội của các nhà sản xuất ở khu vực có liên quan

Không chỉ vậy, chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu cũng không giống

nhau Chủ sở hữu của nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân Còn chủ sở hữu của chỉ dẫn địa

lý là Nhà nước, Nhà nước trao quyền ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cho các hiệp hội

Trang 3

Về thời hạn bảo hộ, đối với nhãn hiệu, thời hạn là là 10 năm và được gia hạn

nhiều lần liên tiếp mỗi lần 10 năm (theo khoản 6 Điều 93 Luật SHTT); còn của chỉ dẫn địa lý là không xác định thời hạn, được sử dụng đến khi không còn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ

Hơn nữa, nhãn hiệu, có thể chuyển nhượng và chuyển giao sử dụng, còn chỉ dẫn địa lý thì không được chuyển giao

Từ những điểm khác biệt như vậy, không thể xem chỉ dẫn địa lý là một loại nhãn hiệu hay nhãn hiệu đặc biệt

2 Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại.

Chức năng Hướng dẫn phân biệt với hàng hóa

dịch vụ cùng loại

Phân biệt các chủ thể kinh doanh với nhau

Số lượng

được bảo hộ

Một chủ thể kinh doanh có thể đăng

ký nhiều nhãn hiệu

Một chủ thể kinh doanh chỉ có thể có một tên thương mại

Phạm vi bảo

hộ

Toàn lãnh thổ đối với nhãn hiệu thông thường Toàn thế giới đối với nhãn hiệu nổi tiếng

Trong phạm vi khu vực kinh doanh

Cơ sở xác

lập quyền

Đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu thông thường Không cần đăng

ký đối với nhãn hiệu nổi tiếng

Tự động được bảo hộ nếu được

sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp

Chuyển giao

quyền

Có thể thực hiện chuyển giao dưới hai hình thức:

- Chuyển nhượng:

+ Không được gây ra sự nhầm lẫn

+ Việc chuyển nhượng phải được đăng ký phải có sự sản xuất

- Chuyển giao quyền sử dụng

+ Nhãn hiệu tập thể chỉ được chuyển cho thành viên

+ Bên nhận chuyển nhượng phải ghi rõ trên hàng hóa việc hàng hóa

đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu

Chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ

cơ sở kinh doanh là hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó

Trang 4

3 Trình bày căn cứ xác lập quyền đối với tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý.

 Căn cứ xác lập quyền đối với tên thương mại

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được phát sinh trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ

 Căn cứ xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

- Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Với đặc thù trên của bí mật kinh doanh, Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ hoặc kết quả của hoạt động hợp pháp khác để tìm ra, tạo ra hoặc có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh và bảo mật thông tin đó mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục

Sở hữu trí tuệ

 Căn cứ xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý

Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

A.2 Bài tập:

1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 65/2009/KDTM-PT ngày 13/4/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và trả lời các câu hỏi sau:

a) Tên thương mại trong tên gọi của nguyên đơn và bị đơn là gì? Tên thương mại giữa hai chủ thể này giống, tương tự hay khác nhau? Vì sao?

Trước khi cổ phần hóa nguyên đơn có tên thương mại là Công ty kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam sau khi cổ phần hóa công ty có tên thương mại là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam có trụ sở chính tại 913 Trường Trinh, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

Bị đơn có tên thương mại là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam có trụ sở tại lô số 03-10A cụm tiểu thủ công nghiệp Hai Bà Trưng, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

“Nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực và bị đơn được thành lập sau nguyên đơn theo khoản 2 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 năm thì đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm cả tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Theo khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ: Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”

Như vậy, tên thương mại của nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn giống nhau đều là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam

Nguyên đơn đã dùng tên thương mại của mình trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong hoạt động quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên phạm vi toàn quốc, trong

đó có thành phố Hà Nội trước khi bị đơn được thành lập và đăng ký kinh doanh vào năm 2007 Mặt khác sản phẩm của nguyên đơn đã được sử dụng từ lâu và được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền Việc bị đơn sử dụng tên thương mại trùng hoàn toàn với tên của nguyên đơn sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi sử dụng những sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường

b) Lĩnh vực kinh doanh của nguyên đơn và bị đơn là gì?

Hai chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh không, vì sao? Lưu ý: với câu hỏi này sinh viên phải trả lời ở hai góc độ: theo Tòa án (bản án xác định thế nào) và theo bảng Danh mục phân loại ngành, nghề kinh doanh của chủ thể kinh doanh hiện hành (sinh viên tự tìm và đối chiếu để xác định).

Nguyên đơn là công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam (có trụ sở chính tại

913 Trường Chinh, phường Tây thạch, quận Tân Phú, TP HCM) kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm (sản xuất kinh doanh trong nước

và xuất khẩu các sản phẩm từ gạo, bột mì và các loại nông sản khác )

Bị đơn là công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam (có trụ sở chính tại lô 03-10A quận tiểu thủ công nghiệp Hai Bà Trưng, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội) kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm (chế biến và đóng hộp thịt,sản xuất bột ngô, sản xuất tinh bột và các sản phẩm

từ tinh bột, )

Theo Tòa án hai chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh được ghi rõ bản án:

“Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam (trụ sở tại 913 Trường Chinh,

phường Tây thạch, quận Tân Phú, TP HCM)( sau đây gọi là nguyên đơn) hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 41033002055 do Sở kế hoạch đầu tư

Trang 6

thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/01/2004 với nhiều ngành nghề kinh doanh trong

đó có sản xuất kinh doanh trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ gạo, bột

mì và các loại nông sản khác.

[ ] Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam; trụ sở tại lô 03-10A quận tiểu thủ công nghiệp Hai Bà Trưng, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội (sau đây gọi là bị đơn) được Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103017573 ngày 29/5/2007 với nhiều ngành nghề kinh doanh chế biến lương thực, thực phẩm trong đó có sản xuất các sản phẩm tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột.

Như vậy nguyên đơn và bị đơn là các chue thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực”

Theo bảng Danh mục phân loại ngành, nghề kinh doanh của chủ thể kinh doanh hiện hành hai chủ thể có cùng lĩnh vực kinh doanh là công nghiệp chế biến, chế tạo ( Sản xuất, chế biến thực phẩm)

c) Theo bạn, nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh không? Dựa vào tiêu chí nào để xác định? Giải thích tại sao.

Nguyên đơn và bị đơn có cùng khu vực kinh doanh với nhau

Việc xác định các bên có cùng khu vực kinh doanh hay không trong Luật SHTT được định nghĩa là thì khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.1

Theo bản án, Tòa án xem xét nguyên đơn trụ sở ở TP.HCM (miền Nam) nhưng

có đại lý phân phối ở TP.Hà Nội (miền Bắc), và ngược lại, bị đơn trụ sở ở TP.Hà Nội nhưng “các sản phẩm của bị đơn chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường miền Nam, đặc biệt lag TP.HCM nơi nguyên đơn trụ sở chính” Do đó, hai bên có cùng khu vực kinh doanh với nhau

d) Với những phân tích trên, bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn không? Nêu cơ sở pháp lý và phân tích.

Theo khoản 2 Điều 129 Luật SHTT, hành vi xâm phạm tên thương mại được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Có hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã sử dụng trước;

- Việc sử dụng này phải cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự;

Trang 7

- Gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó

Với những phân tích trên, xét thấy bị đơn có hành vi xâm phạm tên thương mại của nguyên đơn Vì hành vi của bị đơn đáp ứng các điều kiện để cấu thành hành vi xâm phạm tên thương mại:

- Thứ nhất, bị đơn sử dụng tên thương mại “Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam” trùng với tên của nguyên đơn, theo phần xét thấy của Tòa án, ở

đoạn “Như vậy, việc bị đơn sử dụng tên thương mai trùng hoàn toàn với tên

của nguyên đơn sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi sử dụng những sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường Vì tên thương mại của nguyên đơn đã được biết đến rộng rãi do sử dụng trên toàn quốc trong hàng chục năm nay”.

Nguyên đơn là bên đã sử dụng tên thương mại này trước, bên nguyên đơn bắt đầu sử dụng tên thương mại từ khi cổ phần hóa công ty theo Quyết định 186/203/QĐ-BCN ngày 14/11/23 của Bộ Công nghiệp, trong khi công ty của

bị đơn với cùng tên thương mại này bắt đàu hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103017573 ngày 29/5/2007

- Thứ hai, tên thương mại này được dùng cho cùng loại sản phẩm Vì hai doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với nhiều ngành nghề, nhưng trong đó lại trùng nhau về ngành nghề chế biến, kinh doanh sản phẩm

từ tinh bột

Thứ ba, tên thương mại này đã gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại này Vì hai công ty đều dùng cùng một tên thương mại để thực hiện kinh doanh, quảng bá thương hiệu, vậy chẳng khác nào sẽ làm cho khách hàng nhầm lẫn giữa công ty là nguyên đơn và công ty là bị đơn, hoặc lầm tưởng “hai công ty là một”, trong khi chất lượng sản phẩm của hai công ty này là khác nhau

2 Nghiên cứu tình huống sau:

Hiện nay, trên thực tế tồn tại Thoả thuận không cạnh tranh giữa người sử dụng

lao động và người lao động Theo đó, các bên ký kết thoả thuận về việc người lao động sau khi nghỉ việc không được đi làm cho đối thủ cạnh tranh của người sử dụng lao động ban đầu Mục đích của thoả thuận này là ngăn cản việc người lao động tiết lộ

bí mật kinh doanh mà họ có được khi làm việc cho người sử dụng lao động ban đầu

Theo bạn, Thoả thuận không cạnh tranh có hợp pháp không? Vì sao?

Trả lời

Hiện nay, phần nhiều người sử dụng lao động nước ngoài yêu cầu người lao động Việt Nam ký kết Thỏa thuận không cạnh tranh nhằm bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp, công ty của họ đặc biệt là bí mật kinh doanh của họ trong quá trình làm việc

Trang 8

nên nếu xét về mặt dân sự Thỏa thuận không cạnh tranh là hợp pháp khi đáp ứng đủ

điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều 117 BLDS 2015

Luật Việt Nam chưa có một quy định cụ thể nào về xét tính hợp pháp và việc công nhận Thỏa thuận không cạnh tranh Vì là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động nên thỏa thuận này còn nhập nhằng giữa sự điều chỉnh bởi Luật lao động hay Luật dân sự Bên cạnh đó, mục đích của thỏa thuận này nhằm bảo

vệ bí mật kinh doanh là đối tượng được Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ tại Điều 84 Thế nên ta thấy được tầm quan trọng của nó với doanh nghiệp nên việc công nhận Thỏa thuận này là có cơ sở

Theo nhóm, nếu Thỏa thuận này được tách riêng với hợp đồng lao động thì nó

không mâu thuẫn với Bộ luật lao động 2012 bởi Điều 10 quy định “ người lao động

được làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm” và nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động tại Điều 17 Từ đó,

thỏa thuận này không chịu sự điều chỉnh bởi Luật lao động thì là quan hệ này được điều chỉnh bởi luật dân sự, thương mại nếu đủ điều kiện

Tuy nhiên, một thỏa thuận phải có tính hợp lý và khả thi được quy định rõ ràng

cụ thể để bảo đảm quyền lợi cho cả người lao động:

+ Quy định thời gian, phạm vi áp dụng rõ ràng, hợp lý: người lao động sau khi

chấm dứt hợp động lao động không thể mãi mãi không được làm việc liên quan đến lĩnh vực, chuyên môn đã làm cho người sử dụng lao động ban đầu Đặt ra thời hạn cụ thể 2 năm, 5 năm, đánh giá khả năng tác động về bí mật kinh doanh của mình sau thời gian đó Quy định rõ ràng phạm vi mà người lao động làm việc cho bên thứ ba là đối thủ cạnh tranh là doanh nghiệp nào, trong khu vực nào nhưng không quá rộng để đảm bảo lợi ích cho NLĐ

+ Vì là một thỏa thuận dân sự hạn chế quyền của NLĐ nên quy định rõ quyền

và lợi ích của các bên NLĐ nhận được gì (sự đền bù, trợ cấp sau khi nghỉ việc nhưng

bị hạn chế bởi thỏa thuận này) và chế tài nếu NLĐ vi phạm thỏa thuận (phạt vi phạm, ) Điều này sẽ đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên mà không phải là sự áp đặt từ phía người sử dụng lao động

B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG

thảo luận trên lớp:

Đọc, nghiên cứu Bản án số 30 và 31 “Tên miền và mối liên hệ với quyền sở hữu trí tuệ” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở

hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:

Trang 9

1/ Tên miền là gì? Tên miền có là một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ không?

Khái niệm tên miền theo quy định tại khoản 4, Điều 2, Thông tư 19/2014/TT-BTTTT: Tên miền là tên được sử dụng để định danh địa chỉ Internet của máy chủ gồm các dãy ký tự cách nhau bởi dấu chấm “.”.Tên miền là tên gọi có tác dụng để thay thế

1 địa chỉ IP dài và khó nhớ như: 123.45.67.89 trên internet thành một “Domain Name” hay “Tên Miền” có dạng là abc.com

Ví dụ: Địa chỉ IP 123.30.174.6 có tên miền là bkns.vn

Tại Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như sau:

“Điều 3 Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.

2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.

3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch”.

Tên miền cho phép người dùng trên toàn thế giới tìm đến với website của doanh nghiệp, và để dễ định vị thì các chủ thể thường đăng kí tên miền theo tên thương mại, tên hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, sáng chế,… Như vậy, tên miền chỉ là một tên để định danh, không mang tính chất là một tài sản trí tuệ hay kết quả từ hoạt động tư duy của con người, quyền đăng kí không phụ thuộc vào việc có quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm đó hay không Do đó, tên miền không thuộc đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nêu trên

2/ Hiện nay, việc khai thác, sử dụng tên miền được điều chỉnh bởi những văn bản nào?

Chính sách:

1 Thông tư số 06/2019/TT-BTTTT ngày 19 tháng 7 năm 2019 sửa đổi bổ sung một số điều Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/8/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet

2 Nghị định số 27/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP

3 Quyết định phê duyệt danh sách tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” cấp quyền

sử dụng thông qua đấu giá của Bộ Thông tin và Truyền thông

Trang 10

4 Thông tư 208/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí tên miền quốc gia ".vn" và địa chỉ Internet (IP) của Việt Nam (31/12/2016)

5 Thông tư liên tịch số 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN ngày 08/6/2016 hướng dẫn trình tự, thủ tục thu hồi tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ (08/6/2016)

6 Thông tư số 16/2016/TT-BTTTT ngày 28/6/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về chuyển nhượng quyền sử dụng tên miền Internet được cấp không thông qua đấu giá

7 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2013 của Chính phủ hướng dẫn về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng

8 Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18 tháng 8 năm 2015 của Bộ Thông tin

và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet

9 Thông tư số 189/2010/TT-BTC ngày 24/11/2010 của Bộ Tài chính quy định

về phí, lệ phí tên miền quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí tên miền quốc gia và địa chỉ Internet của Việt Nam

Quy định:

1 Quy định xử phạt các vi phạm về đăng ký, cung cấp tên miền Internet: Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện

2 Quy định xử phạt các vi phạm về sử dụng tên miền Internet: Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ

Nguồn: https://www.vnnic.vn/tenmien/quydinh

3/ Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý nào để thu hồi các tên miền đã được đăng ký?

Trong Bản án số 30 (Bản án số 52/2011/KDTM-PT), Tòa án đã dựa trên quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (Điều 76), Nghị định 97/2008/NĐ-CP (Khoản 5, Điều 17)

và Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT (Điều 4, phần II; phần III; phần IV) để thu hồi các tên miền đã được đăng kí

Trong bản án số 31 (Bản án số 05/2014/KDTM-ST), Tòa án dựa vào quy định Luật Sở hữu trí tuệ (Điểm d, Khoản 1, Điều 130), Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT (Mục IV) để thu hồi tên miền đã đăng kí

4/ Pháp luật các quốc gia khác quy định như thế nào về trường hợp tên miền trùng hay tương tự với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ?

Pháp luật Pháp:

Ngày đăng: 23/09/2022, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w