1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

dữ liệu trong GIS và cấu trức dữ liệu bản đồ

10 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 676,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nào là chế độ hôn nhân tiến bộ? Chế độ hôn nhân tiến bộ là một trong những nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất được ghi nhận tại Luật hôn nhân và gia đình cũng như Hiến pháp của nước ta Ở Việt Nam.

Trang 1

 Thế nào là chế độ hôn nhân tiến bộ?

 Chế độ hôn nhân tiến bộ là một trong những nguyên tắc đầu tiên và

cơ bản nhất được ghi nhận tại Luật hôn nhân và gia đình cũng như Hiến pháp của nước ta Ở Việt Nam đã trải qua rất nhiều lần thay đổi Luật hôn nhân và gia đình, hiện tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đang

là văn bản có hiệu lực thi hành

 Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân xuất phát từ tình yêu giữa nam và

nữ Tình yêu là khát vọng của con người trong mọi thời đại Chừng nào, hôn nhân không được xây dựng trên cơ sở tình yêu thì chừng đó, trong hôn nhân, tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị hạn chế Hôn nhân xuất phát từ tình yêu tất yếu dẫn đến hôn nhân tự nguyện

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Khi nam, nữ có mục đích chung sống lâu dài và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc họ tiến hành đăng ký kết hôn khi đáp ứng các điều kiện theo quy định thì được xác lập quan hệ hôn nhân

Hôn nhân là mối quan hệ gắn liền với nhân thân của hai bên nam nữ với

tư cách là vợ chồng và quan hệ vợ chồng sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định cho các bên Hôn nhân cũng là sự kết hợp của vợ chồng về tình cảm, xã hội, tôn giáo hợp pháp…

– Hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính, tự nguyện trong hôn nhân

Thực tế tự nguyện trong hôn nhân được thể hiện ở những quyền sau: + Quyền tự do, tự nguyện trong kết hôn, tức là nam và nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự nguyện mà không bị ép buộc, cản trở

+ Khi đã kết hôn thì vợ chồng có quyền tự do, bình đẳng đến tất cả các vấn đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú, tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản…

Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam là những điều cơ bản định ra, tư tưởng chỉ đạo nền tảng, mang tính định hương xuyên suốt, chỉ đạo trong toàn bộ quá trình nhận thức, xây dựng và thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình

Trang 2

Nguyên tắc này được các cá nhân và tổ chức liên quan tuân thủ khi thực hiện những hoạt động chịu sự điều chỉnh trong lĩnh vực này như kết hôn,

ly hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, chế độ tài sant của vợ chồng, quan hệ cha mẹ con, cấp dưỡng…

https://luathoangphi.vn/che-do-hon-nhan-tien-bo-la-gi/

Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là gì?

– Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì hôn nhân được hiểu là

quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn (Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn

nhân và gia đình 2014), đây cũng là khái niệm mà luật Luật hôn nhân

và gia đình 2000 quy định tại khoản 6 Điều 8.

– Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại Khoản 5 Điều 3 thì

“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quạn hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”

Trang 3

– Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tại Khoản 14 Điều 13 thì “Li hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật của Tòa án.”

– Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là nguyên

lí, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình

– Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là nguyên tắc đầu tiên trong số 5

nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Hôn nhân tự nguyện là gì ?

Tự nguyện được hiểu là xuất phát từ ý muốn của bản thân, không bị thúc

ép, bắt buộc Hôn nhân tự nguyện cũng là một yếu tố không thể không

nhắc đến khi bàn về Chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay.

Nói đến hôn nhân tự nguyện là nói đến việc đôi nam nữ tự bản thân mình quyết định hành động việc hôn nhân mà không chịu bất kỳ sự ép buộc hay cản trở nào Đồng thời cũng được pháp lý bảo vệ trải qua việc nghiêm cấm mọi hành vi ép buộc hay cản trở hôn nhân vợ chồng Tại điểm b khoản 2 điều 5 Luật hôn nhân và mái ấm gia đình năm trước có pháp luật ;2 Cấm những hành vi sau đây :… ;b ) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn Đây là sự bảo vệ pháp lý nhằm mục đích xóa bỏ chính sách hôn nhân theo tư tưởng phong kiến lỗi thời Xóa bỏ hiện tượng kỳ lạ cha mẹ là người quyết định hành động hôn nhân mặc dầu có trái với ý muốn của con cháu

Trang 4

Hôn nhân tiến bộ là gì?

 Tiến bộ được hiểu là tốt hơn, phù hợp hơn cái đã có Theo nghĩa này, nguyên tắc hôn nhân tiến bộ có thể hiểu là những quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hôn nhân có sự đổi mới so với những quy định trước đây Những sự thay đổi này phù hợp với hoàn cảnh thực tế cũng như xu hướng phát triển hiện đại, đẩy lùi cái lạc hậu và tiếp thu cái tiến bộ

Trang 5

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng:

Để có được một cuộc hôn nhân trọn vẹn không chỉ dừng lại ở giai đoạn kết hôn Thực trạng hôn nhân ở Việt Nam hiện nay, việc tuân thủ chế độ hôn nhân cũng là vấn đề nan giải

Theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình

2014 quy định về các hành vi bị cấm trong chế độ hôn nhân và gia đình:

“Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;”.

Có thể thấy, pháp luật đã có những quy định cấm hành vi làm tổn hại đến quan hệ hôn nhân và gia đình và chế độ hôn nhân một vợ một chồng Những quy định này được đảm bảo thực hiện bằng chế tài được quy định tại điều 48

“Điều 48 Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn.

Nguyên nhân của tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Thứ nhất, do hai bên nam nữ chưa tìm hiểu rõ về nhau khi tiến tới hôn

nhân, do vậy khi bước vào cuộc sống hôn nhân có những bất đồng mâu thuẫn khiến mục đích hôn nhân không thể đạt được;

Thứ hai, do đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao kéo theo

những nhu cầu cá nhân cũng tăng theo;

Trang 6

Thứ ba, do hoàn cảnh công việc, mỗi cá nhân đều phải mở mang thêm

nhiều mối quan hệ

Hiện tượng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng có khả năng rất cao dẫn tới cuộc ly hôn của vợ chồng, nếu không có biện pháp hiệu quả

sẽ gây ra nhiều bất ổn trong xã hội

luatminhkhue.vn/nhung-net-dac-trung-cua-che-do-hon-nhan-o-viet-nam-hien-nay.aspx

Sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ qua chế định kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014

Dưới chế độ phong kiến, cha mẹ quyết định việc hôn nhân của con cái, cưỡng ép hôn nhân cho nên tình yêu không thể là cơ sở của hôn nhân được Giai cấp tư sản cũng tuyên bố tự do hôn nhân Tuy vậy, hôn nhân chỉ tự do chừng nào nào nó được xây dựng trên cơ sở tình yeu chân chính giữa nam và nữ, nghĩa là không bị tính toán vật chất, địa vị xã hội

Trang 7

chi phối Cần phân biệt hôn nhân tự nguyện, tự do với “tự do yêu

đương”, tự do yêu đương là thứ tự do bừa bãi, phóng đãng xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân dẫn đến tự do trốn tránh trách nhiệm trước gia đình và

xã hội

Dưới chủ nghãi xã hôi, khi đã xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa thì mới có điều kiện đảm bảo hôn nhân tự do thực sự, nghĩa là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Điều 36 có quy

định “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn

nhau” Nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân được Luật hôn nhân và gia đình 2014 cụ thể hóa ở một số điều luật

https://blogluatvietnam.com/the-nao-la-hon-nhan-tien-bo/

Bản chất pháp lý của hôn nhân

Bản chất pháp lý của hôn nhân là một hợp đồng hay là một thiết chế pháp luật hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

Theo quan điểm này: hôn nhân là một hợp đồng nếu xem xét trên khía cạnh thứ nhất của khái niệm hôn nhân – hành vi làm phát sinh quan hệ hôn nhân phải dựa trên nguyên tắc tự do thoả thuận giữa hai bên nam và

nữ Hôn nhân là một thiết chế pháp luật nếu xem xét ở khía cạnh thứ hai của khái niệm hôn nhân – Tình trạng pháp lý sau khi kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, cũng như việc chấm dứt hôn nhân phải chịu sự qui định chặt chẽ của pháp luật

Trang 8

* Thứ nhất, có sự khác nhau giữa mục đích giao kết hợp đồng và

mục đích kết hôn.

Theo pháp luật về hợp đồng, sự thoả thuận là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng, tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để hợp đồng có hiệu lực Để hợp đồng có hiệu lực, sự thoả thuận của các bên phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân

sự Trong hôn nhân có sự thoả thuận, nhưng thoả thuận đó không phải là thoả thuận trong hợp đồng Vì mục đích của các bên kết hôn không phải

để tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ dân sự nào, mà chỉ mong muốn lập một gia đình

* Thứ hai, pháp luật qui định về năng lực kết hôn khác với qui định

về năng lực giao kết hợp đồng.

Năng lực giao kết hợp đồng chủ yếu được xác định trên hai điều kiện: độ tuổi (tuỳ theo từng loại hợp đồng mà pháp luật qui định các độ tuổi khác nhau) và khả năng nhận thức của chủ thể Còn năng lực kết hôn ngoài điều kiện độ tuổi và năng lực nhận thức, còn được xác định trên các điều kiện khác không có trong pháp luật về hợp đồng

* Thứ ba , việc kết hôn được thực hiện theo những ghi thức đặc

biệt không có trong pháp luật về hợp đồng.

Pháp luật của tất cả các nước đều qui định để hôn nhân có giá trị pháp

lý, việc kết hôn phải được tiến hành theo các ghi thức qui định trong

Trang 9

pháp luật Hiện nay, có hai ghi thức kết hôn phổ biến: ghi thức tôn giáo (thực hiện tại nhà thờ) và ghi thức dân sự (thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Có nước chỉ thừa nhận ghi thức dân sự (Luật HN

& GĐ Việt Nam năm 2000; Điều 165, 166, 170, 171 BLDS Cộng hoà Pháp, điều 7 Luật hôn nhân nước CHND Trung Hoa …) Có nước lại thừa nhận cả ghi thức tôn giáo và ghi thức dân sự (Luật hôn nhân năm

1961 của Australia, Luật hôn nhân năm 1987 của Thụy Điển, Luật hôn nhân của Italia…) Có nước chỉ thừa nhận ghi thức tôn giáo (Luật hôn nhân của Tây Ban Nha…)

* Thứ tư, pháp luật qui định về huỷ kết hôn trái pháp luật khác với các qui định về huỷ hợp đồng.

Căn cứ để hủy kết hôn trái pháp luật và căn cứ hủy hợp đồng là khác nhau Một hợp đồng bị huỷ khi có một trong hai căn cứ: Các bên vi phạm các điều kiện do luật định hoặc các bên vi phạm điều kiện do thoả thuận Còn việc kết hôn sẽ bị hủy khi vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo luật định

* Thứ năm, các quy định về chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn khác với qui định về chấm dứt hợp đồng

Một hợp đồng có thể chấm dứt do các bên trong hợp đồng thoả thuận hoặc do ý chí đơn phương của một bên, mà không cần có phán quyết của Toà án Trong khi đó, một quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định của Toà án xử cho ly hôn hoặc công nhận thuận tình ly hôn (pháp luật của những nước thừa nhận hôn nhân là một hợp đồng cũng ghi nhận qui định này) Sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng là điều kiện tiên quyết để chấm dứt hợp đồng, còn trong hôn nhân, sự đồng thuận chấm dứt hôn nhân của vợ chồng (sự thuận tình ly hôn) chỉ là một trong các sự kiện làm phát sinh việc kiện về ly hôn, chứ không phải là căn cứ làm chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn Pháp luật đảm bảo quyền tự

do ly hôn của vợ chồng, nhưng sự thoả thuận của hai vợ chồng vẫn có thể bị Toà án bác yêu cầu, nếu sự thuận tình ly hôn không xuất phát từ lợi ích chung của gia đình

https://phapluatdansu.edu.vn/2007/09/11/01/57/56834-2/

Ngày đăng: 23/09/2022, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w