Và để làm được như vậy, cần nhận thức được vai trò của các yếu tố sinh học xã hội trong quá trình hình thành và phát triển của con người, để từ đó là cơ sở lý luận cà thực tiễn trong việ
Trang 1Tiểu luận Triết học Mác - Lênin
Đề tài: Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người và bản chất của con người Vấn đề phát huy nhân tố con người trong công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày nay.
Họ và tên: Lã Thị Thu Trang
MSSV: 47.01.608.146
Lớp học phần: Triết học Mác – Lênin – POLI200133
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Chương Nhiếp
Trang 2Lời mở đầu 1
Nội dung 2
Chương 1 Quan điểm Triết học Mác – Lênin về con người và bản chất của con người 2
1. Con người là một thực thể sinh học- xã hội 2
2. Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư
liệu sinh hoạt của mình 4
3 Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử 4
4 Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội 6
Chương 2 Vấn đề phát huy nhân tố con người trong công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày nay 7
1. Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ 8
2. Quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương châm bảo đảm công
bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển 9
trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò của nguồn lực con người trong các
lĩnh vực 9
Kết luận 11
Trang 3Lời mở đầu
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau chung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người Trước Các Mác, vấn đề bản chất của con người chưa được giải đáp một cách khoa học Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử con người Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ
Từ việc nắm vững lý luận về con người, về vị trí tầm quan trọng của nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới toàn diện hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, là chiến lược trung tâm và là chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm phát huy nhân tố con người, tạo điều kiện cho con người phát triển hài hòa có trí tuệ và có sức khỏe Và để làm được như vậy, cần nhận thức được vai trò của các yếu tố sinh học xã hội trong quá trình hình thành
và phát triển của con người, để từ đó là cơ sở lý luận cà thực tiễn trong việc đề ra những chính sách, chủ trương kịp thời giúp bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người nói chung để con người thật sự trở thành chủ thể của quá trình xây dựng xã hội mới
Đã có rất nhiều ngành, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề con người, đây được coi
là vấn đề thiết thực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện trên nhiều lĩnh vực Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay nên em đã chọn đề tài “Quan điểm Triết học Mác – Lênin về con người và bản chất của con người Vấn đề phát huy nhân tố con người trong công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày nay”
Trang 4Nội dung
Chương 1 Quan điểm Triết học Mác – Lênin về con người và bản chất của
con người.
Trải qua hàng trăm năm, qua nhiều cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học từ thời cổ đại, nhiều những học thuyết, lý luận, quan điểm được đưa ra Song, có thể một cách đầy đủ và toàn diện nhất về con người và bản chất của con người chính là quan điểm triết học của Mác – Lênin Tiếp thu một cách mang tính phê phán những quan điểm và khắc phục những thiếu sót hạn chế quan niệm về con người trong lịch sử triết học trước đó, triết học Mác khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội
1. Con người là một thực thể sinh học- xã hội
“Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoan toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật”1 Dựa trên những thành tựu khoa học, triết học Mác – Lênin coi con người là sản phẩm tiến hóa của giới tự nhiên, nằm trong số những sinh vật
mà theo họa thuyết của Đắc Uyn về sự tiến hóa của các loài là “xuất hiện và phát triển nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên”.Tự nhiên chính là tiền đề đầu tiên quy định sự tồn tại, hình thành và phát triển của con người Như vậy, con người cũng có những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển như mọi loài vật khác:
ăn, uống, các bản năng, nhu cầu sinh học cơ bản và kể cả “đấu tranh sinh tồn” Tuy nhiên con người không sống thụ động, hoan toan dựa vào tự nhiên, không
bị qui định duy nhất bởi yếu tố tự nhiên mà còn tác động ngược lại lên tự nhiên “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”2 Đây chính là điểm khác đặc biệt, ngăn cách giữa con người với các thực thể sinh học khác Do đó, để tồn tại và phát triển lâu dài, con người và thiên nhiên phải dựa vào nhau, gắn
bó và hòa hợp với nhau3
1 C Mác và Ph Ăngghen (1994) Toàn tập, t.20, tr.146.
2 C Mác và Ph Ăngghen (2000) Toàn tập, t.42, nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.135.
3 Giao trình triết học Mac - Lênin danh cho bâc đại học hê không chuyên lý luân chinh tri, nxb Chinh triQuôc gia
Trang 5“Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”4 Lao động sản xuất cũng là một hoạt động xã hội quan trọng của con người Ăngghen đã chỉ ra rằng, bước chuyển biến từ vượn thành người là nhờ quá trình lao động Hoạt động mang tính xã hội này đã nối dài bàn tay và các giác quan của con người, hình thành ngôn ngữ và ý thức, giúp con người làm biến dạng giới tự nhiên để làm ra những vật phẩm mà giới tự nhiên không có sẵn Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên Nếu các loài động vật khác hoàn toàn phụ thuộc vào bản năng và các sản phẩm tự nhiên thì con người lại hoan toàn có thể tạo ra các vật phẩm phù hợp với nhu cầu của mình bằng lao động sản xuất Cũng nhờ đó, con người có thể trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của
“lịch sử có tính tự nhiên”, có lý tính, có “bản năng xã hội” Bởi vậy, có thể nói yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của một con người chinh là lao động Cũng nhờ đó, con người có thể trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của “lịch sử có tính tự nhiên”, có lý tính, có “bản năng xã hội” Lao động đã góp phần cải tạo bản năng sinh học của con người, làm cho con người trở thành con người đúng nghĩa của nó.chỉ khi có lao động thì tư duy, ý thức của con người mới có điều kiện phát triển Lao động là điều kiện tiên quyết, cần thiết và chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển của con người cả về phương diện sinh học lẫn phương diện xã hội5
Con người vừa là một sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, do
đó , bên trong con người cũng có hai mặt không thể tách rời nhau: mặt tự nhiên
và mặt xã hội sự thông nhất ấy cũng cho ta thấy con người là một thực thể sinh học- xã hội.Là một thực thể sinh học- xã hội, con người chịu sự chi phối của các hệ thống qui luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau: hệ thống các qui luật sinh học, hệ thống các qui luật tâm lý, hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người Trong mỗi con người, giữa mặt sinh
C Mác và Ph Ăngghen(1994) Toàn tập, t.1, tr.673.
Trang 6học và mặt xã hội có mối liên kết vô cùng chặt chẽ: mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Chính sự liên kết ấy đã tạo nên con người với tính cách
là một thực thể sinh học – xã hội
2 Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình.
“Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của chính mình”6
“Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vượn may mắn lắm mới chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất Chỉ riêng sự khác biệt duy nhất nhưng cơ bản ấy cũng khiến ta không thể chuyển – nếu không kèm theo những điều kiện tương ứng – các quy luật của các xã hội loài vật sang xã hội loài người”7
Theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, sự khác biệt giữa con người và động vật thể hiện tính chất duy vật nhất quán: sự khác biệt dựa trên nền tảng vật chất Việc con người sản xuất tạo ra của cải là điểm khác biệt căn bản giữa loài người và động vật
3 Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử
Con người chính là sản phẩm của lịch sử Nếu không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì con người đã không thể tồn tại.Kể cả con vật cũng
có lịch sử, thế nhưng lịch sử giữa con người và động vật có sự khác biệt Lịch
sử của động vật “là lịch sử nguồn gốc của chúng và sự phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử
6 C Mác và Ph Ăngghen (1995) Toàn tập, Sđd, t.3, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.673
C Mác và Ph Ăngghen (1996) Toàn tập, Sđd, t.34, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.241
Trang 7chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách
có ý thức bấy nhiêu” Lao động sản xuất, chế tạo công cụ lao động là những hoạt động đầu tiên giúp lịch sử con người tách khỏi lịch sử của các loài động vật khác Đây cũng chinh là cột mốc mà con người bắt đầu trở thanh chủ thể của lịch sử “Sáng tạo ra lịch sử” là bản chất của con người, nhưng sự “sáng tạo” ấy phải dựa trên điều kiện của những thế hệ đi trước, để lại trong hoan cảnh mới Con người phải thực hiện các hoạt động trên tiền đề, điều kiện của thế hệ cũ để lại, song mặt khác, phải tiếp tục những hoạt động mới để cải biên những điều kiện cũ Từ đó lịch sử sản xuất không ngừng thay đổi, tiến bộ, tương ứng với sự sang tạo lịch sử của con người8 Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới
tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội
C Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người
là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải
do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử
ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách
có ý thức bấy nhiêu”
Con người tồn tại trong môi trường xã hội, nhờ môi trường xã hội mà con người trở thành một thực thể xã hội và mang bản chất xã hội Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, của môi trường, trong đó có môi trường xã hội Môi
Trang 8trường xã hội có tác động trực tiếp đến con người còn sự tác động của môi trường tự nhiên thường phải thông qua môi trường xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhân tố xã hội Môi trường xã hội và môi trường tự nhiên ở trong một mối quan hệ tác động qua lại, chi phối và quy định lẫn nhau
4 Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Từ các phân tích trên, ta có thể thấy con người vượt lên trên các loài vật tự nhiên nhờ vào ba phương diện: quan hệ với tự nhiên, mối quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình Cả ba quan hệ trên, suy cho cùng cũng mang tinh xã hội Để khẳng định phẩm chất của con người, Các Mác đã khẳng định rằng: “Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, cơ hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội.”9 Luận đề của Mác nhằm bổ khuyết và phát triển cho quan điểm triết học về con người của Phoiơbắc- một quan điểm “tuyệt đối hoá mặt tự nhiên của con người, tách con người ra khỏi các hoạt động (thực tiễn) của họ, làm hoà tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo ”
Luận điểm trên của Mác còn giúp phủ định sự trừu tượng, khẳng định sự tồn tại con người cụ thể Hay rõ hơn chinh là, con người luôn sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể, một thời đại xác định và một giai cấp nhất định Sự tổng 12 hòa các mối quan hệ là mỗi quan hệ xã hội đều có vai trò, vị trí khác nhau, có tác động qua lại và hông tác rời nhau kể cả các mối quan hệ ở quá khứ và tương lai ( khác với sự tổng cộng hay kết hợp) Các mối quan hệ xã hội đã hình thành có vai trò chi phối và quyết định bản chất của con người khiến con người không còn là một động vật mà trở thành một động vật xã hội Bản chất của con người cũng có sự thay đổi theo sự biến đổi của các mối quan hệ mà con người gia nhập vào10
9 C Mác và Ph Ăngghen (1995) Toàn tập, Sđd, t.3, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 1
10 Giao trình triết học Mac - Lênin danh cho bâc đại học hê không chuyên lý luân chinh tri, nxb Chinh tri Quôc
Trang 10Chương 2 Vấn đề phát huy nhân tố con người trong công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày nay.
Qua hơn 30 năm đổi mới, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và tổng kết lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: con người và các nguồn lực của con người đóng vai trò quyết định sự phát triển của đất nước Nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Vốn,
cơ sở vật chất kỹ thuật rất quan trọng nhưng quan trọng nhất vẫn là nhân tố con người Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng ta xác định mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững…Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đặt ra một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, về nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”11 Như vậy, đến Đại hội lần thứ XII, vấn đề “phát triển con người toàn diện” được Đảng
ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016
-2020 và “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển” Đây là bước tiến trong nhận thức của Đảng sau 35 năm đổi mới, khẳng định và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc phát huy nhân
tố con người, phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc thời kì hội nhập quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nhân tố con người luôn gắn liền với xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc Trong điều kiện khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển, hội nhập gia tăng thì mối quan hệ biện chứng này càng trở nên quan trọng Đối với nước ta, để phát huy nguồn lực con người một cách hợp lý, hiệu quả cần phải có một hệ thống các biện pháp đồng
bộ, trong đó, cần tập trung vào một số biện pháp chủ yếu sau:
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,