ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI LÝ LUẬN CỦA CÁC MÁC VỀ HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH SỮA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
LÝ LUẬN CỦA CÁC MÁC VỀ HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG VÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH SỮA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP: L08 NHÓM: 8D, HK211
GVHD: ThS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
% ĐIỂM BTL
ĐIỂM BTL GHI CHÚ
3 1915292 NGUYỄN HỮU THIỆN
4 1912191 NGUYỄN THỊ HOÀI THY
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT Mã số
SV Họ và tên
Nhiệm vụ được phân công
% Điểm BTL
2 2012989 HỒ TẤN ĐỨC
Tổng hợp word + làm slide thuyết trình
5 2014813 ĐẶNG NGỌC
TRÂM
Phần mở đầu + Kết luận
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1
3 Mục tiêu nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Kết cấu của đề tài: 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CÁC MÁC VỀ HÀNG HÓA 1.1 Khái niệm và hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá 3
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa 3
1.3 Lượng giá trị của hàng hóa 5
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa 5
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của ngành sữa ở Việt Nam 7
2.2 Thực trạng và nguyên nhân trong ngành sữa ở Việt Nam hiện nay 12
2.3 Các kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của ngành sữa ở nước ta theo hướng hiện đại và ngày càng hiệu quả 18
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu tiêu dùng sữa ở Việt Nam nói riêng trong thế giới nói chung Theo C.Mác:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” Trải qua một quá trình dài hình thành và phát triển, sữa đã bùng nổ với mô hình hoành tráng hơn nhiều thông qua “sản xuất hàng hóa”, đa dạng về nguồn cung cấp cho đến tiêu dùng, thể hiện trong mô hình thị trường tiêu thụ hiện nay Đó là một khía cạnh lớn đáng để nghiên cứu Sữa là món thực phẩm rất gần gũi với mỗi hộ gia đình, cung cấp lượng protein cao, nhiều loại vitamin và khoáng chất rất đa dạng cho cơ thể không những con người mà còn động vật Sữa xuất hiện từ thời kỳ nguyên thủy còn “sản xuất tự cấp tự túc” cho đến ngày nay đang trong giai đoạn “sản xuất hàng hóa”, sữa vẫn giữ vững vị trí là một món hàng được sản xuất phổ biến và nhu cầu người dùng ngày một tăng cao Tính đến cuối năm 2018, theo Tổng cục Thống kê, với tổng đàn bò sữa trên thì sản lượng sữa tươi trong nước đạt 936 ngàn tấn1.Trong khi đó tính trên thế giới, các khách hàng sử dụng sữa đạt con số trên 6 tỷ, với dân số thế giới đạt gần 8 tỷ Cho đến hiện tại (cuối 2021) trải qua 3 năm phát triển vượt trội về kinh tế, nâng cao không những mức tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thế giới, con số này đã tăng cao đáng kể
Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh phức tạp khiến nhiều doanh nghiệp phải điêu đứng, trong đó có sữa và các sản phẩm về sữa Mặt hàng sữa được xếp vào nhóm hàng hoá thiết yếu ở tỉnh này, nhưng không thuộc nhóm hàng hoá thiết yếu ở tỉnh khác nên các doanh nghiệp sữa cũng không thể giao hàng đến đại lý Vì vậy, nhận thấy rõ sự cấp thiết
về khó khăn mà ngành sữa phải đối mặt, nhóm em xin thực hiện đề tài “Lý luận của Các Mác về hàng hóa và vận dụng vào sự phát triển của ngành sữa ở Việt Nam hiện nay”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: lý luận của Các Mác về hàng hóa
1 Hà Giang, (31/07/2019), Ăn ít thịt, uống nhiều sữa Việt Nam nuôi thêm trăm ngàn con bò, Truy cập từ
https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/nam-2020-viet-nam-co-dan-bo-sua-405-ngan-con-554787.html
Trang 5Phạm vi: sự phát triển của ngành sữa ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến
2021
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ lý luận của Các Mác về hàng hóa
Thứ hai, phân tích để chỉ rõ vị thế của sữa cũng như sự quan trọng trong sản xuất
tạo ra sữa, thể hiện qua giá trị của nó và đánh giá các nhân tố tác động thị trường
Thứ ba, mô tả rõ ràng thực trạng thị trường hiện nay nhằm thể hiện lượng giá trị
của sữa và nhân tố ảnh hường đến
Thứ tư, vận dụng các quy luật trong sản xuất và lưu thông hàng hóa để đưa ra các
nguyên nhân, các biện pháp khắc phục những khó khăn mà ngành sữa đã và đang gặp phải, mô tả bức tranh sự hình thành của sữa qua các giai đoạn, qua đó tìm ra các hướng
đi mới để giúp nền sản xuất phát triển hơn
Thứ năm, vạch ra các hướng đi đa chiều giúp nâng cao sữa ở thị trường trong nước
và những tiềm năng vượt trội của ngành sữa trong tương lai
4 Phương pháp nghiên cứu
Với một từ “sữa”, đề tài được phân tích bằng nhiều phương pháp sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử
- Thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp
- Quy nạp diễn dịch, hệ thống hóa
- Tổng kết thực tiễn
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:
- Chương 1: Lý luận của Các Mác về hàng hóa
- Chương 2: Sự phát triển của ngành sữa ở Việt Nam hiện nay
Trang 6CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CỦA CÁC MÁC VỀ HÀNG HÓA 1.1 Khái niệm và hai thuộc tính của hàng hoá
Khái niệm hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng vật thể hoặc phi vật thể
Hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng của hàng hóa: Là công dụng của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người (nhu cầu về vật chất, tinh thần; nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, cho sản xuất…) Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng
Vì vậy, nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng hiện đại, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú hơn các giá trị sử dụng của sản phẩm Cụ thể, giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua Do đó, nếu là người sản xuất, phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng của hàng hóa
do mình sản xuất ra sao cho ngày càng đáp ứng nhu cầu khắt khe và tinh tế hơn của người mua
- Giá trị của hàng hóa: Là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh
bên trong hàng hóa Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện
ra bên ngoài của giá trị; giá trị nội dung là cơ sở của trao đổi Khi trao đổi người ta ngầm
so sánh lao động đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa với nhau Trong thực hiện sản xuất hàng hóa, để thu được hao phí lao động đã kết tinh, người sản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng để được thị trường chấp nhận, hàng hóa phải được bán đi
1.2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác phát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: Mặt cụ thể và mặt trừu tượng của lao động
Trang 71.2.1 Lao động cụ thể
Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng lao động, công cụ, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Các loại lao động cụ thể khác nhau tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau Phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, xã hội càng nhiều ngành nghề khác nhau, các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau
1.2.2 Lao động trừu tượng
Là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí óc Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa
Có thể nêu, giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Lao động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
1.2.3 Tính thống nhất và mâu thuẫn giữa hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Tính thống nhất: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt của lao động
sản xuất hàng hóa
Tính mâu thuẫn: Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất
hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì, như thế nào là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra không phù hợp với nhu cầu xã hội, hoặc khi mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận được Khi đó, sẽ có một số hàng hóa không bán được Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa nhận Mâu thuẫn này tạo ra nguy cơ khủng hoảng tiềm ẩn
Trang 81.3 Lượng giá trị của hàng hóa
Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động đã hao phí để tạo ra hàng hóa
Lượng lao động đã hao phí được tính bằng thời gian lao động Thời gian lao động này phải được xã hội chấp nhận, không phải là thời gian lao động nào của đơn vị sản xuất cá biệt, mà là thời gian lao động xã hội cần thiết
Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra bao hàm: Hao phí lao động quá khứ (Chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) + Hao phí lao động mới kết tinh thêm
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, vì vậy, những nhân tố ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến lượng giá trị của đơn vị hàng hóa Có những nhân tố chủ yếu sau:
1.4.1 Năng suất lao động
Là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hóa Do đó, năng suất lao động tăng lên sẽ làm cho lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa giảm xuống
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động gồm: i) trình độ khéo léo trung bình của người lao động; ii) mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ; iii) sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất; iv) quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; v) các điều kiện tự nhiên
Khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa, cần chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động với lượng giá trị
Trang 9của một đơn vị hàng hóa Cường độ lao động là mức độ khẩn trương tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động Trong chừng mực xét riêng vai trò của cường độ lao động, việc tăng cường độ lao động làm cho tổng số sản phẩm tăng lên Tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp lại tăng lên Song, lượng thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất một đơn vị hàng hóa không thay đổi Tuy nhiên, trong điều kiện trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp, việc tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn góp phần thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội
Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên Đây là cơ sở lý luận quan trọng để cả nhà quản trị và người lao động xác định mức thù lao cho phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia
vào các hoạt động kinh tế xã hội
Trang 10CHƯƠNG 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH SỮA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành sữa ở Việt Nam
Ngành công nghiệp sữa là ngành công nghiệp thực phẩm thiết yếu, phục vụ đời sống người dân Các sản phẩm của ngành được sản xuất chủ yếu từ sữa động vật (phần lớn là sữa bò), tạo ra những sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao và cần thiết cho con người trong quá trình tồn tại Vì vậy, việc chăn nuôi bò sữa được quan tâm hơn hết
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành của ngành sữa nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng ở Việt Nam
Tại nước ta, việc chăn nuôi bò sữa và lấy sữa xuất hiện khá trễ so với các nước trên thế giới: Việt Nam vốn không có truyền thống chăn nuôi bò sữa từ lâu đời Chăn nuôi bò sữa ở VN đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỉ XX Giai đoạn này nước ta chủ yếu nhập các giống bò sữa từ các nước trên thế giới, lai tạo giống bò sữa phù hợp và tìm các phương pháp chăn nuôi, nâng dần số lượng đàn cũng như sản lượng sữa Từ những năm 90 trở lại đây, ngành chăn nuôi bò sữa mới trở thành ngành sản xuất hàng hoá thực
sự
Một cột mốc quan trọng đáng nhắc đến đó là Quyết định 167/2001/QĐ/TTg được ban hành ngày 26/10/2001 với chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành sữa ở Việt Nam bằng việc phát triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2001-20042 Thông qua quyết định này,
từ năm 2001-2004, một số địa phương đã nhập một số lượng khá lớn bò HF từ Úc, Mỹ, New Zealand về nuôi góp phần tăng số lượng đàn bò lên đáng kể Tuy còn nhiều biến động sau năm 2001 nhưng nhìn chung, số lượng bò đã tăng lên khoảng 257.300 con (năm 2015)3, 294.000 con (năm 2018)4 Từ việc chăn nuôi bò sữa xuất hiện và không ngừng được nâng cao đã thúc đẩy ngành sữa, đặc biệt là chế biến sữa bò hình thành và phát triển
2 Dairy Vietnam, Lịch sử phát triển ngành sữa, Truy cập từ: Lịch sử phát triển ngành sữa Việt Nam
Trang 112.1.2 Phát triển của ngành sữa bò ở Việt Nam
Do sự phát triển muộn của việc chăn nuôi bò sữa nên chế biến sữa ở nước ta cũng chỉ mới phát triển từ những năm 70 với tốc độ phát triển còn chậm “Đến năm 1980 mục tiêu thu sữa chỉ đạt 3 kg/người/năm, gần như bằng 0 so với thị trường thế giới Năm
1990 đã lên 5,5 kg/người/năm, năm 2003 tăng nhanh lên 9kg/người/năm, năm 2015 đạt khoảng 22 kg/người/năm và năm 2020 là 26-27 kg/người/năm.”5
Tình hình sản xuất:
- Sản lượng sữa tươi nguyên liệu không thể bắt kịp với nhu cầu gia tăng trong nước Từ năm 2001 – 2014(64,7 triệu lít6 lên 549,5 triệu lít 7), sản lượng sữa trong nước tăng trưởng 26,6%/năm, “đạt 456.400 triệu lít năm 2013, chỉ đủ đáp ứng 28% nhu cầu trong nước” 6, “đến năm 2020 đạt 1.049 triệu lít, đáp ứng khoảng 35%8” Hai mảng chính dẫn dắt sự tăng trưởng của toàn ngành sữa trong nước và cũng là 2 mặt hàng quan trọng nhất là sữa nước và sữa bột Riêng tổng giá trị trường của 2 mảng này đã chiếm khoảng 3/4 giá trị thị trường
- Thị phần sữa bột phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài như Abbott, Friesland Campina Vietnam và Mead Johnson nắm giữ do người tiêu dùng Việt Nam vẫn sẵn sàng trả giá cao cho thương hiệu sữa ngoại Trong khi đó, đối với mặt hàng sữa nước, ngoài Vinamilk chiếm khoảng trên 50% thị phần, còn có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp khác như TH Milk, Nutifood, IDP, Hanoi Milk…
- Tính chung giai đoạn 2010-2015, sản lượng sản xuất sữa nước tăng trung bình 16%/năm, từ mức 520,6 triệu lít năm 20109 lên 1.093 triệu lít năm 20159; “Thị trường sữa nước Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 14% trong giai đoạn 2014
5 123doc, Hoạch định chiến lược cho ngành sữa Việt Nam giai đoạn 2013-2020 và tầm nhìn 2030, Truy cập từ:
va-tam-nhin-nam-
https://123docz.net/document/2559814-hoach-dinh-chien-luoc-cho-nganh-sua-viet-nam-giai-doan-2013-2020-2030.htm?fbclid=IwAR1lGJhaVI6AvUUhB0SxhpsN13FiwTzrYU9V8ij4Pdo8kxgTcM24yWS1Qf8
6 Lã Văn Thảo, Kết quả phát triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2001-2013 và định hướng, giải pháp phát triển đến
năm 2020, Truy cập từ: va-dinh-huong-giai-phap-phat-trien-den-nam-2020
https://trungtambocobavi.com/ket-qua-phat-trien-chan-nuoi-bo-sua-giai-doan-2001-2013-7 INVESTVIETNAM, Sữa và các sản phẩm sữa, Truy cập từ: Sữa và các sản phẩm sữa (investvietnam.gov.vn)
8 Phan Nam, 01/07/2021), Chăn nuôi bò sữa Việt Nam vươn tầm thế giới, Truy cập từ:
https://bachhoanongsan.com/chan-nuoi-bo-sua-viet-nam-vuon-tam-the-gioi/?fbclid=IwAR2ao-DlUZrpL5L0uAK99wpyX5KFSQ42iPmiUOiNJciIgcMkWyM6ROC5d0s
9 Tổng cục Thống kê, Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp, Truy cập từ: 2/?pxid=V0705&theme=C%C3%B4ng%20nghi%E1%BB%87p
Trang 12https://www.gso.gov.vn/px-web-– 2019”10 (từ 846,5 triệu lít9 lên 1.323,44 triệu lít9) “Doanh thu sữa nước trong Q1/2020 đạt 15,3 nghìn tỷ đồng”10 Dự báo, sản lượng sữa nước tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong vài năm tới do nguồn vốn đầu tư vào các nông trại sản xuất sữa ngày càng nhiều nhằm giảm sự lệ thuộc vào sữa nhập khẩu.Sữa bột có lượng sản xuất đã trở lại đà tăng sau năm 2008 bị giảm, chỉ còn 42,8 nghìn tấn9 trong khi 2005 đạt 49,1 nghìn tấn9 Giai đoạn 2010-2015, sản lượng sản xuất sữa bột tăng trung bình 10,5%/năm, từ mức 58,9 nghìn tấn9 năm 2010 lên mức 97,1 nghìn tấn năm 20159 và năm 2020 đã chạm mốc 127,19 nghìn tấn9
Thiết bị, công nghệ trong chăn nuôi bò sữa và trong chế biến các sản phẩm từ sữa:
liên tục đổi mới, nâng cao Cụ thể:
- 12/2010, Công ty Cổ phần sữa TH Milk đã mua toàn bộ bí quyết công nghệ cùng
kỹ thuật chăn nuôi bò sữa của Israel và quy trình chế biến hàng đầu thế giới từ các nước tiên tiến đã áp dụng thành công
- 6/2013, tập đoàn ABI (Nhật Bản) đã chuyển giao công nghệ bảo quản thực phẩm đông lạnh CAS do ABI sở hữu cho VN
- Doanh nghiệp đặt các bồn lạnh gần khu vực chăn nuôi, giúp nông dân giảm chi phí vận chuyển mà lại tăng chất lượng của nguyên liệu
- Áp dụng công nghệ tiệt trùng UHT Công nghệ tiệt trùng UHT được hiểu đơn giản là tiến trình xử lý nhiệt sữa ở nhiệt độ cao (130 - 150℃) trong thời gian rất ngắn (3-15 giây) trong môi trường vô trùng khép kín Nhờ công nghệ này mà sữa tiệt trùng vẫn giữ được nhiều chất dinh dưỡng, có thể bảo quản ở nhiệt độ thường và thời hạn sử dụng có thể kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm Sữa tươi thanh trùng được đun nóng ở nhiệt
độ 85-90℃ trong thời gian ngắn (30 giây – 1 phút) rồi làm lạnh ngay Qua quá trình xử
lý, hầu như toàn bộ vitamin và khoáng chất có trong sữa nguyên thủy vẫn được đảm bảo Sữa thanh trùng phải bảo quản liên tục trong điều kiện lạnh (ở 4℃) và thời hạn dùng chỉ trong 7 ngày Với bao bì sản phẩm áp dụng bao bì giấy đóng gói tiệt trùng cấu tạo 6 lớp giúp sản phẩm tránh các loại vi khuẩn do bao bì này bảo vệ sản phẩm chống
10 VIRAC, (21/07/2020), Xu hướng phát triển thị trường sữa hạt trong tương lai Truy cập từ:
https://viracresearch.com/xu-huong-phat-trien-thi-truong-sua-hat-trong-tuong-lai
Trang 13lại các ảnh hưởng có hại từ ánh sáng, không khí, độ ẩm trong không khí trong quá trình tồn trữ sản phẩm, giúp dễ vận chuyển bất cứ đâu
- Hệ thống vận hành dựa trên giải pháp tự động hoá Tetra Plant Master Nhờ vậy
có thể điều khiển mọi hoạt động diễn ra trong nhà máy, theo dõi, kiểm soát chất lượng liên tục
- Sử dụng robot trong quá trình sản xuất như vận chuyển cuộn bao bì và vật liệu bao gói, pallet thành phẩm đến kho thông minh – nơi nhập xuất hàng tự động với xe tự hành RGV
- Ngoài ra trong sản xuất sữa bột, có những đổi mới trong công nghệ ở công đoạn sấy và chiết lon như chuyển sấy phun từ công nghệ gõ sang công nghệ thổi khí; Trong sản xuất sữa chua, Việt Nam áp dụng nhiều công nghệ khác nhau để lên men sữa chua,
hỗ trợ cho công nghệ lên men sữa chua hiện đại tại các cơ sở lớn: hệ thống thiết bị lên men được điều khiển tự động để đảm bảo các thông số công nghệ về nhiệt độ lên men, chế độ thông khí, mật độ vi sinh, chế độ thanh trùng… Các chủng vi khuẩn lên men sữa chua của các Công ty khác nhau là khác nhau và chủ yếu được nhập khẩu để tạo ra các hương vị sản phẩm mang tính riêng biệt
Thị trường:
Sau khi đi ngang về tăng trưởng trong các năm 2011 và 2012 thì đến năm 2013, doanh thu toàn ngành đã bắt đầu tăng mạnh “Tốc độ tăng trưởng của ngành năm sau cao hơn năm trước, bình quân tăng 17%/năm trong giai đoạn 2011-2015: năm 2015, tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 92.000 tỷ đồng, tăng trưởng 22,7% so với năm trước, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2010”7 Là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao,cung nhu cầu phát triển chiều cao, thị trường sữa tại Việt Nam luôn được đánh giá
là có tiềm năng lớn
2.1.3 Phát triển các loại sữa hạt tại Việt Nam
“Tại Việt Nam, dù chỉ mới bắt đầu rộ lên trong 5 năm trở lại đây nhưng nhóm sản phẩm này có những tăng trưởng tích cực trong cả cung và cầu “Sữa hạt” đứng thứ
ba trong top các chủ đề được thảo luận nổi bật nhất về việc ăn uống lành mạnh năm
2017 tại Việt Nam (Theo YouNet Media).”