1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN đề cơ bản của TRIẾT học NHẬN THỨC của bản THÂN về VAI TRÒ của TRIẾT học TRONG đời SỐNG

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 348,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT

TIỂU LUẬN

VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ

VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG

Sinh viên thực hiện MSSV

………

………

………

………

GVHD: ………

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học, mặt khác nó cũng là là tiêu chuẩn để xác lập trường thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ Ăngghen cũng đã trả lời cho câu hỏi “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”, theo ông: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” Vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

Mặt thứ nhất, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc giải hai mặt cơ bản của triết học là xuất phát điểm của các trường phái triết học Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã xuất hiện nhất nguyên luận khi lấy việc thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyết định cái kia, nghĩa là cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất Nhất nguyên luận bao gồm nhất nguyên luận duy tâm (chủ nghĩa duy tâm, triết học duy tâm)

và nhất nguyên luận duy vật (chủ nghĩa duy vật, triết học duy vật)

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này Tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu về: “Vấn

đề cơ bản của triết học và nhận thức của bản thân về vai trò của triết học trong đời sống”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu vấn đề cơ bản của triết học và nhận thức của bản thân về vai trò của triết học trong đời sống

Để đạt được mục tiêu trên, tiểu luận tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ vấn đề cơ bản của triết học

- Trình bày nhận thức của bản thân về vai trò của triết học trong đời sống

3 Phương pháp thực hiện đề tài

Trang 3

Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử - logic, phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch

NỘI DUNG

Trang 4

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1.1.Khái niệm và nhiệm vụ của triết học

1.1.1 Khái niệm triết học

Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên,

đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của

nó vào tính duy lý trong việc lập luận

Trong tiếng Anh, từ "philosophy" (triết học) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia), có nghĩa là "tình yêu đối với sự thông thái"

1.2 Vấn đề cơ bản của triết học

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm lý luận về vấn đề cơ bản của triết

học

Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội,

đó là sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức, đồng thời thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động

Mặt khác, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cũng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân Đại biểu là Gióocgiơ Béccli ông là nhà triết học duy tâm chủ quan, vị linh mục người Anh

Triết học của ông chứa đầy tư tưởng thần bí, đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần Ông dựa vào quan điểm của các nhà duy danh luận thời trung cổ để khẳng

Trang 5

định rằng, khái niệm về vật chất không tồn tại khách quan, mà chỉ tồn tại những vật thể

cụ thể, riêng rẽ; sự tranh cãi về khái niệm vật chất là hoàn toàn vô ích, khái niệm đó chỉ

là cái tên gọi thuần tuý mà thôi

Vậy đối với triết học Béccli thì các vật thể cụ thể cảm tính được hiểu như thế nào? Với tính cách một nhà triết học duy tâm chủ quan, ông đưa ra một mệnh đề triết học nổi tiếng “vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của các cảm giác” Thí dụ, cái bàn,

đó không phải là một vật thể hữu hình mà chỉ là do mắt ta nhìn thấy nó có hình khối; màu sắc, hương vị của hoa quả cũng chỉ do cảm giác của con người nhận biết

Chúng không tồn tại thật Nói tóm lại, theo Béccli, mọi vật thể chỉ tồn tại trong chừng mực mà người ta cảm biết được chúng Ông tuyên bố: tồn tại có nghĩa là được cảm biết Như vậy chủ nghĩa duy tâm chủ quan cuối cùng đã đưa triết học của Béccli đến chủ nghĩa duy ngã, đến chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan, tồn tại thật sự của sự vật, kể cả con người, chỉ loại trừ chủ thể đang nhận thức (tức con người có cảm giác), loại trừ cái “tôi” mà thôi Để cố gắng tránh rơi vào chủ nghĩa duy ngã đầy phi lí, Béccli

đã chuyển từ chủ nghĩa chủ nghĩa duy tâm chủ quan sang chủ nghĩa duy tâm khách quan

Ông khẳng định rằng: chủ thể nhận thức thì không phải chỉ có một, khi một vật nào đó khi không còn nhận thức bởi một chủ thể này thì nó lại tiếp tục được nhận thức bởi các chủ thể khác Và thậm chí tất cả các chủ thể (con người) không còn nữa thì vật thể vẫn tồn tại như là tổng số tư tưởng trong trí tuệ Thượng đế Và Thượng đế cũng là một chủ thể, nhưng tồn tại vĩnh cữu và luôn luôn đưa vào trong ý thức những chủ thể riêng lẻ (con người) nội dung của cảm giác

Về bản chất giai cấp, triết học Béccli là phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp tư sản

đã giành được chính quyền, rất sợ tư tưởng tiến bộ, cách mạng Vì vậy không phải ngẫu nhiên trong triết học của mình, Béccli đã sử dụng phép siêu hình, chủ nghĩa cơ giới để chống lại những tư tưởng tiến bộ trong khoa học, như chống lại quan niệm của Niutơn

về không gian như bể chứa những vật thể trong tự nhiên; chống lại luận điểm của Lốccơ

về nguồn gốc của khái niệm vật chất và không gian Do vậy, triết học của Béccli là mẫu mực và là một trong những nguồn gốc của các lí thuyết triết học tư sản duy tâm chủ quan cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX

Chủ nghĩa duy tâm khách quan - thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ý thức những tinh thần, ý thức ấy được quan niệm là tinh thần khách quan, ý thức khách quan

Trang 6

có trước và và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người Thực thể tinh thần, ý thức khách quan này thường được mang các tên gọi khác nhau như “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần tuyệt đối”, “lí tính thế giới” Đại biểu là Platôn (427- 347 TCN) ông là nhà triết học duy tâm khách quan Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là “học thuyết về ý niệm”

Trong thuyết này, Platôn đưa ra quan điểm về hai thế giới: thế giới các sự vật cảm biến là không chân thực, không đúng đắn, vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, luôn luôn thay đổi, vận động, trong chúng không có cái gì bền vững, ổn định, hoàn thiện Còn thế giới ý niệm là thế giới của cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực sự cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sự vật cảm biến của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm

Thế ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy là bằng nhau vì trong đầu ta

đã có sẵn ý về sự bằng nhau Từ quan niệm trên, Platôn đưa ra khái niệm “tồn tại” và không “tồn tại” “Tồn tại” theo ông là cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệ siêu nhiên, là cái có tính thứ nhất

Còn “không tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất Như vậy, học thuyết về ý niệm và tồn tại của Platôn mang tính chất khách quan rõ nét

Lí luận nhận thức của Platôn cũng có tính chất duy tâm Theo ông tri thức, là cái có trước sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận các sự vật đó

Nhận thức cảm tính có sau nhận thức lý tính, vì linh hồn trước khi nhập vào thể xác con người ở trần thế thì ở thế giới bên kia đã có sẵn các tri thức Do vậy nhận thức con người không phải phản ánh các sự vật của thế giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã lãng quên trong quá khứ Platôn cho rằng, những ý kiến xác thực được khơi dậy, được hồi tưởng lại nhờ các câu hỏi đối thoại giữa loài người thì sẽ trở thành tri thức; Platôn gọi cách thức đối thoại như vậy là phương pháp biện chứng

1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lý luận về vấn đề cơ bản của triết

học

Trang 7

Ngược lại với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất là cái có trước và quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử Nó là kết quả của quá trình đúc kết khái quát kinh nghiệm

đề vừa phản ánh những thành tựu mà con người đã đạt được trong từng giai đoạn lịch

sử, vừa định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ hoạt động trên nền tảng của những thành tựu ấy

Chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều

có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân

tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đa nguyên Xét các giải thích đặc biệt cho thực tại hiện tượng, chủ nghĩa duy vật đứng ở vị trí đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa duy vật đã trải qua 3 giai đoạn cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật chất phác ra đời vào thời cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp Hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật thể hiện khá rõ ở các nhà triết học từ thế kỷ

XV đến thế kỷ XVIII Tuy những quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình có tính chất kế thừa từ những quan điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác nhưng nó có sự phát triển hơn do cơ học cổ điển thời kỳ này đạt được những thành tựu rực rỡ Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã ra đời mà C.Mác và Ăngghen

là những người xây dựng và Lênin là người hoàn thiện và bổ sung

Ăngghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà triết học Hy lạp thời cổ, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Héraclite: mọi vật đều tồn tại nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều

Trang 8

luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến đi” Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là đúng đắn nhưng mang tính ngây thơ chất phác vì chủ yếu dựa vào quan sát trực tiếp, chưa dựa vào các thành tựu của các bộ môn khoa học chuyên ngành vì lúc

đó chưa phát triển Tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật cổ đại còn gọi là chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ là Đêmôcrít (460 – 370 TCN)

Ông là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại Ông là người hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo đức học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triển quan điểm của Lơxip Nổi bật trong triết học duy vật của ông là học thuyết về nguyên tử Đêmôcrit cho rằng nguyên tử không nhìn thấy được, không âm thanh, màu sắc và mùi vị Chúng đồng nhất với nhau về chất nhưng khác nhau

về hình thức, thứ tự và tư thế Ông quan niệm nguyên tử là vô hạn về lượng và hình thức Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợp giữa chúng với nhau theo một trật tự và thế nhất định

Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên tử tạo thành còn bản thân nguyên tử thì không thay đổi Nguyên tử luôn vận động trong không gian ông thấy rõ quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và vận động Vận động là vốn có của nguyên tử chứ không phải được đưa từ ngoài vào Nhưng ông chưa thấy được nguồn gốc của vận động và vận động không chỉ là sự di chuyển trong chân không của các nguyên tử Dựa vào thuyết nguyên tử, Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy luật nhân quả tính khách quan trong tính tất yếu của sự vật, hiện tượng tự nhiên

Đó là đóng góp quan trọng của Đêmôcrit cho triết học duy vật Song ông lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ông coi ngẫu nhiên là một hiện tượng không có nguyên nhân Đêmôcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và con người của thần thánh Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên Sinh vật đầu tiên sống ở dưới nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con người được

ra đời Ông coi cái chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tử cấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh hồn rời khỏi thể xác Tuy quan niệm của Đêmôcrit còn mang tính mộc mạc song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và tôn giáo về tính bất tử của linh hồn người

Đêmôcrit đã có công lao to lớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác là điểm khởi đầu của

Trang 9

nhận thức và tư duy trong việc nhận thức thế giới Hình thức cơ bản cuối cùng của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng đại biểu là Mác, Ăngghen, Lênin Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác – Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII và nó đã thể hiện được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật khoa học và phương pháp nhận thức khoa học

Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực đó Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng

và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học

Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội

và tư duy Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý luận về thế giới quan Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp luận Triết học Mác – Lênin còn được coi là hệ thống các nguyên lý, phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng nó trong việc nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu con người Cho nên triết học Mác – Lênin còn được gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Nghiên cứu triết học Mác – Lênin thực chất là việc khẳng định ý nghĩa bước ngoặt cách mạng do Mác thực hiện trong lịch sử triết học và được Lênin bổ sung phát triển thêm

Triết học Mác – Lênin không chỉ giải thích về thế giới vật chất và vai trò con người về mặt lí luận mà chủ yếu là sự vận dụng nó trong hoạt động thực tiễn xã hội để khẳng định vai trò của triết học đối với đời sống xã hội Sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin đã bao hàm sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoa học Sự hình thành những quan điểm duy vật lịch sử của

Trang 10

triết học Mác – Lênin được coi là cơ sở lí luận về mặt thế giới quan duy vật và phương pháp luận khoa học để nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu con người Đó cũng là việc khẳng định sản xuất vật chất được coi là cơ sở đối với sự tồn tại, vận động phát triển của xã hội, khẳng định con người là chủ thể của lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo chân chính của lịch sử, đồng thời nhấn mạnh vai trò quyết định tồn tại của xã hội, ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

Triết học Mác – Lênin giải quyết mối quan hệ triết học và khoa học hiện đại trên

cơ sở nghiên cứu của triết học Song, nó cũng là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân thế giới, là cơ sở lí luận cho sự hoạt động của đảng cộng sản trong quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới, và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Như vậy, trong triết học Mác - Lênin, thế giới quan và phương pháp luận thống nhất hữu cơ với nhau, làm cho triết học Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hoàn bị, một "công cụ nhận thức vĩ đại" Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học

Trả lời mặt thứ nhất của “vấn đề cơ bản của triết học là gì” cũng đã xuất hiện nhị nguyên luận khi lấy việc thừa nhận vật chất và ý thức là hai nguyên thể song song tồn tại, không có cái nào trước, chúng là hai nguồn gốc tạo nên thế giới, mà Đêcáctơ (1596-1650) là một nhà khoa học, đồng thời là một nhà triết học lớn của Pháp và châu âu Ông được đánh giá là một trong những người sáng lập nên nền triết học của thời đại mới chống lại tôn giáo, chống lại chủ nghĩa kinh viện và cũng xây dựng tư duy mới giúp cho việc nghiên cứu khoa học-đề ra phương pháp mới trong vấn đề nhận thức:”phương pháp thực nghiệm”(emperism)

CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN VỀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC

TRONG ĐỜI SỐNG

2.1.Hình thành thế giới quan khoa học trong nhân cách sinh viên

Ngày đăng: 22/09/2022, 23:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w