1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

scribfree.com_la-thi-thu-trang-47-01-608-146-quan-he-quoc-te-dong-nam-a-tu-sau-chien-tranh-the-gioi-thu-2-den-nay

25 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Campuchia, chúng tàn sát trong các trại giam, nhà tù hay thậm chí trong các trường học, nhà chùa… Cả đất nước Campuchia từ sau ngày 17/4/1975 đến trước ngày 7/1/1979 chìm trong loạn l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***

Tiểu luận cuối kỳ

Đề tài: Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia

(1975 – 1989)

Họ và tên: Lã Thị Thu Trang MSSV: 47.01.608.146 Lớp học phần: Quan hệ quốc tế Đông Nam Á từ sau chiến tranh

thế giới thứ hai đến nay – 2121HIST107103 Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Phụng Hoàng.

TP HCM, ngày 14 tháng 6 năm 2022

Mục lục

Trang 2

Chương I Bối cảnh khu vực Đông Dương trước cuộc chiến tranh 5

1 Tình hình Đảng phái tại Campuchia 5

2 Tình hình chính phủ Campuchia 5

Chương II Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh 8

Chương III Diễn biến cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (1975 – 1989) 10

1 Giai đoạn một ( 30/4/1977 – 05/01/1978) của chiến tranh biên giới Tây Nam 11 2 Giai đoạn 2 ( 06/01/1978 – 07/01/1979) 16

3 Giai đoạn ba (1979 – 1989) 21

Chương IV Kết quả cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 24

Trang 3

Lời mở đầu

Thảm họa diệt chủng ở Campuchia xuất hiện sau năm 1975, là hiện tượng chưa từng có trong khu vực Đông Nam Á thời hiện đại Quân do Pol Pot, Ieng Sary cầm quyền trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày (1975-1979), đã giết hại hơn

2 triệu người dân Campuchia (tương đương 25% dân số đất nước).

Sự dã man tàn bạo của các đồ tể Angkar do Pol Pot – Ieng Sary lập ra không thua kém Gestapo – tổ chức cảnh sát bí mật do Đức Quốc xã lập ra và đội quân hung bạo người Hutu ở Rwanda Chúng đều giết người không chỉ thông dụng bằng cách bỏ đói, khát, bắt lao động kiệt sức, hoặc xử bắn hàng loạt, dùng chất

nổ, súng máy, hơi ngạt, mà còn có cách dã man như thời Trung cổ: Dùng cuốc, mai, xẻng, dao rựa, dùi cui đánh đến chết Ở Campuchia, chúng tàn sát trong các trại giam, nhà tù hay thậm chí trong các trường học, nhà chùa…

Cả đất nước Campuchia từ sau ngày 17/4/1975 đến trước ngày 7/1/1979 chìm trong loạn lạc đẫm máu, khi chính quyền do Pol Pot – Ieng Sary cầm đầu, xóa bỏ tận gốc mọi cơ sở xã hội khi xây dựng “nhà nước mới” không chợ, không tiền, không trường học, không đô thị, không trí thức, không tôn giáo – một xã hội nông nghiệp không tưởng với mô hình nhà nước kỳ dị cưỡng bức nhân dân từ đô thị về nông thôn, dồn dân vào sâu trong nội địa… Quyền lực tối cao của “Campuchia dân chủ” tập trung v ào năm “nhân vật”: Pol Pot, Noun Chea, Ieng Sary, Khieu Samphan, Ta Mok Chúng đẩy dân tộc Campuchia vào thảm họa diệt chủng tàn khốc; mở nhiều đợt thanh trừng tàn bạo những thành phần chống đối, kể cả trong quân đội; gây xáo trộn và mâu thuẫn nội bộ gay gắt Hàng chục vạn người Campuchia, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên phải tìm cách chạy trốn sang Việt Nam.

Không chỉ mất nhân tính khi thực hiện diệt chủng chính đồng loại mình, tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary còn xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ Việt Nam, gây ra nhiều tội ác theo lối diệt chủng đối với nhân dân Việt Nam Chúng khiêu khích

và nhiều lần gây xung đột quân sự trên các vùng biên giới Việt Nam, tiến tới

Trang 4

việc phát động cuộc chiến tranh đẫm máu sang toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam

Trang 5

Chương I Bối cảnh khu vực Đông Dương trước cuộc chiến tranh

1 Tình hình Đảng phái tại Campuchia

Năm 1951, Đảng Cộng Sản Đông Dương tách ra làm 3 Đảng riêng biệt của 3 nướcĐông Dương Trong đó có Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Khmer củaCampuchia thành lập tại Việt Bắc do Sơn Ngọc Minh giữ chức nguyên Chủ tịch Đảngcùng một nhân vật quan trọng khác trong Đảng này là Tou Samouth Năm 1954, khiPháp rút khỏi Đông Dương, Sơn Ngọc Minh ở lại miền Bắc Việt Nam, tuy ở Hà Nộinhưng ông vẫn là nhân vật cao cấp và có ảnh hưởng lớn trong Đảng này Còn TouSamouth trở về Campuchia, đưa Đảng của mình vào hoạt động bí mật để tránh bịSihanouk truy quét Năm 1960, Đại hội II của Đảng NDCM Khmer bầu Tou Samouthlên chức Tổng bí thư cùng ban thường vụ gồm có: Nuon Chea, Pol Pot, Keo Meas,Ieng Sary Năm 1963, sau khi từ Hà Nội về, Tou Samouth mất tích và bị nghi là dochính quyền của Pol Pot sát hại Sau đó Pol Pot lên làm Tổng bí thư đổi tên Đảngthành Đảng cộng sản Khmer (được biết đến nhiều nhất với cái tên Khmer Đỏ) vàonăm 1966 Từ đó, Pol Pot nắm quyền kiểm soát trung ương Đảng và loại bỏ các thànhphần thân Việt Nam

2 Tình hình chính phủ Campuchia

Sau khi Hội nghị Geneva kết thúc (1954), Sihanouk – nhà lãnh đạo Vương quốcCampuchia – đã cố gắng theo đuổi đường lối đối ngoại trung lập vừa để tránh bị lôivào cuộc Chiến tranh đang hoành hành ở Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thếgiới, vừa nhằm tranh thủ sự viện trợ của các đại cường đối nghịch nhau, vốn rất cầncho công cuộc tái thiết và phát triển đất nước thời hậu chiến

Nhưng kể từ giữa thập niên 1960, khi người Mĩ khởi sự cuộc chiến tranh can thiệp ởmiền Nam Việt Nam, chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia dần trở nên khókhăn khi Quốc vương Sihanouk phải cân bằng giữa VNDCCH và Hoa Kỳ Đây cũng

là thời điểm đường lối đối nội của Sihanouk phải đối mặt với làn sóng bất mãn ở cảthành thị lẫn nông thôn, trong nhiều tầng lớp xã hội: nông dân, người dân lao độngthành thị, trí thức và cả quân đội, phát sinh từ những khó khăn ngày một lớn trongnước Không tìm được biện pháp khắc phục, các khó khăn chồng chất cả về đối ngoạilẫn đối nội đã đưa đến kết cục quen thuộc trong vùng Đông Nam Á thời hậu chiến:Sihanouk bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự do Lon Nol dẫn đầu (1970)

Trang 6

Campuchia ngay lập tức bị cuốn hút vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ haiđang trong thời cao điểm ở các xứ láng giềng Việt Nam và Lào Được sự trợ giúp củachính phủ CHND Trung Hoa và chính phủ VNDCCH, Sihanouk đã tiến hành cuộcchiến đấu vũ trang chống chính phủ Lon Nol được Hoa Kì và VNCH ủng hộ Cuộcnội chiến kết thúc năm 1975 bằng thắng lợi của Mặt trận Thống nhất Dân tộcCampuchia, nhưng quyền lực lại rơi vào tay Khmer Đỏ, lực lượng giữ vai trò nòng cốttrong Mặt trận

Trên thực tế, Khmer Đỏ đã biến Hoàng thân Sihanouk thành bù nhìn, lợi dụng danhtiếng của ông để mở rộng quyền lực và ảnh hưởng đến nhân dân Campuchia Nhữngngười Campuchia tham gia vào lực lượng Khmer Đỏ dể chống lại chính phủ của LonNol nghĩ rằng họ đang chiến đấu cho sự trở lại của Sihanouk Ngoài ra, các chiến dịchném bom xuống Đông Bắc Campuchia của Hoa Kỳ cũng khiến người dân càng ủng hộchính quyền Khmer Đỏ Tất cả những yếu tố thuận lợi đó đã giúp chính quyền Khmer

Đỏ từ 12.570 quân tăng lên hơn 40.000 người trong năm 1972 Trong thời gian này,quân Khmer Đỏ bắt đầu xa lánh Sihanouk và những người ủng hộ mình, bắt đầu tậpthể hóa nông nghiệp tại các vùng giải phóng, Đảng cộng sản Khmer ngày một mạnhhơn cũng như độc lập hơn khỏi quyền kiểm soát của người Việt và bắt đầu quá trìnhcực đoan của mình trên toàn quốc Sau khi hiệp định Paris được kí kết tháng 1-1973,đội quân của Lon Nol do Hoa Kỳ viện trợ cũng đơn phương tuyên bố ngừng bắn Lúcnày, miền Bắc Việt Nam ngưng cung cấp vũ khí cho quân Khmer Đỏ với hy vọng qua

đó buộc họ phải chấp nhận ngừng bắn Nhưng Khmer Đỏ vẫn làm ngơ và tiếp tụchàng loạt trận đánh lớn chống lại chính phủ Quyền lãnh đạo lúc này đã rơi vào taynhững tên cuồng tín nhất là Pol Pot và Son Sen, chúng nhanh chóng tiến hành cuộcthanh trừng nội bộ, giết hại phần lớn các thành viên do Hà Nội huấn luyện Cuối năm

1973, người Campuchia bắt đầu nhận rõ sự cuồng tín, coi rẻ sinh mạng con người củaKhmer Đỏ

Cuối tháng 3-1975, sau một thời gian vây hãm thủ đô, quân Khmer Đỏ tiến hànhchiếm đánh Phnom Penh Thành phố này trước kia có dân số khoảng 600 ngàn người

đã phải tiếp nhận những dân tị nạn do chiến tranh nên lên tới mức 2 triệu người, điềukiện sống ngày càng trở nên tồi tệ Ngày 1-4, Lon Nol từ chức và rời khỏi Campuchia,ngày 12-4 Hoa Kỳ sơ tán hết nhân viên của mình bằng trực thăng, đến 17-4 quân

Trang 7

chính phủ phải đầu hàng Cuộc nội chiến Campuchia chính thức kết thúc nhưng cơn

ác mộng Khmer Đỏ chỉ mới bắt đầu

Trang 8

Chương II Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh

Từ những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1970 – 1975), quân Pol Pot đã tiếnhành nhiều cuộc tấn công, bắt cóc bộ đội Việt Nam hoạt động trên chiến trườngCampuchia Tính đến tháng 6 năm 1973, quân Pol Pot đã gây ra 102 vụ sát hại làm bịthương 103 bộ đội Việt Nam, cướp hàng chục tấn lương thực và vũ khí của quân đội

ta Sau khi lên năm quyền vào tháng 4 – 1975, quân Pol Pot đã phản bội lại sự nghiệpcách mạng của nhân dân Campuchia đồng thời phá hoại tình đoàn kết, hữu nghị giữa 2nước, cụ thể là:

Đối với trong nước, quân Pol Pot thực thi chính sách diệt chủng tàn khốc, cưỡng bức

lao động khổ sai, tra tấn dã man người dân Campuchia; biến nhà tù, trường học, bệnhviện, nhà chùa, thành nơi hành quyết, mồ chôn xác tập thể Từ tháng 4 – 1975 đếncuối năm 1978, chế độ Pol Pot đã giết hại hơn 2 triệu người dân Campuchia vô tội,xóa bỏ các cơ sở xã hội, xóa bỏ thành thị, xóa bỏ sản xuất công nghiệp và thủ côngnghiệp, xóa bỏ quan hệ tiền tệ buôn bán, với mục tiêu biến Campuchia thành mộtnước nông nghiệp, đẩy Campuchia đến bờ vực diệt vong

Đối với Việt Nam, được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn, tập đoàn Pol Pot

chủ trương phá hoại quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai nước; Trước hànhđộng khiêu khích, xâm phạm biên giới Tây Nam Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luônmong muốn Việt Nam và Campuchia đàm phán ký kết hiệp định giữa hai nước trêntinh thần tôn trọng chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, tiếp tục phát triển tình đoànkết giữa hai nước Nhưng bất chấp mọi nỗ lực ngoại giao hòa bình của Việt Nam, tậpđoàn Pol Pot ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, chủ động gây ra các vụ xâm lấnbiên giới Đi đến đâu, chúng cũng tàn phá làng mạc, giết hại dã man người dân, kể cảngười già, phụ nữ và trẻ em Việt Nam

Từ đó, nước ta dù chỉ mới thống nhất năm 1975, đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặttrận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dânViệt Nam buộc phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tanhành động xâm lược của kẻ thù, bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc và giúp đỡ nhữngngười cách mạng chân chính Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot

Trang 9

Chương III Diễn biến cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (1975 –

1989)Ngay khi Việt Nam vừa tống nhất năm 1975, Pol Pot đã cho quân xâm lược các biểnđảo, biên giới, đất liền Tây Nam nước ta cùng nhiều hành động khiêu khích khác như

ra sức tuyên truyền, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động tâm lí chống Việt Nam, coiViệt Nam là kẻ thù số một

Trong 2 năm từ 30/4/1975 đến 30/4/1977, Pol Pot đã ráo riết chuẩn bị cho chiến tranhvới Việt Nam với sự giúp đỡ của CHND Trung Hoa Tháng 3 và 4 năm 1977, Pol Pot

mở các cuộc diễn tập dọc biên giới, giáp nước ta dưới danh nghĩa phòng thủ khu vực,bảo đảm an ninh nội địa, thực chất đó là các cuộc điều quân ra biên giới

Đêm 30/4/1977, nhân lúc quân dân ta kỷ niệm 2 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam,thống nhất đất nước, quân Pol Pot điều động 5 sư đoàn, hàng trăm khẩu pháo và nhiều

xe tăng thiết giáp đến vùng biên giới Việt Nam, thực hiện âm mưu xâm lược quy môlớn vào vùng biên giới lãnh thổ Tây Nam nước ta

Trang 10

1 Giai đoạn một ( 30/4/1977 – 05/01/1978) của chiến tranh biên giới Tây Nam.

Hình 1 Bản đồ miền Nam Việt Nam

Ngày 30/4/1977, quân Pol Pot đánh vào 14 trong 16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang,tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất, những nơi đông dân cư ở sát biêngiới và sâu trong lãnh thổ Việt Nam Các cuộc tiến công và pháo kích của quân PônPốt đã khiến An Giang chìm trong bể máu

Hình 2 Làng mạc ngay biên giới Tây Nam chỉ còn là đống đổ nát

Trang 11

Tính đến ngày 19/5/1977, quân Pôn Pốt đã giết chết 222 người và làm 614 người dânViệt Nam bị thương, phá nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân…

Hình 3 Nhà cửa của người dân tại biên giới Việt Nam đổ nát sau sự tấn công của quân Pol Pot

Trước hành động xâm lược trắng trợn, giết dân thường dã man của quân Pôn Pốt, cáclực lượng biên phòng và dân quân, du kích các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Gia, NhânHưng… đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn địch Quân đội Việt Nam đã sử dụng trungđoàn (thuộc Sư đoàn 301), 1 trung đoàn tàu thuyền và 2 tiểu đoàn địa phương AnGiang đánh trả, diệt 300 tên, buộc quân Pôn Pốt rút về bên kia biên giới

Trang 12

Hình 4 Xác người do quân Pol Pot giết được quấn lại bằng khăn

Hình 5 Một em bé được băng bó sau những vết chém bằng dao của quân Pol Pot

Từ ngày 25/9/1977, quân Pol Pot tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địaphương mở cuộc tiến công lớn thứ hai sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang,

Trang 13

Long An, Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân ViệtNam Riêng ở ba xã thuộc các huyện Tân Biên, Bến Cầu (Tây Ninh), quân Pol Pot đãtàn sát trên 1.000 người dân

Ngày 15/11/1977, quân Pol Pot mở cuộc tiến công mới nhằm đánh chiếm thị xã TâyNinh

Ngày 5/12/1977 đến 05/01/1978, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 và Quân khu 7, Quân khu

9 tập trung 8 sư đoàn mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1, đường 2,truy kích quân Pôn Pốt sâu vào đất Campuchia 20 – 30 km; đánh thiệt hại 5 sư đoàn,làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch

Sau đó, tập đoàn Pol Pot thực hiện thủ đoạn “vừa ăn cướp, vừa la làng”, đưa chiếntranh biên giới Tây Nam ra trước dư luận thế giới, vu khống Quân đội Việt Nam xâmlược Campuchia nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế

Ngày 31/12/1977, để đáp trả lại, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về vấn đề biên giớiViệt Nam – Campuchia, nêu rõ lập trường và nguyên tắc của ta là: Kiên quyết bảo vệđộc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mình; luôn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia; vạch trần âm mưu thủ đoạn và những tội ác man

rợ của tập đoàn Pol Pot đối với đồng bào ta ở các tỉnh vùng biên giới Tây Nam

Tuy nhiên, nỗ lực của ta không được Pol Pot chấp thuận, chúng tiếp tục phát độngchiến tranh biên giới vào Tây Bắc nước ta

Trang 14

Bộ Tổng Tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu

9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giớiTây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhànước ta thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao

Ngày 05/01/1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố

ba điểm:

 Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km;

 Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biêngiới;

 Thỏa thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sátquốc tế

Phớt lờ thiện chí và các nỗ lực ngoại giao của ta, quân Pol Pot tiếp tục huy động lựclượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nướcta; lực lượng của ta đã kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm

Từ ngày 26/3/1978, các đơn vị của Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân PolPot lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó Đòn phản côngquyết liệt của Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩyquân Pol Pot vào tình thế khó khăn và tác động lớn đến hình hình chính trị nội bộCampuchia, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của các lực lượng cáchmạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26/5/1978 ở Quân khuĐông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pol Pot

Trang 15

Lực lượng cách mạng Campuchia dần lập được những khu căn cứ du kích có điềukiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần Việt Nam, từng bước hìnhthành sự chỉ đạo thống nhất.

Nổi tiếng trong các cuộc tàn sát của quân Pol Pot là sự kiện thảm sát Ba Chúc Ngày18/04/1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc – một thị trấn trong tỉnh An Giang -thẳng tay chém giết những người dân vô tội Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai, TamBửu và chạy lên núi Tượng nhằm ẩn náu, song cũng bị quân Khmer Đỏ tàn sát dãman Trong 12 ngày chiếm đóng, chúng đã giết chết 3.157 thường dân, chỉ có 3 ngườisống sót sau vụ tàn sát ấy

Quân Pol Pot tiếp tục đánh sâu vào Ba Chúc thành hai ngả: Một cánh quân chiếm xã

An Lập phía Đông Ba Chúc, một cánh chiếm ấp An Bình dưới chân núi dài Quân PolPot bao vây cả làng, chặn đứng mọi nẻo đường, tràn vào từng nhà dân đốt phá, cướpsạch tiền vàng, giết hại trâu bò Dã man hơn, chúng dồn bà con thành những nhóm lớntrên cánh đồng hoặc bương nước rồi dùng gậy gộc, búa, lưỡi lê đâm, đập cho vỡ sọ.Phụ nữ thì bị hãm hiếp rồi mới giết

Hình 6 Những ngấn máu loang lổ - dấu vết của cuộc thảm sát 40 năm trước vẫn in hằn lên bức tường nơi hậu điện của

chùa Phi Lai

Ngày đăng: 22/09/2022, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w