Hệ thống công trình thủy lợi Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình.. 1.2.2
Trang 1’’’’’’’’’’’’’’’’’’
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
………
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy /cô - PGS.TS
……… - là người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành Luận văn này Xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Sau đại học, tập thể giảng viên, cán bộ, nhân viên Khoa Sau đại học, cùng toàn thể bạn
bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ ngành thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu
và những thông tin cần thiết liên quan Cảm ơn gia đình, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
………
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG SẢN
PHẨM DỊCH VỤ CÔNG ÍCH THỦY LỢI
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi
Thủy lợi được hiểu là những hoạt động liên quan đến ý thức con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước để phục vụ lợi ích của mình Những biện pháp khai thác nước bao gồm khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy
Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định
1.1.2 Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi
Quản lý công trình thuỷ lợi là quá trình điều hành hệ thống công trình thuỷ lợi theo một cơ chế phù hợp, bao gồm công tác kế hoạch hoá, điều hành bộ máy, quản
lý vận hành, duy tu công trình, quản lý tài sản và tài chính
Khai thác công trình thuỷ lợi là quá trình sử dụng công trình thuỷ lợi vào phục vụ điều hoà nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh, xã hội
Quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi có quan hệ mật thiết với nhau: quản
lý tốt là điều kiện để khai thác tốt Khai thác tốt góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý công trình thuỷ lợi
Trang 6Một hệ thống công trình thuỷ lợi sau khi xây dựng xong cần thiết lập một hệ thống quản lý để khai thác phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sự phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội Hệ thống quản lý là tập hợp và phối hợp theo không gian và thời gian của tất cả các yếu tố như: hệ thống công trình, trang thiết
bị, con người và các yếu tố chính trị - xã hội… mục tiêu để phục vụ tốt ba nhiệm
vụ đó là: (i) quản lý công trình, (ii) quản lý nước và (iii) quản lý sản xuất kinh doanh
1.2 Tổng quan về quản lý khai thác và chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi ở nước ta
1.2.1 Hiện trạng hệ thống thủy lợi tưới ở nước ta
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ
hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh Tuy các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
- Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động
và chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống
- Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý,cơ chế tài chính
- Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặc biệt quản lý các hệ thống thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn chưa rõ ràng
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thuỷ lợi đã nhằm mục tiêu bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất và đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển tất cả các ngành kinh tế
xã hội Sự nghiệp phát triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần
Trang 7vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Về Tưới tiêu, cấp thoát nước : Đến nay cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn,
800 hồ đập loại lớn và vừa, hơn 3.500 hố có dung tích trên 1 triệu m3 nước và đập cao trên 10 m, hơn 5.000 cống tưới- tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các
hệ thống có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì
Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :
(i)Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ
Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập
đâng, hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác
Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037
ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn 30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống
sông Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong
đó có 399 km đê sông, 194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển + cửa sông
(ii)Vùng Đồng bằng sông Hồng
- Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm
500 cống, 1.700 trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3) và
Trang 8nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện tích tưới thiết kế khoảng 85.000 ha, kết hợp cấp nước sinh hoạt
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều
hoàn chỉnh gồm: 2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310
km đê biển + cửa sông Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ
Hà Nội có mức nước thiết kế +13,4m
(iii)Vùng Bắc Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy
lợi lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ Tổng diện tích tưới thiết kế
là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu
và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng
Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được 35.210 ha)
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và
ven biển đã có đê chống lũ và ngăn sóng, triều Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh có 512 km đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông Đê sông Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P » 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn
và lũ muộn (P » 10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu
(iv)Vùng Duyên hải Nam Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập
dâng, 32 hồ chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106.440 ha
- Phòng tránh bão lũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí
sản xuất tránh lũ chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ thu Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km
Trang 9hè-(v)Vùng Tây Nguyên
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho
34.224 ha lúa Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có
150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có
165 công trình, tưới cho 11.650 ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc
có 476 công trình, tưới cho 9.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng
có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê
- Công trình chống lũ chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê
nhỏ, bờ bao chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ
(vi)Miền Đông Nam bộ
- Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình
lớn lợi dụng tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm Công trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết
kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm Cỏ khoảng 10 m3/s Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km
Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000
m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP Hồ Chí Minh 20.600 m3/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh)
- Phòng chống lũ:
Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng
lưu tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du Ở
hạ du chỉ có một vài tuyến đê nhỏ
(vii)Vùng Đồng bằng sông Cửu long
Trang 10- Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục
và kênh cấp I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 8-40 m, cao trình đáy từ -2,0 ¸ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và 105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để tưới tiêu với năng lực tưới thiết kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha)
- Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng 84m
1.2.2 Tổ chức quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta
Theo số liệu của Cục Thuỷ lợi, hiện nay cả nước có 93 Công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi Các doanh nghiệp
Trang 11KTCTTL thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Một số tỉnh
đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) trong tỉnh như TP.Hà Nội sau khi sáp nhập còn 4 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ và Quản lý, đầu tư thuỷ lợi Hà Nội; tỉnh Hải Dương sát nhập các Công ty KTCTTL huyện thành Công ty KTCTTL tỉnh Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc tách, nhập là do ý chí chủ quan, tuỳ tiện thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn
Việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn chưa thống nhất giữa các địa phương, còn lúng túng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để chuyển đổi cho phù hợp Các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của Nhà nước đang tồn tại, về bản chất hoạt động cơ bản là như nhau, song được khoác nhiều tên gọi khác nhau như: Công ty KTCTTL, Trung tâm khai thác Thuỷ lợi, Ban quản lý công trình thuỷ lợi, Công ty cổ phần Sự khác biệt về tên gọi không
có ý nghĩa nhiều về thực thi chủ trương đa dạng hoá quản lý công trình thuỷ lợi Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm Theo báo cáo của Cục thuỷ lợi, đến nay hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông
Nhiều địa phương chưa thành lập các TCHTDN để quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng ở những hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Lai Châu, Hà Giang, Cà Mâu, Hà Tĩnh ) Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã, trong khi UBND xã và thôn không phải là các TCHTDN Nhiều địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long các tổ thuỷ nông quản lý công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã Các
tổ thuỷ nông này chưa phải là các tổ chức hợp tác dùng nước hoàn chỉnh Việc thực hiện Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương Đối với phần kinh phí cấp cho các
Trang 12doanh nghiệp KTCTTL không có nhiều vướng mắc, tuy nhiên việc triển khai phân
bổ kinh phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước và các đơn vị quản lý KTCTTL không phải là doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc
Thực tiễn phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Đến nay nhiều tỉnh đã thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các địa phương hoặc cho các tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Theo kết qủa điều tra của đề tài có 25 tỉnh đã ban hành quy định (kể cả quy định tạm thời) về phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Từ năm 1996, Tuyên Quang đã thực hiện chuyển giao toàn bộ các công trình thuỷ lợi trong tỉnh cho các TCHTDN Năm 2007 tỉnh Thái Bình là tỉnh đầu tiên đã thực hiện Đề án phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và tổ chức thực hiện chuyển giao các trạm bơm nhỏ trong 1 xã cho các Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) trên quy mô toàn tỉnh Kết quả thực hiện đề án phân cấp quản lý ở Thái Bình [4] là đã chuyển giao được 285 trạm bơm nhỏ quy mô tưới tiêu cho 1 xã cho các HTXNN Kết quả đánh giá ban đầu cho thấy sau khi được chuyển giao cho các HTXNN thì hiệu quả tưới tiêu của các trạm bơm này đã được nâng cao, nhân dân rất phấn khởi, đồng tình với chủ trương phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của tỉnh
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thuỷ lợi phí, quy định miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cả trường hợp công trình thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước Chính sách này quy định các tổ chức được ngân sách cấp, sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí bao gồm cả các công ty KTCTTL, các tổ chức
sự nghiệp và các TCHTDN Đây là chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các TCHTDN Khi thực hiện chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí theo Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ, do được sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí nên một số địa phương đang có xu hướng chuyển giao ngược các công trình thuỷ lợi nhỏ cho Công ty KTCTTL Tỉnh Vĩnh
Trang 13Phúc đang thực hiện thí điểm mô hình tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối theo phương thức: Thực hiện bàn giao toàn bộ các công trình thuỷ lợi trên địa bàn làm thí điểm (kể cả các công trình do các xã, HTXNN quản lý) cho các công ty KTCTTL quản lý phục vụ tưới từ đầu mối tới mặt ruộng [5] Trước mắt, trong năm 2007 đã thực hiện thí điểm mô hình này cho các hệ thống thuỷ lợi của công ty KTCTTL Tam Đảo, Liễn Sơn, Lập Thạch và Mê Linh Hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các mô hình thí điểm tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối này cần được điều tra, đánh giá một cách khách quan để khẳng định sự phù hợp của mô hình
Nhìn chung, các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới cho 1 xã, mức độ quản lý đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập), ranh giới hành chính và mức độ phức tạp về quản lý công trình Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực tế ở các địa phương điều tra được trình bầy tóm tắt ở Bảng 1 và định lượng một số tiêu chí phân cấp quản lý ở các tỉnh điển hình được trình bày ở Bảng 2
Bảng 1 Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
đượ áp dụng ở các tỉnh điều tra
T
T Vùng/tỉnh
Diện tích tưới
Dung tích hồ
Chiều cao đập
Cấp kênh/loại kênh
Ranh giới hành chính
Tính chất phức tạp của công trình
I Vùng miền núi phía Bắc
Trang 15Bảng 2 Định lượng các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô
công trình thuỷ lợi ở các tỉnh điều tra
T
T
Tỉnh
Diện tích tưới (ha)
Dung tích hồ (106
m3)
Chiều cao đập (m)
Cấp kênh/loại kênh
Trang 16Hầu hết các tỉnh đều áp dụng tiêu chí ranh giới hành chính để phân cấp công trình thuỷ lợi Các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm
vi tưới, tiêu cho 1 xã cho các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập) Trong đó, tiêu chí phân cấp quản lý về diện tích tưới là khoảng 30 - 50 ha, dung tích hồ chứa từ 0.5 - 1 triệu m3 và chiều
Trang 17cao đập đất từ 8 -10m Một số tỉnh đã đưa vào tiêu chí về mức độ quản lý phức tạp của công trình như các tỉnh Đắc Lắc, Hà Giang, Tiền Giang, Ninh Thuận Tiêu chí quy mô công trình thuỷ lợi (lớn, vùa và nhỏ) được áp dụng ở các tỉnh như Thái Bình, Ninh Thuận, tuy nhiên chưa xác định tiêu chí cụ thể phân loại các công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ Một số tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh, như tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phòng, trong khi đó tiêu chí loại kênh được áp dụng ở tỉnh Quảng Nam Trong đó, kênh loại 1 là kênh tưới liên huyện, kênh loại 2 là kênh tưới liên xã và kênh loại 3 là kênh tưới trong 1 xã Theo tiêu chí phân loại kênh, tỉnh Quảng Nam
đã phân cấp quản lý kênh loại III cho các HTXNN Nhiều tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh nội đồng cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở Tuy nhiên tiêu chí kênh nội đồng chưa được định lượng cụ thể
Các tồn tại, vướng mắc khi thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi như sau:
- Một số tỉnh chỉ có Công ty KTCTTL tỉnh, mà không thành lập các xí nghiệp khai thác thuỷ lợi huyện (tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang), thực tế cho thấy Công ty cũng chỉ quản lý được các công trình đầu mối, công trình xây đúc, còn toàn bộ hệ thống kênh mương, nhất là các tuyến kênh liên xã không quản lý được, nên hệ thống này không có chủ quản lý đích thực Việc phân công trách nhiệm vận hành, duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình thuỷ lợi giữa các công ty KTCTTL và các TCHTDN không rõ ràng, là nguyên nhân chủ yếu gây nên hiệu quả quản lý thấp ở nhiều hệ thống thuỷ lợi
- Một số tỉnh, đến nay chưa có Công ty KTCTTL cấp tỉnh, nhất là các tỉnh ở vùng miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Nhiều tỉnh miền núi đến nay chỉ thành lập các trạm thuỷ lợi cấp huyện, như tỉnh Lai Châu, Lào Cai….ở tỉnh Đồng Tháp, do chưa có Công ty KTCTTL nên việc quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là do UBND tỉnh, huyện và các Tổ chức hợp tác thực hiện Tỉnh Long An chưa có Công ty KTCTTL cấp tỉnh mà chỉ có các Trạm thuỷ lợi huyện,
do vậy nên gặp khó khăn trong việc quản lý khai thác các công trình, tuyến kênh tưới, tiêu liên huyện Ở một số tỉnh các cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ lợi như
Trang 18Chi cục quản lý thuỷ nông tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu và Chi cục thuỷ lợi tỉnh Cần Thơ thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
- Do thiếu cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính nên mặc dù thấy được hiệu quả song nhiều địa phương vẫn còn dè dặt trong phân giao quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ, kỹ thuật đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước và cá nhân quản
lý
- Một số tỉnh không thực hiện phân cấp quản lý trực tiếp cho các tổ chức hợp tác dùng nước mà phân cấp cho các huyện Nhưng một số huyện không thành lập được các trạm khai thác thuỷ lợi hoặc các tổ chức hợp tác dùng nước, nên huyện tạm thời cử cán bộ của phòng kinh tế huyện quản lý Các phòng kinh tế huyện là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước vừa kết hợp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Hơn nữa, các cán bộ của huyện không đủ nhân lực để quản lý, vận hành các công trình thuỷ lợi, dẫn đến tình trạng thực chất là các công trình thuỷ lợi chưa có chủ quản lý đích thực, không đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công trình thuỷ lợi Ví dụ ở tỉnh Đắc Lắc, UBND tỉnh phân cấp quản lý một số công trình thuỷ lợi nhỏ cho UBND huyện, sau đó UBND huyện giao cho phòng nông nghiệp địa chính hoặc UBND xã quản lý một số công trình dẫn đến không thực sự
có chủ quản lý bởi vì không có người quản lý trực tiếp Một số người được giao nhiệm vụ quản lý công trình này được hưởng chế độ như là công chức do ngân sách huyện hoặc xã trả hoàn toàn không phải tổ chức thu thuỷ lợi phí để có kinh phí quản lý và sửa chữa thường xuyên
- Ở nhiều địa phương, hiện nay các công trình thuỷ lợi nhỏ và các kênh nội đồng (kênh loại III) trong 1 xã vẫn do các Công ty KTCTTL quản lý, ví dụ như ở tỉnh Quảng Nam, Hải Dương, Nghê An Trong khi đó, đối với các công trình thuỷ lợi nhỏ ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Hoà Bình ) về danh nghĩa các Công ty KTCTTL chịu trách nhiệm quản lý công trình đầu mối và tuyến kênh chính còn các tổ chức thuỷ nông cơ sở (thôn, bản) quản lý hệ thống kênh nội đồng, nhưng thực tế các công trình đầu mối và kênh chính cũng do các thôn, bản quản lý vận hành
Trang 19- Các tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện khác nhau ở các địa phương Tiêu chí phân cấp hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô nhỏ, vừa và lớn chưa được thống nhất trong các văn bản pháp quy cũng như trong các báo cáo khoa học Tiêu chí về quy mô công trình thuỷ lợi nội đồng không thống nhất ở các địa phương Tiêu chí phân loại cấp kênh không thống nhất ở các văn bản khác nhau, dẫn đến tình trạng thực hiện phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cùng khác nhau ở các địa phương Có tỉnh phân loại cấp kênh theo tiêu chí kênh chính, kênh nhánh cấp 1, 2,3, kênh nội đồng, trong khi đó có tỉnh phân loại kênh theo tiêu chí kênh loại 1, 2 và 3
- Nhiều tỉnh khuyến khích phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước, nhưng chưa đề ra các tiêu chí cụ thể để thực hiện việc phân cấp quản lý Hầu hết các tỉnh chưa đưa ra tiêu chí phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi đầu mối là các trạm bơm điện hoặc đập dâng nước
1- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất cây lương thực bao gồm: Toàn bộ diện tích giao để sản xuất cây lương thực, bao gồm cả đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất; toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm
có ít nhất một vụ lúa trong năm Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một
vụ lúa trong năm bao gồm đất có quy hoạch, kế hoạch trồng ít nhất một vụ lúa trong năm hoặc diện tích đất có quy hoạch, kế hoạch trồng cây hàng năm nhưng thực tế có trồng ít nhất một vụ lúa trong năm
2- Hộ gia đình, cá nhân nghèo theo quy định được Nhà nước giao sử dụng đất nông nghiệp
Trang 203- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để làm muối
4- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức để trồng rau, màu, mạ; cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày kể cả cây vụ đông; cây ăn quả; hoa; cây dược liệu; nuôi trồng thủy sản (trừ nuôi trồng tại hồ, đập, sông, suối, đầm ); chăn nuôi
5- Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên đã nhận đất trong hạn mức được giao khoán ổn định của công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật
6- Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tiêu, thoát nước khu vực nông thôn và đô thị trừ vùng nội thị
7- Tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ thoát lũ, ngăn lũ, ngăn triều cường, ngăn mặn, đẩy mặn, rửa mặn, rửa phèn, giữ ngọt tại địa bàn
Căn cứ vào thị trường tại thời điểm định giá trong điều kiện thời tiết bình thường, chủ quản lý công trình thủy lợi hoặc tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi thực hiện xây dựng mức giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ do Bộ Tài chính quy định
và theo công thức: mức giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi = giá thành toàn
bộ sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi + lợi nhuận dự kiến (nếu có) + các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có)
Từ đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thẩm định phương án giá và quy định giá tối đa, giá cụ thể sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
Giá thành toàn bộ của sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi bao gồm các chi phí vận hành, chi phí bảo trì, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý và các chi phí thực tế hợp lý khác của toàn tổ chức khai thác công trình thủy lợi theo từng biện pháp tưới tiêu hoặc loại hình sản phẩm, dịch vụ hoặc nội dung công việc Giá tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi giai đoạn 2018 – 2020 trong thời kỳ ổn định ngân sách nhà nước giai đoạn 2017 – 2020 bằng mức giá tối đa đã thực hiện năm 2017
Từ năm 2021 trở đi, căn cứ vào phương pháp định giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi, chủ quản lý công trình thủy lợi hoặc tổ chức, cá nhân khai thác
Trang 21công trình thủy lợi xây dựng phương án giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi theo quy định của Nghị định
Căn cứ tình hình thực tế biến động của các yếu tố hình thành giá và khả năng ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương quy định và thông báo mức giá tối đa sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi cho thời kỳ ổn định ngân sách mới
Nghị định cũng quy định giá và lộ trình thực hiện giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi khác; lập phương án giá và điều chỉnh giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi
và sản phẩm, dịch vụ thủy lợi khác
Theo Nghị định này, hỗ trợ 100% tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất cây lương thực, sử dụng đất để làm muối; hộ gia đình cá nhân nghèo theo quy định được Nhà nước giao sử dụng đất nông nghiệp…
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi
1.3.1 Mô hình quản lý và tổ chức bộ máy
Hiện nay các hệ thống công trình thuỷ lợi được hai cấp quản lý, đó là cấp các công ty Thuỷ lợi (doanh nghiệp nhà nước) và tổ chức thuỷ nông cơ sở (thông qua các tổ chức Hợp tác xã dùng nước, Hội dùng nước, tổ đội thuỷ nông ) Các công ty Thuỷ lợi: Nhà nước thành lập các công ty Thuỷ lợi để quản lý các công trình thuỷ lợi, khai thác, bảo vệ các công trình Các công ty hoạt động công ích tuỳ theo quy mô mà tổ chức thành công ty hay xí nghiệp cho phù hợp Đối với các hệ thống công trình lớn, phục vụ tưới tiêu cho nhiều tỉnh thì tổ chức thành lập công ty Thuỷ lợi liên tỉnh Công ty này có thể trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT hay trực thuộc tỉnh do Bộ uỷ quyền Các hệ thống thuỷ nông có quy mô vừa, phục vụ tưới tiêu cho nhiều huyện và chỉ nằm trong phạm vi một tỉnh thì thành lập công ty Thuỷ lợi tỉnh Còn các hệ thống công trình nhỏ, phục vụ tưới, tiêu nằm gọn trong một huyện, thì thành lập xí nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Ngoài ra các hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh phải thành lập Hội đồng quản lý hệ thống, Hội đồng quản lý hệ thống thành viên gồm đại diện Bộ Nông nghiệp và PTNT, lãnh
Trang 22đạo các tỉnh, thành phố, doanh nghiệp thuỷ nông, các ngành có liên quan Hội đồng tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định các chủ trương, chính sách, kế hoạch khai thác và giám sát các hoạt động của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi, tổ chức hợp tác dùng nước nhằm điều hoà lợi ích giữa các tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ hệ thống
Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi:
- Cấp bộ: Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý về mặt chuyên môn nghiệp vụ đối với các công ty Thuỷ lợi
- Cấp tỉnh, thành phố: quản lý về mặt nhà nước đối với sở Nông nghiệp và PTNT, các công ty Thuỷ lợi
- Cấp sở: Sở Nông nghiệp và PTNT quản lý về mặt nhà nước, về chuyên môn đối với cấc công ty khai thác các công trình thuỷ lợi Tham mưu cho cấp sở là các Chi cục Thuỷ lợi hoặc phòng Thuỷ lợi
- Cấp huyện: Quản lý về mặt lãnh thổ, về mặt phối hợp chỉ đạo sản xuất, về mặt bảo vệ công trình đối với các công ty Thuỷ lợi
- Cấp xã: Các Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp được UBND các xã giao quản lý, khai thác các đầu mối trạm bơm nhỏ, hệ thống kênh mương nội đồng Hoạt động của các HTX DVNN bao gồm các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp như: dịch vụ cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ làm đất, dịch vụ điện, dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ bảo vệ ruộng đồng, khuyến nông
Từ khi thực hiện Luật Hợp tác xã (năm 1997) các Hợp tác xã đã tự hạch toán thu, chi, trích khấu hao tu bổ máy móc, nhà trạm, kênh mương Nhìn chung, trong những năm qua, công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đã phát huy hiệu quả tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Một số mô hình quản lý và khai thác của công ty Thuỷ lợi được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, hay cơ cấu trực tuyến chức năng
- Cơ cấu trực tuyến: Tổ chức quản lý theo cơ cấu trực tuyến là mọi công việc đều được giao cho từng đơn vị với một cấp trên trực tiếp Tổ chức theo hình thức này có ưu điểm là quyền hạn và trách nhiệm được phân định rõ ràng , chỉ đạo
Trang 23kiểm tra, kiểm soát thuận lợi, thu thập, xử lý thông tin nhanh chóng, nhưng nhược điểm của mô hình này là người quản lý phải giỏi toàn diện không phụ thuộc vào các chuyên gia
- Cơ cấu chức năng: Mô hình này thiết lập bộ máy có các bộ phận chức năng, các bộ phận này được giao chỉ đạo các đơn vị trực tuyến Ưu điểm của mô hình này là phát huy được sự đóng góp của các bộ phận chuyên môn, các chuyên gia vào công tác lãnh đạo nên giảm bớt công việc cho các lãnh đạo Nhược điểm của mô hình này là dễ phát sinh sự can thiệp của bộ phận chức năng đối với đơn vị trực tuyến, dễ sinh tình trạng thiếu trách nhiệm và khó phối hợp khi giải quyết công việc
- Cơ cấu phối hợp trực tuyến chức năng: Mô hình này là sự kết hợp giữa trực tuyến và chức năng, bộ máy quản lý có quản lý có bộ phận chức năng nhưng không có quyền chỉ đạo các đơn vị trực tuyến Ưu điểm của mô hình này là vừa phát huy được khả năng đóng góp của bộ phận chuyên môn, nhưng đồng thời vừa bảo đảm sự chỉ huy của hệ thống trực tuyến Nhược điểm của mô hình này là dễ phát sinh những phức tạp trong việc phối hợp các bộ phận chức năng, chỉ đạo quá tập trung hạn chế sử dụng chuyên môn Mỗi một mô hình đều có những ưu và nhược điểm nhất định, vấn đề quan trọng là phải lựa chọn được mô hình quản lý và khai thác phù hợp
1.3.2 Công tác quản lý và mức độ hoàn thành kế hoạch
Theo quy định tại Nghị định 31, dịch vụ công ích là dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư mà việc sản xuất và cung ứng theo
cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí nên nhà nước phải tổ chức sản xuất cung ứng theo mức giá hoặc phí do nhà nước quy định Các dịch vụ công ích (trước chỉ do doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích sản xuất cung ứng) sẽ chuyển sang phương thức là đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch, chỉ trừ 5 nhóm sản phẩm dịch vụ công ích thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng là do doanh nghiệp quốc phòng và an ninh sản xuất, cung ứng Theo cơ chế này thì doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, hợp tác xã đều có thể tham gia sản xuất sản phẩm, dịch vụ công ích nếu có đủ năng lực theo quy định Nguyên tắc lựa chọn
Trang 24phương thức sản xuất cung ứng hàng hoá dịch vụ công ích theo trình tự “đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch”
Công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thuộc một trong số 26 nhóm hàng hoá dịch công ích phải theo phương thức “đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch” Theo Nghị định 31, các hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh, liên huyện có quy
mô lớn được lựa chọn một trong hai phương thức là đặt hàng hoặc giao kế hoạch; các hệ thống công trình thuỷ lợi còn lại áp dụng hình thức đấu thầu hoặc đặt hàng Như vậy việc lựa chọn phương thức nào để vừa phát huy được tính năng động, tự chủ tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi lại vừa bảo đảm được chất lượng sản phẩm, dịch vụ; quản lý, tu sửa, bảo vệ công trình tốt; hiệu quả hoạt động cao và bền vững có ý nghĩa rất quan trọng
Việc lựa chọn phương thức quản lý khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi cần xem xét trên tất cả các khía cạnh như quy mô (lớn vừa và nhỏ), yêu kỷ thuật về quản lý vận hành, ảnh hưởng của hệ thống đối với an toàn xã hội và điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng
Mức độ hoàn thành là phải đạt được mục tiêu là từng bước xã hội hoá công tác quản lý, huy động tối đa nguồn lực xã hội tham gia quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thông qua cơ chế thị trường, cạnh tranh lạnh mạnh và nhà nước vẫn phải giữ được vai trò quản lý với tư cách là chủ sở hữu công trình
Theo cách tiếp cận trên các công trình lớn, yêu cầu kỷ thuật về quản lý vận hành phức tạp nên áp dụng phương thức đặt hàng Các doanh nghiệp đang quản lý các hệ thống thuỷ lợi liên tỉnh hoặc liên huyện có quy mô lớn thì chuyển sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (nhà nước nắm giữ 100 % vốn điều lệ trực thuộc Bộ NN & PTNT hoặc UBND cấp tỉnh) trực tiếp quản lý công trình đầu mối và kênh chính theo phương thức đặt hàng Cơ quan đặt hàng quy định rõ nội dung đặt hàng quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, như diện tích tưới, tiêu (số lượng, chất lượng, thời gian); quản lý bảo vệ; duy tu sửa chữa v.v bảo đảm công trình phụ vụ tốt, không bị hưu hỏng, xuống cấp vận hành an toàn Căn
cứ vào định mức kinh tế kỷ thuật, các chế độ chính sách hiện hành và đặc điểm hoạt động cụ thể của từng hệ thống (ứng với điều kiện khí hậu thời tiết bình
Trang 25thường), cơ quan đặt hàng tính toán xác định đơn giá đặt hàng thương thảo ký kết hợp đồng với công ty Đơn giá đặt hàng được cấp có thẩm quyền phê duyệt là căn
cứ để thanh quyết toán cho công ty khi hoàn thành hợp đồng, được chấp thuận nghiệp thu thu Công ty được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao và tự chủ quyết định mức chi trả tiền lương, tiền công cho cán bộ và người lao động theo khối lượng, kết quả, hiệu quả công việc và trách nhiệm của từng người theo quy chế chi tiêu nội bộ của công ty
Các tuyến kênh lấy nước, dẫn nước từ kênh chính đến cống đầu kênh nội đồng đi qua các tỉnh, huyện (do địa phương quản lý) thuộc hệ thống thuỷ lợi liên tỉnh và các hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô vừa, phạm vi phục vụ nằm gọn trong một huyện, yêu cầu kỷ thuật vận hành không phức tạp (trừ một số hồ chứa ảnh hưởng đến an toàn của khu vực ) nên lựa chọn phương thức đấu thầu hoặc giao khoán quản lý (đến cống đầu kênh nội đồng) Tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã đều có thể tham gia quản lý khai thác công trình thuỷ lợi nếu đáp ứng đủ năng lực theo yêu cầu của cơ quan quản lý, ứng với từng loại hệ thống công trình cụ thể Trước mắt có thể áp dụng hình thức đặt hàng hoặc giao khoán, nhưng về sau nên chuyển sang hình thức đấu thầu quản lý là chính Các tỉnh nên thành lập Ban quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trực thuộc
Sở Nông nghiêp & PTNT hoặc Chi Cục Thủy lợi để giúp UBND tỉnh tổ chức đấu thầu, đặt hàng, kiểm tra giám sát, nghiệm thu, thanh toán.v.v (tương tự như Ban Quản lý dự án trong xây dựng cơ bản) Hình thức đấu thầu quản lý đã được áp dụng khá thành công tại khu vực tưới Jingui thuộc tỉnh Shaanxi, Trung quốc Các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (cấp huyện hiện nay) nên sắp xếp lại theo quyết định 38/2007/QĐ-TTg và đa dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường (trong đó có hoạt động quản lý khai thác công trình thuỷ lợi)
1.3.3 Năng lực lãnh đạo trong quản lý
Năng lực lãnh đạo trong quản lý luôn giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của một tổ chức, đặc biệt đối với một tổ Đảng và Nhà nước ta đã xác định
Trang 26phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và coi “lấy việc phát huy nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững”
Năng lực lãnh đạo trong quản lý được Bộ Thủy Lợi (cũ), Bộ Nông nghiệp
và PTNT ngày nay, Viện Quy hoạch Thủy lợi đã luôn chú trọng, ưu tiên các nguồn lực cho công tác đào tạo, nâng cao năng lực cả về kỹ năng quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức, đặc biệt là cán
bộ lãnh đạo Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động và phát triển, luôn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chuyên gia, kỹ thuật dầy dạn kinh nghiệm, am tường thực tiễn, sâu sát và đầy sáng tạo, đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước Đội ngũ đó qua nhiều thế hệ, gồm nhiều kỹ thuật viên, cán sự, công nhân, cán bộ, chuyên gia, kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ được đào tạo và trưởng thành trong thực tiễn công tác phong phú, đã hoàn thành xuất sắc các đề tài, dự án quy hoạch thủy lợi, phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai cũng như trong các hoạt động hợp tác với các cơ quan, tổ chức quốc tế khác
Đặc biệt trong tình hình mới, với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin
và yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, công tác đào tạo, nâng cao năng lực lãnh đạo trong quản lý cho cán bộ, công nhân viên cần tiếp tục phát huy những thành
tựu đã đạt được, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển nông nghiệp
nông thôn và kinh tế xã hội của đất nước
1.3.4 Mức độ kiểm soát các quy trình
Mục đích của quy trình này nhằm đưa ra cách thức kiểm soát các hoạt động điều hành và trách nhiệm liên quan đến việc nhận dạng các mối nguy, đánh giá rủi
ro Trên cơ sở đó xác định các biện pháp kiểm soát thích hợp
Bước 1: Nhận dạng mối nguy
Tất cả mối nguy được nhận biết bằng cách liệt kê một cách có hệ thống dựa trên các hoạt động hiện tại và sự tương tác với môi trường, các điều kiện làm việc cũng như cách thức tác động đến an toàn của hoạt động khoa học công nghệ và sức khỏe nghề nghiệp của người lao động trong đơn vị
Trang 27Dựa trên các hoạt động khoa học công nghệ, đơn vị sẽ tiến hành nhận dạng các mối nguy liên quan Việc này được thực hiện theo biểu mẫu: BM01.QT610-01/VAWR
Tất cả các hoạt động nhận dạng mối nguy và đánh giá rủi ro phải được thực hiện lần đầu và xem xét định kỳ hàng năm bao gồm việc thực hiện cho các hoạt động thường xuyên và không thường xuyên
Họat động nhận dạng mối nguy và đánh giá rủi ro được thực hiện song song với việc đưa ra các biện pháp kiểm soát Hoạt động nhận dạng mối nguy và đánh giá rủi ro phải được thực hiện bao gồm cho các khu vực xung quanh nơi làm việc (khu vực lân cận)
Cơ sở để nhận dạng các mối nguy tại có thể là:
- Từ các yêu cầu chế định và pháp luật (một hoạt động được quy định phải thực hiện nghiêm ngặt bởi cơ quan chức năng, nghĩa là hoạt động đó thường có những nguy cơ cao và được yêu cầu kiểm soát) Ví dụ: yêu cầu luật định liên quan đến quản lý, bảo dưỡng, đăng kiểm và bảo trì thiết bị nghiêm ngặt…;
-Từ các yêu cầu của nhà chế tạo thiết bị, nhà sản xuất nguyên vật liệu, ví dụ các dấu hiệu cảnh báo liên quan đến các mối nguy ứng suất, cắt, cuốn kéo, cháy,
Rủi ro có thể đươc xem như h ̣ âu qu ̣ ả của các mối nguy
Ví dụ: ̣ Mối nguy làm viêc trong không gian hạn chế sẽ có rủi ro mắc kẹt hoặc bị ngạt Tùy vào bản chất của từng mối nguy mà rủi ro có thể khác nhau Việc đánh giá rủi ro dựa trên tần suất và hiệu quả (C = FxS)
Bước 3: So sánh với chuẩn yêu cầu
So sánh kết quả đánh giárủi ro với:
- Yêu cầu luât định liên quan; ̣
-Yêu cầu khác (đia phương, khách hàng và các bên liên quan);
Trang 28Bước 4: Xác đinh các biện pháp kiểm soát rủi ro Sử dung nguyên tắc (4T)
và (Hierachy control) để xác đinh các bi ̣ ên ph ̣ áp kiểm soá t rủi ro như sau Đối với các rủi ro ở mức cao: Bắt buộc phải xây dựng các biện pháp kiểm soát hoặc loại bỏ mối nguy trước khi cho vận hành Phải xây dựng mục tiêu và có chế độ báo cáo tháng đến Ban Giám đốc
Việc này phải được phụ trách của các bộ phận đánh giá, kiểm tra thường xuyên để đảm bảo an toàn trong các điều kiện vận hành Đối với các rủi ro ở mức trung bình: Phải xây dựng mục tiêu, đề ra chế độ báo cáo hàng quý trong phạm vị đơn vị Đối với các rủi ro ở mức thấp: Phải duy trì các biện pháp kiểm soát đang áp dụng
Bước 5: Xem xét và phê duyêṭ
Trưởng bộ phận có trách nhiệm xem xét các nội dung như: Bảng nhận dạng mối nguy, bảng đánh giá rủi ro, bảng tổng hợp mối nguy và rủi ro, bảng theo dõi
và đo lường trước khi trình Đại diện lãnh đạo phê duyệt Trong trường hợp kết quả xem xét không đạt, quay lại thực hiện các bước trên
Bước 6: Theo doi và đo lường ̃
Đại diện lãnh đạo của Viện chịu trách nhiệm theo dõi việc thực hiện, triển khai các biện pháp kiểm soát rủi ro Trưởng bô ̣phân trực thuộc chịu trách nhiệm theo dõi thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro tại bộ phận mình và báo cáo Đại diện lãnh đạo an toàn về viêc thực hiện Các mục tiêu và chỉ tiêu an toàn (năm/tháng) liên quan đến an toàn sẽ được thiết lập, chương trình hành động sẽ được hoạch định dựa trên việc đánh giá rủi ro hay chỉ đạo của cấp quản lý (nếu có) Các hành động khắc phục hoặc hành động cải tiến khác sẽ được thực hiện (nếu có) theo Quy trình Hoạt động khắc phục và cải tiến (QT1000-01/VAWR); 28 Việc báo cáo các biện pháp kiểm soát rủi ro, thực hiện mục tiêu, … sẽ tuân thủ theo quy trình trao đổi thông tin; Công tác giám sát an toàn sẽ được thực hiện bởi các cán bộ phụ trách chuyên môn theo quy trình giám sát và đo lường Các chỉ số theo dõi và
đo lường có thể là số tai nạn sự cố, các kết quả đo kiểm thông số và/ hoặc điều kiện an toàn (ví dụ: tiếng ồn, độ rung, nhiệt độ, đo kiểm phông môi trường phóng
Trang 29xạ, kết quả đăng kiểm ), số vụ vi phạm, Là cách để đánh giá xem mối nguy có liên quan được kiểm soát thông qua tiêu chí để theo dõi đo lường như thế nào
Bước 7: Cập nhật mối nguy và rủi ro
Các bô ̣phân trực thuộc nhận dạng mối nguy và đánh giá rủi ro sau đó câp
nh ̣ ât vào ̣ bảng tổng hợp các mối nguy và rủi ro khi: Có sự thay đổi trong tổ chức,
hê ̣thống quản lý , công nghê, quy trình Sự cố, tai nan;̣ Định kỳ sau 1 năm hoăc khi có yêu cầu
Bước 8: Phổ biến và lưu hồ sơ
Tất cả các mối nguy và rủi ro phải được phổ biến đến các bộ phận liên quan, cũng như các biện pháp kiểm soát để tuân thủ và thực hiện Bảng tổng hợp các mối nguy và rủi ro luôn sẳn có tại từng bộ phận Các bô ̣phân trực thuộc lưu giữ các hồ
sơ liên quan về viêc nhận dạng mối nguy, đánh giárủi ro và các hồ sơ liên quan đến họat động kiểm soát quy trình Ban ISO lưu giữ các hồ sơ liên quan về viêc nhận dạng mối nguy, đánh giá rủi ro và kiểm soá t rủi ro của đơn vị
1.4 Kinh nghiệm về khai thác và hỗ trợ giá dịch vụ thủy lợi
1.4.1 Trong nước
1.4.1.1.Kinh nghiệm ở tỉnh Đồng Tháp
Đồng Tháp có diện tích tưới hàng năm khoảng 200.000 ha Hoạt động của các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở đây gần như hoàn toàn theo cơ
chế thị trường trên nguyên tắc “đấu giá cạnh tranh”
Các hộ nông dân trong vùng hưởng lợi tổ chức đại hội những người dùng nước Đại hội thảo luận quy chế quản lý, vận hành và tu sửa công trình, đồng thời bầu ra Ban quản lý tưới Ban quản lý tưới đại diện cho quyền lợi của các hộ dân trong vùng hưởng lợi và chịu trách nhiệm xem xét, lựa chọn cá nhân nhận khoán theo nguyên tắc “đấu giá mức thu thuỷ lợi phí”
Tổ chức, cá nhân nào có đủ năng lực và chấp hành đầy đủ các quy định về quản lý, vận hành công trình, cung cấp nước tưới đầy đủ theo yêu cầu của các tập đoàn viên và có mức thu thuỷ lợi phí thấp nhấp sẽ được chọn để giao khoán
Ban quản lý tưới tiêu sẽ ký hợp đồng giao khoán với tổ chức, cá nhân nhận khoán; chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát công việc tưới tiêu và tu sửa công trình
Trang 30của người nhận khoán theo các quy định đã được ký kết trong hợp đồng mà đại hội
đã thông qua
1.4.2 Kinh nghiệm ở An Giang
Công tác khai thác và hỗ trợ giá dịch vụ thủy lợi thực hiện khá hiệu quả An
Giang là một tỉnh nông nghiệp, diện tích trồng lúa trên 200.000 ha Hệ thống tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp là các trục kênh rạch tạo nguồn nước tưới và các trạm bơm bơm nước vào các khu canh tác của từng hộ Công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Giang được giao quản lý các trục kênh chính, các công trình điều tiết và một số trạm bơm lớn phục vụ tưới cho khoảng 10.000 ha (chỉ khoảng 5% diện tích sản xuất của toàn tỉnh) Số diện tích còn lại do các trạm bơm nhỏ phục
vụ Các trạm bơm này đã được UBND tỉnh giao lại cho UBND các xã, trị trấn
quản lý
Để quản lý, khai thác tốt các trạm bơm này, UBND tỉnh An Giang đã cho áp dụng hình thức “hiệp thương khai thác sử dụng đường nước” Tổ chức, cá nhân tham dự hiệp thương làm hồ sơ gửi đến UBND xã, thị trấn nơi tổ chức hiệp thương, hồ sơ gồm thuyết minh cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị quản lý, phương hướng kế hoạch quản lý khai thác công trình, mức thuỷ lợi phí phải thu UBND xã, thị trấn thông báo thời gian, địa điểm tổ chức hiệp thương Đúng ngày
tổ chức hiệp thương, UBND xã mời tất cả các hộ dùng nước chung trong hệ thống
và các tổ chức, cá nhân đang ký hiệp thương đến dự và xét chọn Nguyên tắc lựa chọn là các hộ dùng nước nghiên cứu kỹ từng hồ sơ để lựa chọn người quản lý, khai thác trên cơ sở cân nhắc phương án, kế hoạch quản lý và mức thu thuỷ lợi phí sau đó bỏ phiếu kín lựa chọn Mục đích của việc hiệp thương khai thác sử dụng đường nước là nhằm đảm bảo lợi ích của người quản lý và người sử dụng với chi phí thấp nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất
1.4.3 Kinh nghiệm ở Tuyên Quang
Từ năm 1996 đến nay việc quản lý, khai thác bảo vệ CTTL ở Tuyên Quang đã được phân cấp cho các Ban quản lý công trình thủy lợi ở cơ sở thực hiện theo phạm vi phục vụ tưới của công trình gồm 3 loại hình:
Trang 31- Ban quản lý công trình thủy lợi liên huyện: Do chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập, trực thuộc Chi cục Thủy lợi Hiện có 02 Ban, Tổng diện tích tưới là 1.159 ha, chiếm 3,2% diện tích tưới toàn tỉnh
- Ban quản lý công trình thủy lợi liên xã: Do UBND huyện quyết định thành lập, trực thuộc UBND huyện, hiện nay toàn tỉnh có 05 Ban Tổng diện tích tưới 1.696 ha, chiếm 4,7% diện tích tưới toàn tỉnh
Tại các Ban quản lý này có cán bộ chuyên trách và các thành viên hoạt động kiêm nhiệm là Chủ tịch, Chủ nhiệm các HTX- NLN (hợp tác xã nông lâm nghiệp) sử dụng nước từ công trình (mỗi cán bộ chuyên trách quản lý trung bình 50-70 ha/vụ)
- Ban quản lý công trình thủy lợi Hợp tác xã Nông lâm nghiệp do UBND xã quyết định thành lập, trực thuộc UBND xã, toàn tỉnh hiện nay có 143 Ban Tổng diện tích tưới 33.449 ha chiếm 92,1% diện tích tưới toàn tỉnh Mỗi Ban quản lý công trình thủy lợi có trưởng ban là Hợp tác xã nông lâm nghiệp, kế toán là kế toán Hợp tác xã, ngoài ra tùy theo quy mô, số lượng các CTTL trên địa bàn mỗi ban có từ 3 đến 5 thành viên là trưởng thôn bản tham gia (Các thành viên ban quản lý hưởng tiền công không quá 40% nguồn TLP được cấp bù cho Ban)
Hiện nay toàn tỉnh có 600 người thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (gồm cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách), trong đó trình độ đại học: 93 người (đại học thủy lợi 10 người, 83 người đại học nông nghiệp, xây dựng…); trình độ cao đẳng, trung cấp 258 người (thủy lợi, cơ điện 23 người, còn lại ngành nghề khác; sơ cấp và chưa qua đào tạo: 248 người
Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang
Sở Nông nghiệp và phát triển
Chi cơ quan Tủy lợi Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ủy ban nhân dân xã
Ban quản lý thủy lợi liên huyện Ban quản lý công trình liên xã Ban quản lý công trình thủy lợi
xã HTX
Đội sản xuất/Hộ sử dụng nức/Nhóm hộ sử dụng nước
Trang 32Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh Tuyên Quang
1.4.3 Kinh nghiệm ở Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam
Mô hình HTXDN được thành lập thí điểm để quản lý kênh cấp 2 liên xã N16 là mô hình tổ chức hợp tác dùng nước hoạt động theo ranh giới khu tưới, không lệ thuộc vào ranh giới hành chính
Mối quan hệ của HTXDN với các cơ quan liên quan được mô tả như sau Theo đó, vai trò trách nhiệm của các bên liên quan được xác định cụ thể như sau:
+ Vai trò, trách nhiệm của UBND huyện: UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước
đối với HTXDN quản lý kênh liên xã, giải quyết tranh chấp giữa các xã trong khu tưới
Để tham mưu cho huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT có trách nhiệm quản lý, giám sát
và hỗ trợ HTXDN về nghiệp vụ quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa công trình, trong khi đó Phòng Tài chính-Kế hoạch quản lý và giám sát HTXDN thực hiện thu chi, thanh quyết toán từ nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí
+ Trách nhiệm của công ty khai thác công trình thủy lợi: Công ty thực hiện chuyển
giao và ký hợp đồng với HTXDN, kiểm tra và nghiệm thu khối lượng hoàn thành và có trách nhiệm trích tỷ lệ kinh phí cấp bù thủy lợi phí được thỏa thuận cho HTXDN quản lý kênh liên xã Tỷ lệ chia sẻ tài chính được xác định theo sự thỏa thuận của công ty và HTXDN trên cơ sở các công việc được chuyển giao quản lý Theo đó, tỷ lệ chia sẻ tài chính được thỏa thuận là công ty khai thác công trình thủy lợi trích 108 triệu đồng/năm, chiếm 12% kinh phí cấp bù thủy lợi phí cho HTXDN quản lý kênh N16 Tuyến kênh liên
xã vẫn là tài sản thuộc công ty nên Công ty có trách nhiệm thực hiện sửa chữa lớn đối với kênh cấp N16 và các kênh cấp 3 có diện tích tưới vượt quy mô cống đầu kênh Ngoài ra, Công ty còn có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật về vận hành, điều tiết nước, sửa chữa công trình và hướng dẫn thanh quyết toán nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí cho HTXDN
1.4.2 Ngoài nước
1.4.2.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Chính phủ ban hành chính sách về giá nước mang tính nguyên tắc (quy định khung), giao quyền cho địa phương trực tiếp quản lý công trình quy định cụ thể cho phù hợp trên cơ sở lợi ích kinh tế và mức chi phí thực tế đã sử dụng, mức chi phí tính toán và ý kiến tham gia của người dân
Giá nước bao gồm các khoản mục:
+ Các loại khấu hao
+ Chi phí quản lý vận hành
Trang 33+ Các loại thuế và lãi
Cơ cấu giá nước bao gồm:
+ Đảm bảo chi phí cho đơn vị quản lý vận hành
+ Đảm bảo tính công bằng (dùng nước phải trả tiền, dùng nhiều trả nhiều, dùng ít trả ít)
Kinh nghiệm của Trung quốc cho thấy từ khi bắt đầu thu thuỷ lợi phí (giá nước), việc sử dụng nước được tiết kiệm hơn, đặc biệt là từ khi thuỷ lợi phí được tính bằng m3 Nhưng điều này cũng là một thách thức đối với các đơn vị quản lý, điều này đòi hỏi đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi phải có các biện pháp để quản
lý tốt, giảm các tổn thất để có nhiều nước bán cho nông dân theo yêu cầu của họ và giảm thiểu chi phí
Giá nước tưới có chính sách riêng, được quy định phù hợp với điều kiện cụ thể, mang tính công ích và căn cứ vào chi phí thực tế Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các trường hợp sau:
+ Vùng nghèo khó khăn, mức sống thấp
+ Khi công trình hư hỏng nặng cần phải sửa chữa
+ Hỗ trợ chi phí cho diện tích tiêu phi canh tác
+ Hỗ trợ chi phí tiền điện tưới tiêu
+ Khi có thiên tai gây mất mùa phải giảm mức thuế sử dụng đất
Tuỳ theo loại hình công trình, tự chảy hay động lực, điều kiện cụ thể của hệ thống công trình để quy định mức thu và có chính sách hỗ trợ Cơ quan nào quyết định miễn giảm giá nước tưới thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù hỗ trợ tài chính cho đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi
1.4.2.2.Kinh nghiệm ở Australia
Tại lưu vực miền nam Murray-Darling năm 1992 thuỷ lợi phí từ nông nghiệp thu đáp ứng được 80% chi phí vận hành và bảo dưỡng và đến năm 1996 thu được 100% chi phí vận hành và bảo dưỡng Giá nước cũng khác nhau giữa các vùng Ở bang Victoria mức thu gần đảm bảo chi phí vận hành và bảo dưỡng (năm 1995), ở New South Wales thu trong nội bang thu khoảng 0,92 USD/1000m3 (chỉ tương đương khoảng gần 13 đ năm 1995) trong khi đó nếu nước được đưa sang
Trang 34bang Victoria thì giá nước tăng hơn 3,6 lần giá nước trong nội bang New South Wales Tương tự như vậy ở bang Queensland giá thu trong nội bang khoảng 1,5USD/1000m3 trong khi đó giá nước khi chuyển ra ngoài ranh giới bang tăng hơn 4,2 lần; cuối cùng đối với vùng miền nam, lưu vực Muray-Darlinh năm 1991-
1992 mức thu đồng đều hơn 7,8USD/1000m3 (tương đương với 80% phí vận hành
và bảo dưỡng, và từ năm 1992 trở đi giá nước cao hơn giá thành là 11% để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí đầu tư và thu hồi vốn
1.4.2.3 Kinh nghiệm ở Mỹ
Mỹ là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú
+ Trước kia thuỷ nông địa phương (xí nghiệp thuỷ nông huyện hoặc tỉnh) thu thuỷ lợi phí dựa trên cơ sở chi phí vận hành và bảo dưỡng cho các vùng đất canh tác khác nhau Ví dụ mức thu đối với những vùng tưới động lực sẽ cao hơn mức thu những vùng tưới tự chảy
+ Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nước đã xây dựng luật mà nó bao hàm cả việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước Thuỷ lợi phí đã được thu tăng lên đáng kể Ví dụ: thời điểm năm 1988 thuỷ nông huyên Broadview đã tăng mức thu từ 40USD/ha lên 100USD/ha với mức nước sử dụng được tính toán; năm 1987 tại thuỷ nông huyện Pacheco mức thu tính theo 2 bậc, bậc thứ nhất mức thu 90USD/ha và bậc thứ 2 thu 150USD/ha; đối với mức thu dựa trên khối lượng
sử dụng ở hệ thống thuỷ nông bang Califonia tăng mức thu từ từ 4,4USD/1000m3 lên 11,9USD/100m3 Với mức thu như vậy thì thực tế đã cao hơn mức cần thiết để thu hồi các chi phí
+ Riêng đối với hệ thống thuỷ nông bang California, thu bình quân mức 6,3USD/1000m3, và sau đó tăng lên 11,0-16,3USD/1000m3 tuỳ thuộc vào mức đảm bảo tưới; trong khi đó đối với hệ thống tưới huyện Madera mức thu tương ứng
là 19,9 tăng lên 24,7-42,3USD/1000m3
1.4.2.4 Pháp và một số nước châu âu
Giá nước tưới ở Pháp từ 0,049-0,171USD/m3 (nước tưới) và thu 0,022USD/m3 nước thải trở lại sông Mức thu của các tổ nhóm nông dân
Trang 350,081$/m3 (giá ở trên là tính đối với tự chảy còn đối với những vùng phải bơm động lực thì giá phải cộng thêm chi phí bơm nên giá sẽ cao hơn mức trên)
Đối với một số nước ở châu Âu khác như Hy Lạp, trong sản xuất nông nghiệp có mức tưới khoảng 6000-12.000m3/ha, thuỷ lợi phí thu ở mức 187,5-350USD/ha đối với diện tích canh tác lúa, còn đối với các loại cây trồng khác tư ở mức từ 87,5-218,75USD/ha tuỳ theo loại cây trồng Ở Italy, nước sử dụng cho nông nghiệp thu thuỷ lợi phí dựa trên cơ sở diện tích và mức thu khác nhau giữa các vùng từ 22,11-82,36USD/ha (trung bình 37,38USD/ha đây là mức thu kế hoạch) nhưng thực tế chỉ thu được khoảng 80% so với kế hoạch và chỉ đảm bảo được khoảng 60% chi phí vận hành và bảo dưỡng
Ở Tây Ban Nha thuỷ lợi phí nông dân phải trả hầu hết toàn bộ chi phí từ xây dựng cơ bản, quản lý vận hành hệ thống thuỷ nông và cả quản lý cấp lưu vực Có 3 cách tính thuỷ lợi phí: dựa trên diện tích; dựa trên khối lượng sử dụng hoặc kết hợp
cả hai cách trên Thuỷ lợi phí trung bình ở thời điểm năm 1994 khoảng 84,7USD/ha-năm (dao động khác nhau giữa các hệ khu vực từ 8,3-266 USD/ha-năm) và từ 0.008-0,16USD/m3 sử dụng Ví dụ ở hợp tác thuỷ lợi Grnil-Cabra vùng San Martin de Rubiales quản lý kiểu hợp tác xã, tổng thuỷ lợi phí cho tưới bằng bơm nông dân phải trả là 258USD/ha-năm trong đó khoảng 112,5USD/ha-năm (phần cứng) 145,8USD/năm (phần mềm) trên cơ sở khối lượng sử dụng
1.4.2.4 Kinh nghiệm của Đài Loan
- Ở Đài Loan trong quá khứ, hầu hết kinh phí cho hoạt động của các tổ chức quản lý nước là thu từ nông dân Hệ thống tính TLP trên cơ sở diện tích, năng suất cây trồng, chi phí tưới và lợi nhuận thô từ canh tác nông nghiệp Mức thu dao động
từ 20-300kg thóc/ha-năm tuỳ theo vùng, điều kiện nước (nông dân trả TLP bằng tiền dựa trên giá thóc) Mức thu đó nhìn chung tương đương 2% tổng chi phí đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (dao động từ 0,44% -7,66%)
- Năm 1991, chính phủ trợ cấp 1,43 tỷ RMB (tương đương 52 triệu USD) và TLP thu ở mức đồng đều là 20kg/ha-năm
- Đến năm 1992, tổng trợ cấp TLP từ nhà nước và địa phương là 1,87 tỷ RMB (68 triệu USD) trong đó ngân sách trung ương chiếm 74% và ngân sách địa
Trang 36phương 26% Mức trợ cấp như vậy tương đương với mức hỗ trợ hàng năm là 183USD/ha đất canh tác với hệ số quay vòng đất là 2,1 lần/năm
- Việc tính mức TLP do các nhà chức trách tính toán dựa trên cơ sở khối lượng sử dụng block, mùa vụ và khu vực Giá TLP trợ cấp phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về tài chính cần thiết bao gồm: hiệu quả kinh tế, thu hồi đủ vốn, tác động môi trường và phải được người sử dụng nước chấp nhận được
Tóm lại, trước khi có chính sách trợ cấp TLP ở Đài Loan thì hệ thống tính giá TLP và hình thức thu tương đối giống với mô hình của nước ta hiện nay Tuy nhiên, để thực hiện được việc trợ cấp thì Đài Loan đã xây dựng được mô hình quản
lý nước theo kiểu hội người sử dụng nước hoàn hảo nên việc giám sát chất lượng dịch vụ nước đều do toàn dân thực hiện và mức TLP trợ cấp là phải được người dân chấp nhận chứ không phải là mối quan hệ song phương giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức hội người sử dụng nước Và cuối cùng là để đảm bảo hiệu quả phân phối sử dụng nước hiệu quả thì hệ thống giá nước hoặc TLP sẽ phải tiến tới biên của giá chi phí
1.4.2.5 Kinh nghiệm của Thái Lan
TLP ở Thái Lan được nhà nước miễn
- Phí nước thô: Sử dụng tùy tiện và không có giám sát thích hợp
• Tiền phải trả thiết bị hệ thống cung cấp nước sử dụng nước để sản xuất đường ống nước, vòi nước;
• Tiền phải trả người sử dụng quy mô lớn - các trang trại và các ngành công nghiệp;
- Miễn phí cho mục đích nông nghiệp đây là lĩnh vực sử dụng nhiều nước, hiện đang tranh luận về việc có nên thu tiền lệ phí cho nông dân thực hiện các chi phí thực tế của nước
+ Hệ thống cung cấp nước bao gồm MWA (Metropolitan Waterworks Authority - Cơ quan cung cấp nước quốc gia)/PWA (Provincial Waterworks Authority - Cơ quan cung cấp nước cấp tỉnh)/tổ chức tư nhân
- Phí nước: trực tiếp đến người dùng cuối (hộ gia đình và Công nghiệp)
Trang 37• Xử lý nước và đường ống
• Kênh nước cho khu công nghiệp
Hệ thống tưới nước ở Thái Lan được nhà nước quản lý, phát triển, hoạt động, và hỗ trợ Khoảng 10 tỷ USD đã được chi tiêu hàng năm cho Cơ quan Thủy lợi Hoàng gia (RID) và các hoạt động quản lý lúa gạo trong 25 năm qua (Budhaka
et al 2002,; Warr và Kohpaiboon, 2007) Các khu vực công ở Thái Lan bao gồm chi phí đầu tư, chi phí khai thác và cung cấp (vận hành và bảo trì), sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển cơ sở hạ tầng mới, gia hạn, tư vấn kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu
và phát triển các giống lúa và các sản phẩm, trạm thí nghiệm, trình diễn và các chương trình hỗ trợ tài chính khác nhau cho nông dân Theo quan điểm (1) chi phí phát sinh bởi cung cấp nước, dịch vụ tưới tiêu, vận hành và bảo dưỡng ở Thái Lan, (2) Bình luận và gây tranh luận trong nước và quốc tế về thu phí cho nông dân sử dụng nước tưới (Tiwari, 1998; Briscoe, 1999; Backeberg, 2006; Molle, 2007), bài viết này kiểm tra sự tương quan giữa giá trị sử dụng nước tưới tiêu và chi phí tưới tiêu
Có một số luận cứ để đánh giá giá trị và giá cả của nước tưới, ví dụ như nội hóa tác dụng tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và các yếu tố ngoại môi trường, mục tiêu công bằng, thu hồi chi phí cung ứng và khả năng tài chính, và sự cải thiện
và hiện đại hóa dịch vụ (Briscoe, 1997; Renzetti, 2000) Trong bối cảnh của Thái Lan, ít nhất là ba sáng kiến mới nhất có liên quan (Perret, 2013) Luật Thủy lợi Thái Lan của năm 1942 thiết lập một lệ phí chính thức cho sử dụng nước thủy lợi (hiện tại 0,5 THB/m3 [1 Thái Baht = 0.03 US $])
1.4.2.5 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở một số khu vực, các nhóm sử dụng nước truyền thống vẫn được duy trì như
là những tổ chức tự nguyện để bảo vệ các công trình tưới dưới tác động của thiên tai
và thu phí từ các hộ nông dân Ở một số vùng khác, các hiệp hội bơm nước cũng được thành lập, hoạt động độc lập với các LID và thu phí bơm nước của các hộ nông dân Cùng với những trường hợp ngoại lệ thiểu số này, các LID vốn được xem như là các tổ chức phi lợi nhuận và được miễn trừ thuế (Kobayashi, 2006) cũng có
Trang 38vai trò như là các cơ quan được ủy quyền để ban hành giá các hộ nông dân theo Luật Cải tạo Đất đai năm 1949
Do chính sách cắt giảm diện tích trồng lúa của chính phủ, hầu như tất
cả LID tính phí nước dựa trên diện tích đất đai mà không cần xem xét đến loại cây trồng hoặc thậm chí cho dù đó là đất hoang hóa (Kuramoto et al., 2002) Thủy lợi phí áp dụng cho các khu ruộng vùng đồi thường được định giá trong khoảng từ 20 đến 50% so với đơn giá áp dụng cho các ruộng lúa Công tác định giá cho các hộ nông dân thường thay đổi theo các điều khoản như khu vực (thời gian cải tạo đất, mức độ tiếp nhận dịch vụ, hiệu quả, cơ sở tiền đề trước đây…) hoặc hệ thống dẫn nước (đường ống so với kênh) Đơn giá nước theo thể tích rất hiếm khi được áp dụng, chỉ có 0,4% các tổ chức LID áp dụng nhờ sử dụng hệ thống bơm và đường ống hiện đại Ngay cả trong những trường hợp này, đơn giá theo thể tích cũng được tính kết hợp với mức thu theo diện tích cơ bản (Fujimoto & Tomosho, 2004) Các LID cũng đòi hỏi sự đóng góp công lao động trong công tác duy tu các công trình tưới, trong đó có công tác nạo vét kênh mương Những nghĩa vụ này được phân bổ công bằng giữa các hộ gia đình và không có bất cứ sự hỗ trợ về tài chính nào
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ tiền sử dụng dịch vụ công ích thủy lợi
1.5.1 Nhóm nhân tố Chủ quan
1.5.1.1 Ảnh hưởng của nhân tố sử dụng DVCITL
Luật đã quy định rõ hoạt động cung cấp, sử dụng DVCITL giữa tổ chức, cá nhân cung cấp (bên cung cấp) với tổ chức, cá nhân sử dụng (bên sử dụng) là hoạt động dịch vụ nên phải thực hiện theo hợp đồng dịch vụ Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung cấp theo nguyên tắc dùng nhiều trả nhiều, dùng ít trả ít; chất lượng bảo đảm thì trả đủ, chất lượng không bảo đảm trả không đủ, thậm chí còn phạt Bên sử dụng dịch vụ không trả tiền, bên cung cấp có quyền đơn phương chấm dứt cung cấp dịch vụ, khởi kiện theo quy định của pháp luật Hoạt động cung cấp DVCITL theo quan hệ mua-bán, sử dụng nhiều phải trả nhiều tiền, sử dụng ít trả ít buộc bên sử dụng phải chủ động, sáng tạo trong sử dụng nước phục vụ sản
Trang 39xuất, lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp nhất là cây trồng có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít nước để giảm chi phí; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, tham gia vào các mô hình sản xuất quy mô lớn để nâng cao thu nhập trong chuỗi giá trị hàng hóa Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền sử dụng DVCITL cho một số đối tượng sử dụng nhưng không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá DVCITL, cùng với thay đổi phương thức hỗ trợ từ hỗ trợ trực tiếp cho bên cung cấp dịch vụ sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng chính sách Bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ thực hiện theo hợp đồng dịch vụ để phát huy vai trò và sự phối hợp của người dân trong quản lý giám sát các đơn vị cung cấp dịch
vụ, tạo lập mối quan hệ gắn kết theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng và cùng có lợi
Chính sách hỗ trợ tiền sử dụng DVCITL cho các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện để nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cho người dân nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích của bên cung cấp dịch vụ, chính sách hỗ trợ không phân biệt chủ thể khai thác, không phân biệt nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; tiền hỗ trợ sử dụng DVCITL được ngân sách nhà nước bảo đảm Chính sách hỗ trợ phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng (ai được hỗ trợ, mức hỗ trợ bao nhiêu, hỗ trợ bằng cách nào ) để dân biết, dân kiểm tra giám sát, không phân biệt nơi có công trình và chưa có công trình thủy lợi, từng bước giảm dần bao cấp qua giá theo quan điểm nước là hàng hóa
Như vậy việc thực hiện cơ chế giá không những không ảnh hưởng đến bên
sử dụng dụng DVCITL so với cơ chế thủy lợi phí hiện nay mà còn giúp họ được sử dụng DVCITL có chất lượng cao hơn như đã cam kết trong hợp đồng Theo số liệu tổng hợp từ năm 2012 đến 2015, hàng năm Nhà nước đang cấp bù cho các đơn vị QLKTCTL khoảng 6.200 tỷ/năm (theo Nghị định 67/2012/NĐ-CP) để thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí (xem Bảng) Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật thủy lợi, từ 2018 đến 2020, Nhà nước vẫn tiếp tục hỗ trợ cho một số đối tượng sử dụng DVCITL như hiện nay và đã bố trí trong kế hoạch ngân sách hàng năm là 6.346 tỷ đồng/năm (tương đương với mức miễn thủy lợi phí) Tổng hợp kinh phí cấp bù thủy lợi phí
Trang 40Tuy vậy, mức hỗ trợ tiền sử dụng DVCITL phải căn cứ theo định mức sử dụng (phù hợp với từng loại đối tượng sử dụng nước, ở từng vùng miền) mà không
hỗ trợ tràn lan như chính sách miễn thủy lợi phí hiện nay, nếu sử dụng không hết định mức, được thưởng; ngược lại sử dụng quá định mức thì phải trả thêm tiền Các hộ sử dụng nước buộc phải thay đổi dần tập quán, thói quen sử dụng nước lảng phí, nâng cao ý thức trách nhiệm trong hoạt động thủy lợi, tạo động lực ứng dụng tiến bộ Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước Tuy vậy để thay đổi tập quán, thòi quen với cơ chế bao cấp trức đây cũng không đơn giản, vì vậy chính quyền các cấp, thông qua các tổ chức xã hội (phủ nữ, thành niên, cựu chiến bình và các tổ chức đoàn thể khác) phối hợp truyền truyền, giải thích, đối thoại để người dân hiểu rõ về luật, chỉ đạo các cơ quan truyền thông xây dựng các chương trình cụ thể về truyền truyền phổ biến luật
1.5.1.2 Ảnh hưởng của nhân tố cung cấp DVCITL
Theo quy định của Luật, tất cả doanh nghiệp, tổ chức thủy lợi cơ sở, cá nhân (chủ thể KTCTTL) đều được nhà nước khuyến khích tham gia hoạt động cung cấp DVCITL nếu đủ năng lực theo quy định thông qua các phương thức đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ Các chủ thể khai thác công trình thủy lợi (bên cung cấp dịch vụ) được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất từ khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, sử dụng lao động; tự chủ về tài chính, trả lương, thưởng cho người lao động theo kết quả công việc là cơ sở để tạo động lực đổi mới, sáng tạo nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Tách bạch nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh thông thường và sản xuất sản phẩm, dịch vụ công ích để có cơ chế quản lý phù hợp Cơ chế mới mở ra
cơ hội cho các đơn vị QLKTCTTL khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế về đất đai, mặt nước, cơ sở hạ tầng công trình và các nguồn lực khác do Nhà nước giao để tăng nguồn thu, bù đắp thêm kinh phí tu sửa công trình và cải thiện thu nhập cho người lao động
Tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp sản phẩm dịch vụ công của nhà nước sẽ giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động sản xuất của đơn vị, nhà nước quản lý bằng cơ chế chính