Như vậy, công tác văn thư lưu trữ gắn liền với hoạt động của các cơ quan, đặc biệt, đối với văn phòng nội vụ, văn phòng các tổ chức chính trị - xã hội là các cơ quan trực tiếp giúp các c
Trang 1’’’’’’’’’’’’’’’’’’
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của T.S ………
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này
là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Đồng Nai, tháng 4 năm 2020
Sinh viên
………
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Hoàn thiện công tác văn thư lưu trữ tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận
tình quý báu của T.S ………, được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi của trường Đại học …………
Nhân đây cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S ……… -
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua, tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp, những nhận xét quý báu của các thầy cô giáo giúp tôi hoàn thành bài khóa luận của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận
Đồng Nai, tháng 4 năm 2020
Sinh viên
………
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỞ ĐẦU 7
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.4 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu 9 1.5 Kết cấu của khóa luận 10
CHƯƠNG 2 11
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC VĂN THƯ – LƯU TRỮ 11 1.1 CÔNG TÁC VĂN THƯ 11
1.1.1.Khái niệm 11
1.1.2 Yêu cầu của công tác văn thư 12
1.1.3 Vị trí của công tác văn thư 13
1.1.4 Ý nghĩacủa công tác văn thư 13
1.1.5 Yêu cầu đối với cán bộ làm công tác văn thư tại cơ quan, tổ chức Nhà nước 15
1.1.6 Nội dung công tác văn thư 19
1.2 CÔNG TÁC LƯU TRỮ 38
1.2.1.Khái niệm 38
1.2.2 Ý nghĩa của tài liệu lưu trữ 38
1.2.3 Chức năng của công tác lưu trữ 39
1.2.4 Nội dung công tác lưu trữ 39
Trang 51.3.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC VĂN THƯ – LƯU TRỮ43
1.3.1.Môi trường làm việc 43
1.3.2.Khoa học công nghệ 44
1.3.3 Trình độ của cán bộ văn thư - lưu trữ 45
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
CHƯƠNG 4 47
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
CHƯƠNG 5 48
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ TẠI PHÒNG NỘI VỤ UBND HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI 48
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Giải thích
VTLTNN – NVTW Văn Thư Lưu Trữ Nhà Nước – Nhiệm Vụ Trung Ương
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội phát triển, đặc biệt là từ khi nhà nước ra đời, yêu cầu của việc cung cấp thông tin để phục vụ cho lao động, sản xuất và công tác quản lý đất nước đòi hỏi con người phải lưu giữ những thông tin cần thiết để truyền đạt lại cho nhiều người khác hoặc cho thế hệ sau hoặc để ghi chép lại những kinh nghiệm và các hoạt động sáng tạo của con người Đáp ứng nhu cầu đó, con người đã chế tạo ra các vật liệu, phương tiện có khả năng ghi tin và truyền đạt thông tin có độ bền cao, lưu giữ được thông tin trong thời gian dài Trong việc ghi tin và trao đổi thông tin, con người có nhiều phương tiện và nhiều cách thể hiện khác nhau, trong đó việc lưu trữ hồ sơ được coi là phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin quan trọng nhất
Các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội dù lớn hay nhỏ, muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đều phải sử dụng văn bản, tài liệu để phổ biến các chủ trương, chính sách, phản ánh tình hình lên cấp trên, trao đổi, liên hệ, phối hợp công tác, ghi lại những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong hoạt động hàng ngày Như vậy, công tác văn thư lưu trữ gắn liền với hoạt động của các cơ quan, đặc biệt, đối với văn phòng nội vụ, văn phòng các tổ chức chính trị
- xã hội là các cơ quan trực tiếp giúp các cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội tổ chức điều hành bộ máy, có chức năng thông tin tổng hợp phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo thì công tác văn thư lại càng quan trọng, nó giữ vị trí trọng yếu trong công tác văn phòng
Làm tốt công tác văn thư lưu trữ sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời những quyết định quản lí Trên cơ sở đó, ban lãnh đạo sẽ dùng làm căn
cứ để điều hành mọi hoạt động của đơn vị một cách hợp pháp hợp lí, kịp thời hiệu quả đảm bảo cho cơ quan đơn vị thực hiện công việc quản lí và điều hành
Trang 8theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao Từ những lập luận trên cho thấy công tác văn thư - lưu trữ là không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của bất
cứ cơ quan, đơn vị nào
Phòng nội vụ huyện Tân Phú là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú thực hiện chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực: tổ chức; biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; cán bộ, công chức xã, thị trấn; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua - khen thưởng…
Trong những năm qua công tác văn thư lưu trữ tại đây đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác văn thư lưu trữ của Phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế: Vẫn còn tình trạng cán bộ hoạt động không chuyên trách làm công tác văn thư lưu trữ; Việc soạn thảo và ban hành văn bản vẫn còn sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày và thẩm quyền ban hành; Công tác lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ
và lưu trữ hồ sơ còn chậm, chưa đầy đủ, chưa chính xác theo quy định, hoạt động chỉnh lý tài liệu chưa toàn diện…
Xuất phát từ thực tiễn đó, để góp phần giúp cho Phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú nhìn nhận, đánh giá chính xác hơn về thực trạng công tác văn thư lưu trữ, quản lý hồ phòng, từ đó có những giải pháp, kiến nghị, đề xuất và phương hướng tổ chức công tác văn thư lưu trữ phù hợp trong thời gian tới Đó
chính là lý do để giả quyết định lựa chọn nội dung: “Hoàn thiện công tác văn thư lưu trữ tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai” làm đề
tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về công tác văn thư – lưu trữ
Trang 9- Đánh giá thực trạng công tác văn thư lưu trữ tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai
- Đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh
Đồng Nai
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu công tác văn thư lưu trữ tại phòng nội
vụ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh Đồng
Nai
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng công tác văn
thư – lưu trữ trong giai đoạn 2017-2019
1.4 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của nghiên cứu
1.4.1 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài bước đầu giúp các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là phòng nội vụ, có góc nhìn toàn diện hơn về công tác văn thư lưu trữ nhằm mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn Bên cạnh đó đề tài còn đưa ra một số
đề xuất khắc phục những hạn chế còn tồn tại đối với công tác văn thư – lưu trữ tại
Tại phòng nội vụ UBND huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai
1.4.2 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến lý luận công tác văn thư lưu trữ với loại hình cơ quan là phòng nội vụ trực thuộc UBND huyện
Trang 101.5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, tóm tắt nội dung khóa luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục hình và biểu đồ, danh mục phụ lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận bao gồm 5 chương chính sau:
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 5: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác văn thư – lưu trữ
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC VĂN THƯ – LƯU TRỮ
1.1 CÔNG TÁC VĂN THƯ
1.1.1 Khái niệm
Văn thư là từ gốc Hán, dùng để chỉ các loại văn bản, giấy tờ “Văn” có nghĩa
là văn tự, “thư” có nghĩa là thư tịch Theo quan niệm của các triều đại phong kiến trước đây, công tác văn thư tức là những công việc có liên quan đến văn tự, thư
tịch
Ngày nay, khái niệm văn thư không còn xa lạ trong các cơ quan, tổ chức bởi tất cả các cơ quan đều sử dụng văn bản, giấy tờ làm phương tiện giao tiếp chính thức với nhau Làm các công việc như soạn thảo văn bản, quản lý văn bản… tức
là làm công tác văn thư Văn bản đã và đang được các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế,…, dùng để ghi chép và truyền
đạt thông tin phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành các mặt công tác
Những công việc như soạn thảo, duyệt ký ban hành văn bản, chuyển giao, tiếp nhận, đăng ký vào sổ, lập hồ sơ,… được gọi chung là công tác văn thư và đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc đối với cán bộ, viên chức mọi cơ quan, tổ chức Có thể định nghĩa công tác văn thư trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước,nhà
nước và các tổ chức chính trị-xã hội (sau đây gọi là công tác văn thư trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước) như sau:
Công tác văn thư trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước bao gồm toàn bộ các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý và sử dụng con dấu, quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức Nhà nước (Tại Khoản 2, Điều 1, Nghị định 110/2004/NĐ-CP)
Trang 121.1.2 Yêu cầu của công tác văn thư
Trong quá trình thực hiện nội dung của công tác văn thư ở cơ quan, tổ chức
Nhà nước phải đảm bảo các yêu cầu dưới dây:
- Nhanh chóng: là yêu cầu đối với công tác văn thư Quá trình giải quyết
công việc của cơ quan, tổ chức Nhà nước phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng văn bản và tổ chức quản lý, giải quyết văn bản Khi thực hiện yêu cầu này phải xem xét mức độ quan trọng, mức độ khẩn của văn bản để xây dựng và ban hành văn bản nhanh chóng, chuyển văn bản kịp thời, đúng người, đúng bộ phận chịu trách nhiệm giải quyết, không để sót việc, chậm việc và phải quy định rõ thời hạn giải quyết và
đơn giản hóa thủ tục giải quyết văn bản
- Chính xác
Về nội dung: nội dung văn bản phải đáp ứng yêu cầu giải quyết công việc và không trái với các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các quy định của Đảng, dẫn chứng phải trung thực, số liệu phải đầy đủ, chứng cứ phải rõ ràng Văn bản ban hành phải đúng về thể loại, chính xác về thẩm quyền ban hành, đầy đủ các thành phần thể thức do Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội quy định
Về nghiệp vụ văn thư: thực hiện đúng chế độ công tác văn thư và các khâu nghiệp vụ cụ thể như đánh máy văn bản, đăng ký, chuyển giao và quản lý văn
bản
- Bí mật: là yêu cầu quản lý đối với công tác văn thư, là biểu hiện tập trung
mang tính chính trị của công tác văn thư Trong nội dung văn bản đến, văn bản đi của
cơ quan, tổ chức Nhà nướccó nhiều vấn đề thuộc phạm vi bí mật của Đảng và Nhà nước Để bảo đảm yêu cầu này cần thực hiện đúng các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, như việc sử dụng mạng máy tính, bố trí phòng làm
việc, lựa chọn cán bộ văn thư đúng tiêu chuẩn,
Trang 13- Hiện đại: Việc thực hiện công tác văn thư gắn liền với việc sử dụng các phương tiện và kỹ thuật văn phòng hiện đại Hiện đại hóa công tác văn thư là một
trong những tiền đề nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công tác và ngày càng trở thành nhu cầu cấp bách của mỗi cơ quan, tổ chức Nhà nước Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa công tác văn thư phải được tiến hành từng bước, phù hợp với tổ chức, trình độ cán bộ và điều kiện của từng cơ quan, tổ chức Nói đến hiện đại hóa công tác văn thư là nói đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư và sử dụng trang thiết bị văn phòng hiện đại
1.1.3 Vị trí của công tác văn thư
Công tác văn thư không thể thiếu được trong hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức Các cơ quan, tổ chức Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội dù lớn hay nhỏ, muốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đều phải sử dụng văn bản, tài liệu để phổ biến các chủ trương, chính sách, phản ánh tình hình lên cấp trên, trao đổi, liên hệ, phối hợp công tác, ghi lại những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong hoạt động hàng ngày Đặc biệt, đối với văn phòng cấp ủy, văn phòng các tổ chức chính trị - xã hội là các cơ quan trực tiếp giúp các cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội tổ chức điều hành bộ máy, có chức năng thông tin tổng hợp phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo thì công tác văn thư lại càng quan trọng, nó giữ vị trí trọng yếu trong công tác văn phòn
1.1.4 Ý nghĩacủa công tác văn thư
Làm tốt công tác văn thư bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công tác của cơ quan, tổ chức Nhà nướcvà phòng chống
tệ quan liêu giấy tờ Trong hoạt động của cơ quan, từ việc đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cho đến phản ánh tình hình, nêu đề xuất, kiến nghị với cơ quan cấp trên, chỉ đạo cơ quan cấp dưới hoặc triển khai, giải quyết công việc đều phải dựa vào các nguồn thông tin có liên quan Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời thì hoạt động của cơ quan càng đạt hiệu quả cao, bởi lẽ thông tin phục vụ quản lý được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn thông tin chủ yếu nhất, chính xác nhất là thông tin từ văn bản
Trang 14vì văn bản là phương tiện chứa đựng, truyền đạt, phổ biến thông tin mang tính
pháp lý
Công tác văn thư bao gồm nhiều việc, liên quan đến nhiều người, nhiều bộ phận, do đó kết quả của công tác văn thư không chỉ ảnh hưởng đến một cơ quan mà
còn có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác Vì vậy làm tốt công tác văn thư sẽ:
Giúp lãnh đạo cơ quan chỉ đạo công việc chính xác, hiệu quả, không để chậm
việc, sót việc, tránh tệ quan liêu, giấy tờ, mệnh lệnh hành chính
Góp phần giữ gìn bí mật của Đảng, Nhà nước và cơ quan Mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước kể cả chủ trương tuyệt mật đều được phản ánh trong văn bản Việc giữ gìn bí mật của Đảng, Nhà nước và cơ quan là rất quan trọng; tổ chức tốt công tác văn thư, quản lý văn bản chặt chẽ, gửi văn bản đúng đối tượng, không để mất mát, thất lạc là góp phần giữ gìn tốt bí mật của Đảng, Nhà
nước và cơ quan
Đảm bảo giữ gìn đầy đủ chứng cớ về hoạt động của cơ quan, tổ chức Nhà nước Nội dung tài liệu phản ảnh hoạt động của cơ quan, tổ chức Nhà nướccũng như của các cá nhân giữ trọng trách trong cơ quan, tổ chức Nếu trong quy trình hoạt động của cơ quan, tài liệu giữ lại đầy đủ, nội dung văn bản chính xác, phản ảnh trung thực hoạt động của cơ quan thì khi cần thiết, tài liệu sẽ là bằng chứng
pháp lý phản ảnh trung thực hoạt động của cơ quan
-Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lưu trữ Tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan là nguồn bổ sung thường xuyên, chủ yếu cho lưu trữ hiện hành và lưu trữ cấp ủy Vì vậy, nếu làm tốt công tác văn thư, mọi công việc của cơ quan, tổ chức đều được văn bản hoá; giải quyết xong công việc, tài liệu được lập hồ sơ đầy đủ, nộp lưu vào lưu trữ cơ quan đúng quy định sẽ tạo thuận lợi cho công tác lưu trữ tiến hành các khâu nghiệp vụ tiếp theo như phân loại, xác định giá trị, thống kê, bảo quản và phục vụ tốt cho công tác khai thác, sử dụng tài liệu hàng ngày và lâu dài về sau
Trang 151.1.5 Yêu cầu đối với cán bộ làm công tác văn thư tại cơ quan, tổ chức Nhà nước
Tính chất, nội dung công việc và quan hệ tiếp xúc hàng ngày đòi hỏi cán bộ được bố trí làm cán bộ văn thư phải có đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức văn thư theo quy định của pháp luật Trong thực tế, người cán bộ văn thư cơ
quan, tổ chức Nhà nướcphải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Yêu cầu về phẩm chất chính trị
- Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ
- Những yêu cầu khác về đạo đức công vụ
* Yêu cầu về phẩm chất chính trị
Người cán bộ văn thư hàng ngày tiếp xúc với văn bản, có thể nắm được những hoạt động quan trọng của cơ quan, tổ chức Nhà nước, trong đó có cả những vấn đề có tính chất cơ mật Vì vậy, đòi hỏi đầu tiên với người cán bộ văn thư là
Trang 16*Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ
Yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ văn thư phải được thể hiện
trên hai mặt là lý luận nghiệp vụ và kỹ năng thực hành
Về lý luận nghiệp vụ: Người cán bộ văn thư phải nắm vững lý luận nghiệp
vụ về công tác văn thư, trong đó phải hiểu nội dung nghiệp vụ, cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để thực hiện nghiệp vụ đó Bên cạnh sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ phải có sự hiểu biết về một số nghiệp vụ cơ bản khác có liên quan
để hỗ trợ cho nghiệp vụ chuyên môn của mình Yêu cầu quan trọng đặt ra đối với người cán bộ văn thư là không chỉ học tập về lý luận nghiệp vụ ở trường, mà còn phải có ý thức học tập nâng cao trình độ lý luận nghiệp vụ trong suốt quá trình công tác, từng bước rèn luyện, hoàn thiện bản thân mình cùng với sự hoàn thiện về
nghiệp vụ
*Những yêu cầu khác:
Tính chất nội dung công việc đòi hỏi người cán bộ văn thư của cơ quan, tổ chức Nhà nướckhông những phải có các yêu cầu cơ bản của bất cứ lao động nào như tính trung thực thẳng thắn, chân thành, nhanh nhẹn, kịp thời, bền bỉ, cởi mở,
kỷ luật, kiên quyết, công bằng mà còn đòi hỏi phải có những yêu cầu dưới đây:
Trang 17- Tính bí mật: Tính bí mật ở người cán bộ văn thư phải được thể hiện cụ thể:
+ Có sự kín đáo
+ Có ý thức giữ gìn bí mật
+ Bất cứ trong trường hợp nào khi ra khỏi phòng làm việc không được để
văn bản, tài liệu trên bàn; những ghi chép có nội dung quan trọng không được vứt vào sọt rác
+ Luôn luôn cảnh giác, không để kẻ gian lợi dụng sơ hở để nắm bí mật của
Đảng, bí mật của cơ quan, tổ chức Nhà nước
-Tính tỉ mỉ: Nội dung công việc hằng ngày đòi hỏi phải cụ thể đến từng chi tiết
Vì vậy cán bộ văn thư phải có tính tỉ mỉ Tính tỉ mỉ phải được thể hiện trên các nội dung:
+ Bất cứ công việc nào đều phải thực hiện hoàn chỉnh đến từng chi tiết nhỏ,
không được bỏ qua bất cứ một chi tiết nào dù là nhỏ nhất, đặc biệt đối với việc thống kê
và kiểm tra các nhiệm vụ, ghi chép và chuyển những lời nhắn v.v
+ Không được bỏ sót bất cứ công việc nào trong nhiệm vụ thường ngày cũng như đối với công việc đột xuất mới nảy sinh
- Tính thận trọng:
Trước khi làm một việc gì hoặc đề xuất một việc gì đều phải suy xét một cách thận trọng Đặc biệt đối với việc phát hiện những sai sót của cán bộ trong cơ quan, tổ chức Nhà nướcvề công tác văn thư; những trường hợp nghi ngờ văn bản giấy tờ giả mạo, những nghi vấn về việc sử dụng con dấu không đúng quy định Tính thận trọng sẽ giúp cán bộ văn thư có được những ý kiến chắc chắn, tránh phạm phải sai lầm
Trang 18- Tính ngăn nắp, gọn gang
Sự ngăn nắp gọn gàng phải luôn luôn thường trực đối với người cán bộ văn thư Người cán bộ văn thư luôn tiếp xúc với văn bản giấy tờ, nội dung công việc lại phức tạp, nếu không gọn gàng ngăn nắp thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công việc
Mặt khác, phòng làm việc của văn thư không chỉ một mình người văn thư làm việc mà còn là nơi có nhiều người đến liên hệ công tác như xin cấp giấy giới thiệu, tra tìm văn bản, đóng dấu giấy tờ v.v Nếu không trật tự ngăn nắp sẽ gây ấn tượng không tốt đối với cán bộ văn thư
- Độ tin cậy
Cán bộ văn thư là người tiếp xúc với văn bản, nắm được nội dung hoạt động của cơ quan Vì vậy người văn thư luôn luôn phải thể hiện độ tin cậy Do có nhiều công việc nên lãnh đạo không thể quan tâm và kiểm tra hết mọi công việc của văn thư Phần lớn các thủ trưởng đều tin tưởng ở văn thư Vì vậy, cán bộ văn thư phải giữ vững sự tin tưởng đó để thủ trưởng có thể yên tâm làm việc
Mặt khác người cán bộ văn thư phải được đào tạo về nghiệp vụ chuyên môn
và luôn luôn bảo đảm nghiệp vụ không sai sót Điều đó làm cho cán bộ lãnh đạo yên tâm và tin cậy cán bộ văn thư
- Tính nguyên tắc
Nội dung nghiệp vụ văn thư phải được thực hiện theo chế độ quy định của Đảng, Nhà nước và của cơ quan, trước hết là các quy định của cơ quan, tổ chức Nhà nướcnhư chế độ bảo vệ bí mật, quy định về công tác văn thư, lưu trữ v.v Dù bất cứ lúc nào và hoàn cảnh nào người cán bộ văn thư phải giữ đúng chế độ đã được quy định không được phép thay đổi quy định Đặc biệt người cán bộ văn thư phải có ý thức được rằng không có bất cứ một ngoại lệ nào trong các quy định
Trang 19Trong trường hợp các vấn đề đặt ra có những chi tiết khác với quy định của Đảng, Nhà nước và của cơ quan, tốt nhất phải xin ý kiến người phụ trách có thẩm quyền, không được tự ý giải quyết bất cứ việc gì ngoài quy định
- Tính tế nhị
Công việc của người cán bộ văn thư tạo ra môi trường tiếp xúc với nhiều đối tượng khác nhau Vì vậy người cán bộ văn thư phải luôn luôn thể hiện sự lễ độ, thân mật với người khác, đồng thời phải chiến thắng tâm trạng không hài lòng, sự phân tán thiếu kiên trì, sự mệt mỏi, quá xúc cảm, kể cả thái độ suồng sã kiểu bạn
bè đối với đồng nghiệp và những người quen biết Đặc biệt phải tránh nóng vội khi
có việc khẩn cấp hoặc phải trả lời những yêu cầu của người khác hoặc khi nghi ngờ một điều gì đó trong công việc
Tính tế nhị sẽ giúp cho cán bộ văn thư ngày càng chiếm được lòng tin và sự yêu mến của bạn bè đồng nghiệp và mọi người trong cơ quan, tổ chức Nhà nước Điều đó giúp cho người cán bộ văn thư tạo được bầu không khí thoải mái trong phòng làm việc của mình Đó cũng là một trong những điều kiện để nâng cao hiệu quả trong công việc
1.1.6 Nội dung công tác văn thư
Tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư đã nêu rõ Công tác văn thư gồm những công việc chính sau:
1.1.6.1 Soạn thảo và ban hành văn bản
Quá trình soạn thảo để ban hành một văn bản thường trải qua những công việc như sau:
Bước 1: Thảo văn bản
Tại Khoản 1 và 2, Điều 7, Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
1 Việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thực hiện các quy định của Luật số 17/2008/QH12 ngày 16 tháng 8 năm 2008 về ban hành văn bản quy phạm
Trang 20pháp luật và Luật số 31/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
2 Việc soạn thảo văn bản khác được thực hiện như sau:
a) Căn cứ tính chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, lãnh đạo cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) giao cho một đơn vị hoặc một công chức, viên chức soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo văn bản
b) Đơn vị hoặc công chức, viên chức được giao soạn thảo văn bản có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
c) Xác định hình thức, nội dung và độ mật, độ khẩn, nơi nhận văn bản; d) Thu thập, xử lý thông tin có liên quan;
e) Soạn thảo văn bản;
f) Trường hợp cần thiết, đề xuất với Lãnh đạo cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên
cơ quan, tổ chức) tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ
quan, tổ chức) hoặc cá nhân có liên quan; nghiên cứu tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh bản thảo;
g) Trình duyệt dự thảo văn bản
Bước 2: Duyệt văn bản
Tại Khoản 1 và 2, Điều 8, Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
1 Dự thảo văn bản phải do người có thẩm quyền ký duyệt văn bản
2 Trong trường hợp dự thảo đã được Lãnh đạo cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên
cơ
quan, tổ chức) phê duyệt, nhưng thấy cần thiết phải sửa chữa, bổ sung thêm vào dự thảo thì đơn vị hoặc cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản phải trình người đã duyệt dự thảo xem xét, quyết định việc sửa chữa, bổ sung
Bước 3: Kiểm tra văn bản trước khi ký ban hành
Tại Khoản 1 và 2, Điều 9, Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
1 Người đứng đầu đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về độ chính xác của nội dung văn bản, ký nháy/tắt vào cuối nội
Trang 21dung văn bản (sau dấu /.) trước khi trình Lãnh đạo cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên
tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) và phải ký nháy/tắt vào vị trí cuối cùng ở
2 Quyền hạn, chức vụ, họ và tên, chữ ký của người có thẩm quyền
Thủ trưởng cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) ký tất cả các văn bản do
cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) ban hành Các trường hợp ký thay (phải ghi KT.), ký thừa lệnh (phải ghi TL.), ký thừa ủy quyền (phải ghi TUQ.), ký thay mặt (phải ghi TM.)
3 Không dùng bút chì, bút mực đỏ để ký văn bản
Bước 5: Bản sao văn bản
Tại Khoản 1 đến Khoản 6, Điều 11, Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
1 Các hình thức bản sao gồm: Sao y bản chính, sao lục và trích sao
2 Thể thức bản sao thực hiện theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV
Trang 223 Việc sao y bản chính, sao lục, trích sao văn bản do lãnh đạo cơ quan, tổ chức
(nêu rõ tên cơ quan, tổ chức), Chánh Văn phòng cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) quyết định
4 Bản sao y bản chính, sao lục, trích sao thực hiện đúng quy định pháp luật
có giá trị pháp lý như bản chính
5 Bản sao chụp (photocopy cả dấu và chữ ký của văn bản chính) không thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì chỉ có giá trị thông tin, tham khảo
6 Không được sao, chụp, chuyển phát ra ngoài cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên
cơ quan, tổ chức) những ý kiến ghi bên lề văn bản Trường hợp các ý kiến của Lãnh đạo cơ quan, tổ chức (nêu rõ tên cơ quan, tổ chức) ghi trong văn bản cần thiết cho việc giao dịch, trao đổi công tác phải được thể chế hóa bằng văn bản hành chính
1.1.6.2 Quản lý và giải quyết văn bản
a Tổ chức quản lý và giải quyết văn bản đến Khái niệm
Tại Khoản 3, Điều 2, chương I, Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
“Văn bản đến là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản fax, văn bản được chuyển qua
mạng, văn bản mật) và đơn, thư gửi đến cơ quan, tổ chức”
Nội dung, nghiệp vụ tổ chức quản lý và giải quyết văn bản đến:
Bước 1: Tiếp nhận văn bản đến
Tại Khoản 1, Điều 4, Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan quy định
a) Khi tiếp nhận văn bản đến từ mọi nguồn, trong giờ hoặc ngoài giờ làm việc Văn thư hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến phải kiểm tra số lượng, tính trang bị, dấu niêm phong (nếu có), kiểm tra, đối chiếu với nơi gửi trước khi nhận và ký nhận
b) Trường hợp phát hiện thiếu, mất bì, tình trạng bì không còn nguyên vẹn hoặc
Trang 23văn bản được chuyển đến muộn hơn thời gian ghi trên bì (đối với bì văn bản có đóng dấu “Hỏa tốc” hẹn giờ), Văn thư hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến phải báo cáo ngay người có trách nhiệm; trường hợp cần thiết, phải lập biên bản với người chuyển văn bản
c) Đối với văn bản đến được chuyển phát qua máy Fax hoặc qua mạng, Văn thư
phải kiểm tra số lượng văn bản, số lượng trang của mỗi văn bản; nếu phát hiện có sai sót, phải kịp thời thông báo cho nơi gửi hoặc báo cáo người có trách nhiệm xem xét, giải quyết
Bước 2: Kiểm tra, Phân loại, Bóc bì văn bản
Tại Khoản 1, Điều 14, Chương I Thông tư 04/2013/TT-BNV hướng dẫn xây dựng quy chế công tác văn thư lưu trữ của các cơ quan, tổ chức quy định
Văn thư hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến phải kiểm tra
số lượng, tình trạng bì, dấu niêm phong (nếu có), kiểm tra, đối chiếu với nơi gửi
trước khi nhận và ký nhận
Khi tiếp nhận văn bản đến cơ quan, đơn vị mình cán bộ văn thư nhận trực tiếp văn bản phải kiểm tra sơ bộ xem ngoài bì văn bản đó có gửi đúng cho cơ quan mình không? Số lượng văn bản có đủ không? Nếu thiếu phải hỏi lại người chuyển văn bản cho đơn vị mình Phải kiểm tra phong bì có nguyên vẹn hay không? Có dấu hiệu bị rách, bị bóc văn bản bên trong hay không? Nếu có phải báo lại cho người phụ trách văn thư cơ quan và phải lập văn bản với người đưa văn bản đến
Sau khi đã nhận đủ số lượng văn bản gửi đến cơ quan mình, bộ phận văn thư phải tiến hành phân loại các văn bản nhận thành hai loại:
Tại Khoản 2, Điều 4, Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan quy định
Loại phải bóc bì: các bì văn bản đến gửi cho cơ quan, tổ chức
Loại không bóc bì: các bì văn bản đến có đóng dấu chỉ các mức độ mật hoặc gửi đích danh cá nhân và các tổ chức đoàn thể trong cơ quan, tổ chức Văn thư chuyển tiếp cho nơi nhận Những bì văn bản gửi đích danh cá nhân, nếu là văn bản
Trang 24liên quan đến công việc chung của cơ quan, tổ chức thì cá nhân nhận văn bản có trách nhiệm chuyển lại cho Văn thư để đăng ký
Việc bóc bì văn bản mật được thực hiện theo quy định tại Thông tư 12/2002/TT-BCA(A11) ngày 13 tháng 9 năm 2002 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước và quy định cụ thể của
Cơ quan, tổ chức
Khi bóc bì văn bản phải nhẹ nhàng không được làm rách văn bản bên trong, không được làm mất phần số và ký hiệu văn bản đã ghi ở ngoài phong bì, không được làm mất dấu hiệu bưu điện trên phong bì
Đối với văn bản thường: Khi tiến hành bóc bì văn bản, cán bộ văn thư phải lấy văn bản ra nhẹ nhàng tránh làm rách văn bản, phải đối chiếu ký hiệu văn bản
đã được ghi bên ngoài phong bì với số ký hiệu văn bản xem có khớp nhau không?
Bước 3: Đóng dấu đến, ghi số đến và ngày đến
Mục đích của công việc đóng dấu, ghi số, ghi ngày đến là để xác nhận văn bản đã qua văn thư và ghi nhận ngày tháng văn bản đến cơ quan
Tại Khoản 3, Điều 4, Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập
hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan quy định
Tất cả văn bản đến thuộc diện đăng ký tại Văn thư phải được đóng dấu
“Đến”; ghi số đến và ngày đến (kể cả giờ đến trong những trường hợp cần thiết) Đối với văn bản đến được chuyển qua Fax và qua mạng, trong trường hợp cần thiết, phải sao chụp hoặc in ra giấy và đóng dấu “Đến”
Những văn bản đến không thuộc diện đăng ký tại Văn thư (văn bản gửi đích danh cho tổ chức đoàn thể, đơn vị hoặc cá nhân) thì chuyển cho nơi nhận mà không phải đóng đấu “Đến”
Dấu “Đến” được dóng rõ ràng, ngay ngắn vào khoảng giấy trống dưới số, ký hiệu (đối với những văn bản có tên loại), dưới phần trích yếu nội dung (đối với công văn) hoặc vào khoảng giấy trống dưới ngày, tháng, năm ban hành văn bản
Mẫu dấu “Đến” và cách ghi các thông tin trên dấu “Đến” thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục I
Trang 25Bước 4: Đăng ký văn bản đến
Theo Điều 5 Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ
sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan quy định
1 Đăng ký văn bản đến bằng sổ
a) Lập Sổ đăng ký văn bản đến
Căn cứ số lượng văn bản đến hàng năm, các cơ quan, tổ chức quy định việc lập các loại sổ đăng ký cho phù hợp Cụ thể như sau:
Trường hợp dưới 2000 văn bản đến, nên lặp hai sổ: Sổ đăng ký văn bản đến dùng
để đăng ký tất cả các loại văn bản (trừ văn bản mật) và sổ đăng ký văn bản mật đến;
Từ 2000 đến dưới 5000 văn bản đến, nên lập ba sổ, ví dụ: Sổ đăng ký văn bản đến của các bộ, ngành, cơ quan trung ương; Sổ đăng ký văn bản đến của các cơ quan,
tổ chức khác; Sổ đăng ký văn bản mật đến;
Trên 5000 văn bản đến, nên lập các sổ đăng ký chi tiết theo nhóm cơ quan giao dịch nhất định và Số đăng ký văn bản mật đến;
Các cơ quan, tổ chức hàng năm tiếp nhận nhiều đơn, thư khiếu nại, tố cáo thì lập
sổ đăng ký đơn, thư riêng;
Đối với những cơ quan, tổ chức hàng năm tiếp nhận, giải quyết số lượng lớn yêu cầu dịch vụ hành chính công hoặc các yêu cầu, đề nghị khác của cơ quan, tổ chức
và công dân thì lặp thêm các Sổ đăng ký yêu cầu dịch vụ theo quy định của pháp luật
b) Đăng ký văn bản đến
Phải đăng ký đầy đủ, rõ ràng, chính xác các thông tin cần thiết về văn bản; không viết bằng bút chì, bút mực đỏ; không viết tắt những từ, cụm từ không thông dụng Mẫu Sổ đăng ký văn bản đến và cách đăng ký văn bản đến, văn bản mật đến thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục II
Mẫu Sổ đăng ký đơn, thư và cách đăng ký đơn, thư thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục III
Trang 262 Đăng ký văn bản đến bằng Cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đến trên máy vi tính a) Yêu cầu chung đối với việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đến được
thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật về lĩnh vực này
b) Việc đăng ký (cập nhật) văn bản đến vào Cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đến
được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng chương trình phần mềm quản lý văn bản của cơ quan, tổ chức cung cấp chương trình phần mềm đó
c) Văn bản đến được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đến phải được in ra giấy để ký nhận bản chính và đóng sổ để quản lý
d) Không sử dụng máy vi tính nối mạng nội bộ và mạng diện rộng để đăng
ký văn bản mật đến
Bước 5: Trình văn bản đến
Tại Khoản 1, Điều 6, Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập
hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan quy định
a) Sau khi đăng ký văn bản đến, Văn thư phải trình kịp thời cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc người được người đứng đầu cơ quan, tổ chức giao trách nhiệm (sau đây gọi chung là người có thẩm quyền) xem xét và cho ý kiến phân phối, chỉ đạo giải quyết Văn bản đến có dấu chỉ các mức độ khẩn phải được trình
và chuyển giao ngay sau khi nhận được
b) Căn cứ nội dung của văn bản đến; Quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức; chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch công tác được giao cho các đơn vị, cá nhân, người có thẩm quyền phân phối văn bản cho ý kiến chỉ đạo giải quyết và thời hạn giải quyết văn bản (nếu cần)
Đối với văn bản đến liên quan đến nhiều đơn vị hoặc nhiều cá nhân thì cần ghi rõ đơn vị hoặc cá nhân chủ trì, đơn vị hoặc cá nhân phối hợp và thời hạn giải quyết của mỗi đơn vị, cá nhân (nếu cần)
c) Ý kiến phân phối văn bản được ghi vào mục “Chuyển” trong dấu “Đến”
Ý kiến chỉ đạo giải quyết (nếu có) và thời hạn giải quyết văn bản đến (nếu có)