Giáo dục đạo đức nói chung và đạo đức Hồ Chí Minh nói riêngcho học sinh là một việc làm rất quan trọng, cần thiết, không chỉ tronggiai đoạn hiện nay mà cả về sau.. Đó là một trong những
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG THỊ BÍCH PHƯƠNG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở ĐÀ NẴNG
(Nghiên cứu trường hợp trường THCS Trưng Vương, Đà Nẵng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng – Năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là người Việt Nam, chúng ta thật vinh hạnh có một dân tộc bấtkhuất, kiên trung, có nhân dân cần cù, dũng cảm, có một vị lãnh tụ vĩđại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà đối với cả thế giới – Bác
Hồ kính yêu Người đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp cho dântộc và nhân loại Người đã vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác– Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta, nhờ đó mà cách mạng đãdành được nhiều thắng lợi vẻ vang Trong suốt sự nghiệp của mình,Người đã để lại tài sản vô giá cho toàn Đảng, toàn dân ta trở thành tưtưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời cho dân tộc Việt Nam và của
cả nhân loại Tư tưởng và đạo đức của Người được biểu hiện ra thànhvăn hoá, thành nghệ thuật ứng xử trong mọi lúc mọi nơi, làm nên nhâncách - phong cách và phương pháp Hồ Chí Minh Văn hoá đạo đức HồChí Minh có sức lan toả và sự cảm hoá mạnh mẽ, vượt thời gian vàkhông gian
Với tầm nhìn chiến lược và tình thương yêu to lớn đối với thế hệtrẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đánh giá đúng đắn vaitrò của thế hệ trẻ Tư tưởng của người về bồi dưỡng thế hệ trẻ, bồidưỡng cách mạng cho đời sau vẫn luôn mang tính thời sự, mang giá trị
lý luận và thực tiễn sâu sắc Trong suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng, Người luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh niên
để phục vụ sự nghiệp cách mạng Ngay sau khi Cách mạng tháng Támthành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tích HồChí Minh đã viết những lời thiết tha trong Thư gửi các học sinh nhânngày khai trường (9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹphay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vaivới các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phầnlớn ở công học tập của các em”
Trang 3
Giáo dục đạo đức nói chung và đạo đức Hồ Chí Minh nói riêngcho học sinh là một việc làm rất quan trọng, cần thiết, không chỉ tronggiai đoạn hiện nay mà cả về sau Đó là một trong những nội dung củaviệc “học lễ” cũng là một nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp “trồngngười”.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Vận dụng
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho học sinh
THCS ở Đà Nẵng (Nghiên cứu trường hợp trường THCS Trưng Vương Đà Nẵng)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, chuyên
ngành Triết học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
và vận dụng tư tưởng đó vào việc giáo dục đạo đức cho học sinhTHCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên đề tài có ba nhiệm vụ chính:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận về đạo đức
Hai là, làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Ba là, nêu và phân tích thực trạng giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh cho học sinh THCS Trưng Vương Đà Nẵng hiện nay, từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởngnói trên cho học sinh THCS Trưng Vương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh vào giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở ở Đà Nẵng (Nghiên cứu trường hợp trường THCS Trưng Vương Đà Nẵng)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 4- Về không gian: Đề tài được thực hiện tại trường THCS Trưng
Vương Đà Nẵng
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức
cho học sinh THCS Trưng Vương, Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2022
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng, chính sách nhà nước vềvăn hoá, tư tưởng, giáo dục
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trongkhoa học xã hội như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp Bêncạnh đó để có kết quả đánh giá thực tiễn, luận văn sử dụng phươngpháp thống kê
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm
3 chương, 10 tiết
Chương 1: Khái luận chung về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh
Chương 2: Thực trạng giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
cho học sinh THCS Trưng Vương Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh trường THCS Trưng Vương hiện nay
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO
ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẠO ĐỨC:
1.1.1 Khái niệm đạo đức
a Các quan niệm khác nhau về đạo đức
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người TrungQuốc cổ đại xuất hiện từ rất sớm, trong đó biểu hiện rõ nét nhất lànhững quan niệm về đạo và đức Đạo đức là một trong những phạmtrù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa làcon đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội Đứcdùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức tính là biểuhiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc, luân lí
Ở phương Tây, tư lâu vấn đề đạo đức đã thu hút sự quan tâm củanhiều nhà tư tưởng Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrat (469-399TCN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học Đạo đức học CònArixtot (384-322 TCN) đã viết bộ sách 10 cuốn về Đạo đức học, trong
đó ông đặc biệt đề cao đến phẩm hạnh con người Nội dung của phẩmhạnh chính là chỗ biết định hướng đúng, biết làm việc thiện Ông nói:Chúng ta bàn về đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà là đểtrở thành con người có đức hạnh
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan
hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
b Quan niệm của triết học Mác-Lênin về đạo đức
Trang 6Khác với các cách tiếp cận duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan
và duy vật tầm thường đối với các quan hệ đạo đức của đời sống,
C Mác và Ph Ăngghen dựa trên quan điểm duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử đã xây dựng một học thuyết đạo đức học có tính cáchmạng Không tán thành với các học thuyết về đạo đức của Platôn, củaHêghen, của Kant và cả của Phoiơbắc, C Mác và Ph Ăngghen gắnquan hệ đạo đức với đời sống hiện thực của con người Lần đầu tiêntrong lịch sử phát triển của đạo đức học, C Mác và Ph Ăngghen đãgắn các quan hệ đạo đức của mình với hiện thực
Tính cách mạng của học thuyết đạo đức của C Mác và Ph.Ăngghen là ở chỗ các ông đã đặt sự vận động của các quan hệ đạo đứctrên cơ sở vận động của các phương thức sản xuất và tìm ra tính chấtđộc lập tương đối của đạo đức Phân tích các quan hệ đạo đức trongcác xã hội có áp bức bóc lột gia cấp khốc liệt, C Mác và Ph Ăngghen
đã nhận thấy rằng, mâu thuẫn giai cấp đã phản ảnh vào mâu thuẫn đạođức Và, thái độ đạo đức chân chính nhất là đấu tranh chống áp bức vàbóc lột
1.1.2 Nguồn gốc của đạo đức
a Các quan niệm khác nhau về nguồn gốc của đạo đức
Theo quan niệm của Cơ đốc giáo, toàn thể vũ trụ, trái đất và conngười đều do Thiên chúa sáng tạo ra Trong sự sáng tạo kỳ diệu đó,con người là sinh thể duy nhất được một đặc ân: được sáng tạo theohình ảnh của Thiên Chúa và được Thiên Chúa coi như con
Các nhà triết học duy tâm khách quan, về thực chất, cũng cócách nhìn nhận nguồn gốc và bản chất đạo đức tương tự quan điểmtôn giáo Có điều, cách nhìn nhận của họ được lý luận hoá bằngnhững học thuyết triết học
Mặc dù thấy được đạo đức trong quan hệ người, nhưng Phoiơbắckhông thấy được tính quy định của các quy định của các quan hệ kinh
tế - xã hội đối với đạo đức Vì thế, rốt cuộc, đạo đức đối với Phoiơbắc
Trang 7cũng chỉ là một năng lực bẩm sinh, trừu tượng, bất biến và xét tớicùng cũng chỉ cần một sức mạnh từ bên ngoài gán vào cho xã hội vàcon người.
b Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức
Khác với tất cả các quan niệm trước đó, quan niệm mácxit khẳngđịnh rằng, đạo đức có nguồn gốc từ lao động Tính quy định sâu xacủa lao động đối với sự hinhg thành đạo đức biểu hiện trước hết ở vaitrò của lao động trong sự hình thành con người C.Mác từng chỉ rarằng, hành động lịch sử đầu tiên của con người là lao động Nhưng laođộng với tư cách là lao động thì không bao giờ là một hành động đơn
lẻ, cá biệt Trong các quan hệ giữa người với người, nghĩa là trong cácquan hệ xã hội, con người tiến hành lao động để thoả mãn các nhu cầusống cũng như các lợi ích của mình Nhờ có tư duy, con người nhận ra
sự cần thiết của sự tương trợ lẫn nhau trong lao động Tính tất yếu nàyđòi hỏi một sự hy sinh nhât định lợi ích cá nhân cho lợi ích của ngườikhác, lợi ích của cộng đồng
1.1.3 Bản chất của đạo đức
a Các quan niệm khác nhau về bản chất của đạo đức
Quan niệm mang tính tự nhiên
Từ chỗ cho đạo đức có nguồn gốc từ bản năng động vật, nhữngngười theo quan điểm tự nhiên đi tới khẳng định đạo đức mang bảnchất tự nhiên Chính vì thế đã dẫn tới sai lầm cho rằng đạo đức củacon người cũng giống như con vật mang bản chất tộc loài
Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Theo quan điểm duy tâm chủ quan, đạo đức là một thứ trí tuệ đặcbiệt, một tình cảm nhân từ, một trách nhiệm cao cả, một lương tâm vịtha, một ý chí không khuất phục Những phẩm chất đó không thể có ởcon người bình thường, nhất là những người tự do, vị kỉ
Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm khách quan
Trang 8Xuất phát từ một lực lượng tinh thần siêu tự nhiên gồm “ý niệm”,
“ý niệm tuyệt đối” là cơ sở của hiện thực các nhà duy tâm khách quan
đã khẳng định đạo đức mang bản chất của “ý niệm”, “ý niệm tuyệtđối”, chứ không phải là sự phản ánh đời sống hiện thức
Quan niệm của tôn giáo
Xuất phát từ quan niệm đồng nhất tôn giáo với đạo đức và đạođức nảy sinh từ lòng tin tôn giáo, một số học giả cho rằng, nguồn gốccủa đạo đức là từ tôn giáo hay nói một cách khác là tôn giáo sinh rađạo đức Vì vậy, bản chất của đạo đức là tôn giáo
Quan niệm của đạo đức học và xã hội học tư sản
Các nhà Đạo đức học và xã hội học tư sản xem đạo đức là sảnphẩm của xã hội nhằm kiềm chế lòng ham muốn vị kỉ của con người.Trong thuyết “kẻ có của, người có công” quan điểm trên đã áp dụng
để lí giải theo nghĩa hai bên cùng có lợi
Khác với tất cả các nhà thần học và triết học trước đó, C.Mácnhìn nhận đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội Trong sự tácđộng qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác nhau (chính trị, phápluật, tôn giáo, nghệ thuật) và cùng với các hình thái ý thức xã hội ấy,đạo đức chịu sự quy định của tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội
Tính thời đại của đạo đức
Tính dân tộc của đạo đức
Tính giai cấp của đạo đức
1.1.4 Chức năng của đạo đức
a Chức năng nhận thức
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồntại xã hội Các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức chính là sự phảnánh đặc thù các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Các nguyêntắc, các chuẩn mực này được diễn đạt (thể hiện) dười hình thức cácphán đoán đánh giá Như vậy, nhận thức đạo đức khác với nhận thức
Trang 9khoa học Nếu trong nhận thức khoa học, phán đoán của con người làphán đoán về sự kiện hoặc phán đoán về đối tượng thực tại thì trongnhận thức đạo đức, phán đoán là phán đoán về giá trị đạo đức của sựkiện, đối tượng.
và nghĩa vụ đạo đức Do đó, hành vi thực hiện các yêu cầu đạo đức xãhội trở thành hành vi tự do
c Chức năng giáo dục
Đạo đức là một trong những phương diện và là phương diện cốtyếu nhất của nhân cách Người có học vấn nhưng vô đạo đức hoặc cónhiều thói xấu đạo đức, không được coi là người có nhân cách pháttriển Năng lực đạo đức hoặc những phẩm chất đạo đức của con ngườivới tư cách cá nhân không phải tự nhiên mà có được Sự hình thành vàphát triển đạo đức cá nhân bị quy định bởi những điều kiện kinh tế -
xã hội và bởi hệ thống đạo đức của xã hội Tác động của hệ thống đạođức xã hội tới sự hình thành đạo đức cá nhân chính là sự thể hiện vàthực hiện chức năng giáo dục của đạo đức
1.1.5 Vai trò của đạo đức
Thứ nhất, đạo đức có vai trò quan trọng trong mọi xã hội Đạo
đức là cốt lõi của nền văn hoá
Thứ hai, trong mối quan hệ xã hội, đạo đức là động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chínhtrị - xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội
Thứ ba, trong lĩnh vực quản lý xã hội, cùng với pháp luật, đạo đức
là công cụ để quản lý xã hội từ việc kết hợp giữa đức trị và pháp trị
Trang 10Thứ tư, đạo đức thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ quốc tế.
1.2 TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
a Giá trị truyền thống dân tộc
Nhìn lại quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộcViệt Nam, khi các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị nước ta,nền đạo đức phong kiến phương Bắc chủ yếu là đạo đức Nho giáo,bên cạnh đó là đạo đức của Phật giáo ở Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốcđược du nhập vào Việt Nam Sau này, hơn 100 năm vói chính sách đô
hộ của thực dân Pháp và âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, đạo đức
tư bản, trong đó có cả đạo đức của Thiên chúa giáo ồ ạt vào nước ta.Điều đó cho thấy, trước Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam, sự
du nhập kế tiếp nhau của các nền đạo đức phong kiến, tư bản đã tácđộng mạnh đến đời sống tinh thần của xã hội
b Tinh hoa văn hoá nhân loại
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, trên lĩnh vực đạođức, Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập đến Đức chúa Giêsu, chủ nghĩa nhânđạo, vấn đề nhân quyền Mặc dù các học thuyết đều có hai mặt trái nhau,nhưng Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tinh hoa trong các giáo lý và họcthuyết đó để rồi kế thừa, đổi mới, phát triển trong tư tưởng đạo đức củamình Đó là tổng hợp những quan điểm thể hiện sự tôn trọng phẩm giá vàquyền của con người, sự chăm lo đến hạnh phúc, sự phát triển toàn diệncho con người và chăm lo đến hạnh phúc, sự phát triển toàn diện cho conngười và chăm lo đến việc tạo ra những điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho
xã hội Yếu tố tích cực của chủ nghĩa nhân đạo phương Tây là vấn đề conngười Nó có chiều rộng khắp cả đông tây và chiều sâu của cả sự pháttriển xã hội loài người
c Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương phápluận của tư tưởng Hồ Chí Minh Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin
Trang 11ở Hồ Chí Minh diễn ra trên nền tảng của những tri thức văn hoá tinhtuý được chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phongphú, được tích luỹ qua thực tiễn hoạt động đấu tranh vì mục tiêu cứunước và giải phóng dân tộc.
1.2.2 Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh:
a Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mới, đạo đức cách mạng:
Một là, trung với nước, hiếu với dân:
Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đứctruyền thống Việt Nam và phương Đông, được Hồ Chí Minh sử dụng
và đưa vào nội dung mới
Hai là, yêu thương con người, sống có nghĩa tình
Tình yêu thương con người được thể hiện trong mối quan hệ bạn
bè, đồng chí, với tất cả mọi người trong quan hệ hàng ngày Nó đòihỏi con người phải luôn luôn nghiêm khắc với bản thân mình, rộngrãi, độ lượng với người khác Đó còn là thái độ tôn trọng con người,phải biết cách nâng con người lên, phát huy những điểm tốt của họchứ không phải hạ thấp, càng không phải vùi dập con người
Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư:
Hồ Chí Minh đã sử dụng những khái niệm cần, kiệm, liêm,chính, chí công vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyềnthống Việt Nam, nhưng giữ lại những gì tốt đẹp của quá khứ, lọc bỏnhững gì không còn phù hợp và đưa vào những nội dung mới
Cần tức là lao động cần cù siêng năng; lao động có kế hoạch,
sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh,không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm
của dân, của ngời, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cáinhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to
Liêm tức là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân;
“không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”
Trang 12Chính “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn”
Chí công vô tư là “đem lòng chí công vô tư mà đối với người,
với việc”
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng:
Theo Hồ Chí Minh, tinh thần quốc tế trong sáng bắt nguồn từchủ nghĩa yêu nước chân chính, yêu quý độc lập, tự do của dân tộcmình và tôn trọng độc lập, tự do của dân tộc khác
b Tư tưởng Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng
và thực hành đạo đức
Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức:
Hai là, xây đi đôi với chống:
Ba là, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời:
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 2.1 VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG – ĐÀ NẴNG
Mùa xuân năm 1975, trường Trung học cơ sở (THCS) TrưngVương vinh dự được thành lập, đến đầu năm học 1991 - 1992, trườngđược tách hẳn ra khỏi cấp I với tên gọi là trường cấp II Trưng Vương,nay là trường THCS Trưng Vương, trực thuộc sở Giáo dục - Đào tạo(GD-ĐT) TP Đà Nẵng
2.1.1 Về xây dựng tình hình đội ngũ
Đội ngũ CBGV nhà trường hiện nay đủ về số lượng, vững vàng
về chất lượng, đoàn kết, luôn có ý thức trách nhiệm với mọi công việcđược giao Với tổng số 94 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, nhàtrường có 100% giáo viên đạt chuẩn, 12 giáo viên đạt trình độ thạc sĩ.Điểm lại, trong 47 năm, qua 9 đời Hiệu trường, trường THCS TrưngVương đã có hơn 200 CBGV từng tham gia công tác tại trường.Với