Dựa trên một mô hình tâm lý học của S.Frued, điểm đặc biệt nhất của cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái là nó cung cấp một lăng kính nhằm tìm ra mối quan hệ giữa con ngừoi vớ
Trang 1Áp dụng Lý thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ Tâm lý- Giáo dục cho trẻ Rối loạn phổ
tự kỷ trong độ tuổi mẫu giáo ( Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Edunow)
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người chúng ta khi sinh ra không ai có thể lựa chọn được hoàn cảnh sống hay bất
cứ giá trị nào mà chúng ta mong muốn, trẻ em cũng vậy khi được sinh ra đời trẻ hoàn toàn không biết và cũng không thể lựa chọn cho mình một cơ thể khỏe mạnh hay một cơ thế khiếm khuyết Vì thế bên cạnh những đứa trẻ phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần thì còn có một tỉ lệ không nhỏ trẻ có những khiếm khuyết “Trẻ em như búp trên cành”, câu nói trên cho thấy trẻ em chính là nhóm đối tượng cần được nâng niu chăm sóc nhiều nhất, như vậy trẻ khuyết tật lai càng được ưu tiên, phát triển hơn cả
Có hai tình trạng khuyết tật của trẻ là khuyết tật về thể chất và khuyết tật về tâm lý Trong số những trẻ khuyết tật về tâm lý thì trẻ có hội chứng rối loạn phổ tự kỷ là một trong những đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất Tự kỷ là một trong những rối loạn phát triển hay gặp ở trẻ em Trẻ bị mắc hội chứng tự kỷ không những phát triển chậm về quan
hệ xã hội, ngôn ngữ, giao tiếp, học hành mà còn có những rối loạn hành vi ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội Tự kỷ là một rối loạn về phát triển, biểu hiện đặc trưng bởi sự khiếm khuyết về chất lượng tương tác xã hội, giao tiếp và các biểu hiện hành vi định hình, rập khuôn, thu hẹp bất thường; kèm theo nhiều rối loạn về thực thể và tâm thần khác Theo thống kê của Autism Treatment Network tại Mỹ ( Pediatrics, 2016), trong 6.800 trẻ được khảo sát (từ 2 – 17, 6 tuổi) chẩn đoán bị tự kỷ, có 42,5% trẻ bị rối loạn giấc ngủ; 38,7% trẻ bị rối loạn tiêu hóa; 60,4% bị rối loạn ăn uống; 59,1% rối loạn lo âu; 76,6% rối loạn cảm giác; 81,7% mất tương tác xã hội; 48,3% muốn gây xung động, tấn công; 32,4% trẻ tự gây tổn thương; suy nghĩ và hành vi lặp lại, định hình: 67,1%; Tăng động: 68,8%; thiếu tập trung chú ý: 82,1%
Thống kê cũng cho thấy, những bất thường của rối loạn tự kỷ gây ảnh hưởng kéo dài suốt đời đến các chức năng cá nhân ở nhiều lĩnh vực như học tập, các mối quan hệ thích ứng xã hội và khả năng độc lập Mức độ ảnh hưởng có thể từ nhẹ đến nặng tùy theo mức
độ của sự rối loạn tự kỷ và các rối loạn đi kèm Tuy nhiên, sự thiếu hụt rõ rệt các chức năng khiến cho người mắc rối loạn tự kỷ trở thành người khuyết tật trong cộng đồng, suy giảm trầm trọng chất lượng sống, đồng thời là gánh nặng của gia đình và xã hội, suy giảm nguồn nhân lực lao động và kéo theo chi phí kinh tế lâu dài
Hiện nay, tự kỷ đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội và được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Úc Ở những nước này, tự kỷ đã được xã hội hóa và hầu như mọi công dân đều có những hiểu biết nhất định về hội chứng này
Còn ở Việt Nam, việc nhìn nhận về chứng rối loạn phổ tự kỷ và việc trang bị các kiến thức liên quan đến vấn đề này của gia đình có trẻ mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ vẫn
Trang 2chưa cao Các ông bố, bà mẹ chưa thật sự quan tâm đến các tác động từ bên ngoài tác động như thế nào đến trẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ, đâu là các tác động tiêu cực và loại bỏ, đâu là các tác động tích cực cần phát triển và áp dụng trong quá trình dạy dỗ trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Môi trường là yếu tố quan trọng đối với mỗi cá nhân, xét từ khía cạnh con người luôn chịu tác động từ những yếu tố bên ngoài, từ những tác nhân khác nhau
và các hệ thống khác nhau Dựa trên một mô hình tâm lý học của S.Frued, điểm đặc biệt nhất của cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái là nó cung cấp một lăng kính nhằm tìm ra mối quan hệ giữa con ngừoi với môi trường sống xung quanh dựa trên nền tảng sinh thái học, chú trọng đến sự kết nối giữa con người và môi trường
Áp dụng lý thuyết hệ thống sinh thái trong việc hỗ trợ cho trẻ rối loạn phổ tự
kỷ sẽ giúp ích rất nhiều cho người hỗ trợ, Dựa vào sơ đồ sinh thái, chúng ta sẽ dễ dàng phân tích được các tác nhân ảnh hưởng đến trẻ và cách trẻ tương tác trở lại từ
đó tìm ra điểm mạnh để phát huy và điểm chưa mạnh để củng cố Việc sử dụng thuyết hệ thống sinh thái trong quá trình can thiệp sẽ giúp trẻ sớm hoà nhập với cộng đồng hơn và người hỗ trợ có thể dễ dàng trong việc lượng giá.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Áp dụng Lý thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ Tâm lý- Giáo dục cho trẻ Rối loạn phổ tự kỷ trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi ( Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Edunow)
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về áp dụng lý thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ tâm lý giáo dục cho trẻ RLPTK trong quá trình hòa nhập với cộng đồng.Trẻ sống trong môi trường, trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong môi trường như gia đình, bạn bè, nhà trường, xã hội và trẻ ảnh hưởng ngược trở lại với môi trường Bài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ sự hoà hợp giữa trẻ và môi trường của trẻ như thế nào để từ đó tìm cách giải quyết vấn đề của trẻ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình chăm sóc, hỗ trợ trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại trung tâm Edunow
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Lý thuyết hệ thống sinh thái trong hỗ trợ Tâm lý – Giáo dục cho trẻ RLPTK
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về RLPTK, thuyết hệ thống sinh thái và việc áp dụng thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ Tâm lý – Giáo dục cho trẻ RLPTK ở độ tuổi từ
3 đến 6 tuổi
- Đánh giá thực trạng về trẻ RLPTK và nhận thức của phụ huynh, giáo viên về những tác động bên ngoài ảnh hưởng đến trẻ RLPTK tuổi từ 3 đến 6 tuổi
Trang 3- Đề xuất Lý thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ Tâm lý- Giáo dục cho trẻ RLPTK tuổi mẫu giáo nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ RLPTK tại các cơ sở chuyên biệt
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, tình trạng trẻ tự kỷ đang ngày càng gia tăng Tuy nhiên, có không
ít phụ huynh lại đang “ngộ nhận” khi cho rằng con mình là “thần đồng”, là thông minh…hoặc cũng có không ít trường hợp còn quá thiếu kiến thức về căn bệnh này, khiến việc phát hiện và điều trị thường ở giai đoạn muộn.
Sự thật thì có nhiều phụ huynh chưa có nhận thức đúng đắn về hội chứng tự
kỷ mà con em mình đang mắc phải, trong xu hướng ngày nay nhiều phụ huynh cho rằng tự kỷ chính là một căn bệnh và có thể chữa khỏi trong một thời gian nhất định Từ điều này khiến phụ huynh quá kỳ vọng vào con em của mình, áp đặt trẻ vào những hoạt động mà trẻ không mong muốn sau khi tham khảo các cách “chữa bệnh tự kỷ” qua Internet
Bên cạnh đó nhiều phụ huynh mặc cảm, thậm chí mắc bệnh sĩ diện, không muốn con mình mang danh là trẻ tự kỷ Trong khi rõ ràng là vai trò phụ huynh rất quan trọng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của trẻ, cần có sự phối hợp nhịp nhàng với nhà trường và cộng đồng để trợ giúp cho các em.
Đáng nghiêm trọng hơn cả đó là một bộ phận không nhỏ phụ huynh có con
em là trẻ tự kỷ cho rằng hội chứng trẻ đang mắc phải là do tác động của các yếu tố tâm linh Họ cho rằng trẻ đang phải trả giá hoặc gánh tội cho một ai
đó trong gia đình đã làm điều xấu, do hợp xác hợp vía nên bị tà ma nhập, hay trẻ đang được người thế giới bên kia “mượn” đến một giai đoạn nào đó
sẽ được “trả” lại.
Nếu phụ huynh có cái nhìn đúng đắn hơn về hội chứng tự kỷ, áp dụng các phương pháp can thiệp đúng đắn thì sẽ giúp ích rất nhiều cho các em trong quá trình hoà nhập cộng đồng Phụ huynh sẽ nhận thức được các tác nhân,
sự tương tác của trẻ với con người và môi trường sống như gia đình, trường học, cộng đồng… từ đó lần lượt “gỡ rối” từng vấn đề một.
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát giáo viên dạy tại Trung tâm Edunow số 07 Thích Quảng Đức- Đà Nẵng
- Khảo sát 30 gia đình có trẻ rối loạn phổ tự kỷ ở Đà Nẵng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập, phân tích, tổng hợp các thông tin từ sách báo, tạp chí, bài giảng ở dạng văn bản in và điện tử để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, làm sáng tỏ các khái niệm công cụ và tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 4- Mục đích: Nhằm tìm hiểu phụ huynh và giáo viên có nhận thức được các ảnh hưởng của môi trường bên ngoài tác động đến trẻ hay không và các ảnh hưởng đó tác động như thế nào đến trẻ, và trẻ phản ứng lại các tác động đó như thế nào
- Nội dung điều tra bằng bảng hỏi: Thông tin cá nhân của phụ huynh và giáo viên, nhận thức của phụ huynh và giáo viên về các tác động bên ngoài ảnh hưởng đến trẻ, tìm hiểu trẻ phản ứng với gia đình, với bạn bè, thầy cô, như thế nào
7.2.2 Phương pháp quan sát
- Mục đích quan sát: Tìm hiểu về những tác động bên ngoài đối với trẻ RLPT
- Nội dung quan sát: Quan sát cách tương tác của trẻ RLPTK với phụ huynh và giáo viên, quan sát cách tương tác của phụ huynh và giáo viên với trẻ RLPTK
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
- Mục đích: Hỗ trợ thêm thông tin bổ sung cho phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
- Nội dung: Phỏng vấn giáo viên về quá trình học tập của trẻ RLPTK, phỏng vấn gia đình về các thói quen cũng như những điều trẻ thích, điều trẻ không thích,
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Mục đích: Xây dựng hồ sơ nghiên cứu của một số trường hợp điển hình trong số học sinh tham gia khảo sát thực trạng
- Nội dung: Tìm hiểu những tác động tiêu cực, tích cực từ gia đình, bạn bè, nhà trường tác động đến trẻ RLPTK
7.3 Nhóm phương pháp sử dụng toán thống kê
Sử dụng các công thức thống kê toán học xử lý các số liệu thu thập được làm cơ sở
để phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận cần thiết cho đề tài
8 Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì bài nghiên cứu còn có ba chương
Chương I: Cơ sở lý luận về áp dụng Lý thuyết hệ thống sinh thái để hỗ trợ tâm lý- giáo dục cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Chương II: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG LÝ THUYẾT HỆ THỐNG SINH THÁI ĐỂ HỖ TRỢ TÂM LÝ- GIÁO DỤC CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Trang 5Theo dòng lịch sử, dường như luôn luôn có sự hiện diện của những đứa trẻ tự kỷ trong xã hội loài người, dù rằng cho mãi đến năm 1943, sau công bố của BS Leo Kanner (Hoa Kỳ), người ta mới thực sự biết được sự tồn tại của những đứa trẻ như thế.
Năm 1943, Kanner (ĐH John Hopkins – Hoa Kỳ) là người đầu tiên đã
mô tả một nhóm những trẻ đặc biệt này Từ đó sự quan tâm của giới khoa học ngày càng gia tăng Đã có nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của bệnh tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị căn bệnh này mới được quan sát và mô tả thật chi tiết.Thời gian sau đó, nhiều phương pháp trị liệu và giáo dục đã ra đời góp phần cải thiện chất lượng đời sống và tiên lượng của trẻ tự
kỷ Cũng trong năm này, Leo Kanner mô tả 11 ca tự kỷ đầu tiên với một số
nét đặc trưng như: không tạo lập được các mối quan hệ với con người, bàng quang, thờ ơ, chậm nói và không sử dụng lời nói để giao tiếp, cùng với các hoạt động chơi đơn giản, lập đi lập lại.Kanner mô tả những trẻ này như thể
“bị mất khả năng bẩm sinh trong việc thiết lập các mối quan hệ cảm xúc với con người” 1
Theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc, hiện có 1% dân số thế giới, tức là khoảng 70 triệu người đang mắc bệnh tự kỷ Đặc biệt, tỷ lệ này ở trẻ em đang ngày càng tăng Bởi cứ 150 em nhỏ trên thế giới sẽ có 1 em mắc chứng bệnh này.
1.1.2 Tại Việt Nam
Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào về tỉ lệ tự kỷ trong toàn quốc Tuy nhiên, một số nghiên cứu ở các bênh viện nhi trung ương và bệnh viện nhi đồng 1 chỉ ra tỉ lệ trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ đang tăng nhanh Cụ thể, nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của khoa Phục hồi Chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000-2007 cho thấy số trẻ tự kỷ đến điều trị năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 2000 và xu thế mắc tự kỷ tăng nhanh
từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2004 đến 2007 so với năm 2000.
Theo dự án chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật của tổ chức NGO Plan: Tại một huyện của Hà Nội trong tổng số 733 trẻ khuyết tật được phát hiện thì có tới
512 trẻ khuyết tật phát triển, trẻ tự kỷ chiếm 10%.
Tỉ lệ trẻ tự kỷ gia tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây Lý giải điều này, bà Trang đưa ra các nguyên nhân: Do nhận thức của cộng đồng tăng;
1 https://spectrumnews.org/opinion/viewpoint/leo-kanners-1943-paper-on-autism
Trang 6Thay đổi về các tiêu chí chẩn đoán; Và yếu tố môi trường cũng là một trong những nguyên nhân gây tự kỷ 2
1.2 Các khái niệm
1.2.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái
1.2.1.1 Quan niệm hệ thống sinh thái
Lý thuyết sinh thái là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết lý của công tác xã hội Lối tiếp cận này được áp dụng từ giữa những năm 1970 đến nay Lý thuyết này giúp cho người thực hành công tác xã hội phân tích thấu đáo sự tương tác giữa các hệ thống xã hội hoặc bên trong các hệ thống này và có thể hình dung ra được những tương tác này sẽ ảnh hưởng đến hành vi của thân chủ như thế nào
Theo lý thuyết này mỗi cá nhân đều có một môi trường sống và hoàn cảnh sống,
họ chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và họ cũng ảnh hưởng ngược lại môi trường sống quanh họ
Như vậy có thể nói, cốt lõi của lối tiếp cận này là:
- Con người sống trong môi trường
- Con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
- Con người ảnh hưởng ngược trở lại với môi trường
1.2.1.2 Nguyên nhân sử dụng thuyết hệ thống sinh thái vào thực hành
Công tác xã hội
- THTST vận dụng sức mạnh của các lý thuyết khác trong việc mô tả hành vi phức tạp của con người
- Nó chỉ ra hành vi của cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và những mối quan hệ kết nối của họ tạo ra bối cảnh lý tưởng để giúp đỡ chovấn đề thực hành
- Lý thuyết tập trung làm sáng tỏ sự hoà hợp giữa con người và môi trường của họ như thế nào để từ đó tìm cách giải quyết vấn đề của thân chủ
1.2.1.3 Nội dung cơ bản của lý thuyết hệ thống sinh thái:
Những kiến thức cơ bản cho thực hành công tác xã hội:
Mục tiêu của công tác xã hội là nhằm cải thiện những cơ sở, thể chế xã hội và giúp thân chủ vượt qua được những khó khăn, thách thức để tồn tại trong môi trường sống của
họ một cách bình thường Để làm được điều đó ngoài mục tiêu và giá trị, người nhân viên
xã hội cần một khối lượng kiến thức tương đối để thực hiện công việc của mình Những ngành học liên quan đến ngành công tác xã hội bao gồm: nhân chủng học, sinh vật học,kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, truyền thông, chính sách xã hội, lịch sử, luật học….Sự kết hợp kiến thức liên ngành sẽ giúp người nhân viên xã hội giải thích đượcnhững hành vi của con người, hiểu được sự ảnh hưởng của môi trường đến hành vi
2 http://tuyengiao.vn/Home/khoagiao/86571/Tu-ky-o-Viet-Nam-Hien-trang-va-thach-thuc
Trang 7của con người, cũng như hướng dẫn để thực hiện can thiệp với thân chủ đồng thời dự đoán được những kết quả của sự can thiệp trong thực hành công tác xã hội
Đặc điểm của thuyết hệ thống sinh thái:
Thuyết hệ thống sinh thái bao gồm 2 khái niệm: sinh thái học và lý thuyết hệ thống tổng quát
Theo quan điểm sinh thái học nhấn mạnh đến sự thích nghi giữa các yếu tố Sự thích nghi đó chính là quá trình vận động giữa con người và môi trường của họ khi con người trưởng thành, hoàn thiện những khả năng của mình Theo lý thuyết hệ thống chú trọng vào việc quản lý các cấu trúc xã hội bằng cách làm giảm tính phức tạp xã hội và cóthể mở rộng hiểu biết của con người về sự đa dạng của hành vi con người Như vậy, sinh thái học và lý thuyết hệ thống kết hợp với nhau nhằm mô tả hình dạng cũng như chức năng của hệ thống con người trong môi trường xã hội và môi trường vật lý tự nhiên của họ
Theo quan điểm hệ thống sinh thái, con người và môi trường không tách rời nhau.Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể gộp hai yếu tố đó vào làm một Nghĩa là chúng
ta không phải hiểu về con người là hiểu được môi trường của họ Mặt khác, chúng ta phải luôn kiểm tra sự tác động qua lại giữa hai yếu tố đó Mô tả về mối quan hệ này, thuyết sinh thái cho rằng con người và môi trường vật lý- xã hội – văn hoá của họ luôn tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và bổ sung sự trao đổi tài nguyên cho nhau
Theo lý thuyết sinh thái, con người được mô tả là hết sức phức tạp Bởi lẽ, con người là sự tổng họp của các nhân tố sinh học, tâm lý, xã hội, văn hoá với những suy nghĩ, cảm giác và những hành vi có thể quan sát được Do đó, quan điểm sinh thái thừa nhận rằng con người phản ứng một cách có ý thức và tự chủ, tuy nhiên cũng có thể hàn hđộng bột phát và không tự chủ Mặt khác, con người vừa là một cá thể, vừa là thành viên của một nhóm Do vậy, hành động của con người thích nghi với sự thay đổi của môitrường, nói cách khác con người định hướng môi trường xung quanh cũng như việc môi trường định hướng con người
Hệ thống và môi trường:
a Hệ thống là gì?
Một cách đơn giản nhất, hệ thống chính là mô hình hay cấu trúc của sự tác động
và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của con người Tất cả xã hội loài người là một hệ thống lớn nhất Điều này có nghĩa là mỗi hệthống là một phần của một hệ thống lớn hơn đông thời cũng bao gồm trong nó những hệ thống nhỏ hơn Chẳng hạn, gia đình là một hệ thống xã hội mà nó chỉ là một phần của hệ thống lớn hơn là địa phương nơi các gia đình đang cư trú Ngoài ra, gia đình lại là hệ thống lớn hơn của những đứa trẻ và bố mẹ sống trong gia đình đó Như vậy, tất cả các hệ thống đứa trẻ, bố mẹ, gia đình, địa phương là thuộc một hệ thống lớn nhất - hệ thống xã hội loài người
Trang 8b Tiểu hệ thống và môi trường:
Để hiểu rõ hơn về hệ thống trong hệ thống, chúng ta cần phân biệt hai khái niệm: tiểu hệ thống và môi trường.Hệ thống nhỏ hơn trong mỗi hệ thống gọi là tiểu hệ thống Chẳng hạn, trẻ em và cha mẹ tạo thành tiểu hệ thống của hệ thống gia đình lớn hơn Tương tự như vậy, mỗi cánhân trong một gia đình là một tiểu hệ thống Ngược lại, hệ thống lớn hơn chính là môi trường của hệ thống nhỏ hơn Môi trường ảnh hưởng và cung cấp bối cảnh cho chức nănghệ thống trong nó Chẳng hạn, địa phương là môi trường xã hội cho hệ thống gia đình.Mở rộng ra, cộng đồng chính là môi trường xã hội của địa phương (khu phố) và gia đình
c Các nhân tố của một hệ thống:
Hệ thống con người bao gồm bốn yếu tố cơ bản: cấu trúc của hệ thống, sự tác động qua lại, khía cạnh về tâm sinh lý, nhân tố văn hóa
* Cấu trúc của hệ thống:
Cấu trúc chỉ ra cách tổ chức của hệ thống ở một thời điểm nhất định Các cá nhân
và tiểu hệ thống được sắp xếp, tổ chức trong một hệ thống như thế nào gọi là cấu trúc của
hệ thống đó Cấu trúc của hệ thống thực tế khó để nhìn thấy Tuy nhiên, chúng ta nhận thức nó qua hai khái niệm gọi là: sự thân thiện và sức mạnh
Khái niệm sự gần gũi, thân thiện (closeness) chỉ ra ranh giới của hệ thống đóng
hay mở Nói cách khác khi chúng ta đặt ra câu hỏi: các thành viên trong hệ thống gần gũi hay cách xa nhau như thế nào chính là nói đến ranh giới của hệ thống Ranh giới này không chỉ thể hiện ở mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ thống mà còn nói đến mối quan hệ với bên ngoài hệ thống, đó là môi trường của hệ thống Nếu hệ thống mở hay ranh giới của hệ thống mở thì nó có sự tác động thường xuyên và thay đổi nguồn tài nguyên với môi trường của họ Nếu hệ thống đóng thì nó rất ít khả năng liên kết với môitrường đồng thời có nhiều khả năng làm suy yếu nguồn tài nguyên dự trữ của họ
Khái niệm sức mạnh (power) chỉ ra sự phân bố các thứ bậc trong hệ thống Nói
cách khác mỗi cá nhân hay mỗi tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn hơn đều có những địa vị, đặc quyền và sức mạnh Hệ thống thứ bậc mô tả ai là người nắm quyền lực ở trong
tổ chức của hệ thống Những địa vị trong hệ thống như: chủ tịch, tổng thống, người lãnh đạo, người kiểm huấn… đều chỉ ra một cách rõ ràng hệ thống thứ bậc trong tổ chức đó Mặc dù vậy thuyết sinh thái cũng cho rằng những cái nhãn: bố, mẹ, người lãnh đạo có thể cho ta thấy manh mối về sức mạnh hay sự kiểm soát trong hệ thống Tuy nhiên quan sát những người ra quyết định hay những người đầu tiên hành động mới thực sự cho chúngta thấy bức tranh toàn cảnh của hệ thống thứ bậc
* Sự tác động qua lại của hệ thống: Sự tác động qua lại xem xét cái cách mà con người quan hệ với nhau trong một hệ thống và với môi trường của họ như thế nào Nếu cấu trúc của hệ thống chỉ ra một cáinhìn tĩnh về hệ thống thì sự tác động qua lại chỉ ra
Trang 9một cấu trúc động của hệ thống Sự tác động qua lại xảy ra khi các thành viên và môi trường của họ truyền thông, giao tiếp với nhau Sự truyền thông này bao gồm cả truyền thông bằng lời và truyền thông không lời Bất kỳ một thông điệp nào gửi đến trong hệ thống bằng truyền thông không lời hay có lời đều ảnh hưởng đến chức năng của hệ thống
* Khía cạnh tâm sinh lý: Cũng giống như hệ thống xã hội, con người cũng có những khía cạnh rất phức tạp Khía cạnh tâm sinh lý bao gồm các yếu tố như: thể chất, xúc cảm, hành vi, nhận thức, tri giác Khía cạnh tâm sinh lý bao gồm những yếu tố đặc biệt có ý nghĩa trong tiến trình thay đổi Khi con người suy nghĩ và có những cảm giác, chúng ta có những lựa chọn và mở rộng khả năng để lựa chọn những phản ứng của chúng
ta đối với những gì đang xảy ra trong cuộc sống của chúng ta Sự lựa chọn này có thể bị giới hạn bởi những điều kiệncủa cá nhân và môi trường sống nhưng trong sự sắp xếp những khả năng chúng ta có thểlựa chọn về những điều chúng ta suy nghĩ về chính chúng
ta và giải thích về các sự kiệnxung quanh chúng ta
* Khía cạnh văn hoá: Mỗi cá nhân và xã hội tồn tại trong một mạng lưới đan xen
và chồng chéo lên nhau Do vậy mỗi cá nhân đều mang dấu ấn của hệ thống mà họ đang sống Khi là thành viên của một tộc người họ có những không gian, nét văn hoá tương tự Khi là thành viêncủa tộc người khác nhau, tôn giáo khác nhau, cộng đồng khác nhau…
họ sẽ có sự phát triển khác nhau Đặc thù và những mối quan hệ riêng biệt sẽ ảnh hưởng đến mỗi hệthống, từ đó góp phần tạo nên sự đa dạng trong tính cách và hành vi của cá nhân.Chủng tộc, giới tính, giai cấp xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo, nhóm tuổi, lối sống,định hướng chính trị, địa phương cư trú… là hàng loạt các yếu tố của văn hoá có ảnh hưởng sâu sắc tới hành vi của con người
1.2.1.4 Phân tích hệ thống sinh thái trong thực hành
Hệ thống sinh thái cung cấp cho chúng ta những kiến thức quan trọng về sự đa dạng của con người cũng như mối quan hệ giữa con người và môi trường của họ Hệthống con người được coi như là thực thể văn hoá, tâm sinh lý… đưa ra những khả năngvô tận trong việc xây dựng những hiểu biết và sự thay đổi Những nhà nghiên cứu CTXH đã phân tích việc áp dụng thuyết hệ thống sinh thái vào trong thực hành CTXH thông qua 5 bước cơ bản sau:
1 Hệ thống trọng tâm là gì? Nhận dạng được hệ thống trong hệ thống sinh thái (cá nhân,nhóm, gia đình, tổ chức, cộng đồng…)
2 Các gì xảy ra bên trong hệ thống? Khám phá các chiều cạnh về cấu trúc, tâm sinh lý, sự tác động, văn hoá trong hệ thống trung tâm
3 Cái gì bên ngoài hệ thống? Chỉ ra được mạng lưới các hệ thống khác và nguồn tài nguyên trong môi trường của hệ thống trọng tâm
4 Sự kết nối bên trong và ngoài hệ thống như thế nào? Khám phá sự tác động giữa các tiểu hệ thống và hệ thốnglớn hơn
Trang 105 Hệ thống di chuyển qua thời gian như thế nào? Quan sát và nhận ra sự thích nghi và thay đổi xảy ra trongtiến trình phát triển của hệ thống trọng tâm
* Nhận diện hệ thống trọng tâm:
Tất cả các khía cạnh của thực hành đều liên quan đến con người Nhân viên xã hội phải làm việc và thực hành ở các trung tâm xã hội, tổ chức từ thiện và những tổ chức khác Do đó, nhân viên xã hội tác động qua lại với thân chủ bao gồm cá nhân, gia đình,nhóm, cộng đồng… Nhân viên xã hội có thể thay đổi mục tiêu trong cộng đồng để tạo ra lợi ích cho thân chủ của họ Bản thân nhân viên xã hội họ cũng tồn tại trong mạng lưới hệ thống con người nói chung và những người làm công tác xã hội nói riêng Do vậy
để thực hành tốt nhân viên xã hội phải nắm rõ chức năng cũng như những nguồn tài nguyên trong mỗi hệ thống này: môi trường của họ, thân chủ của họ, cộng đồng của họ
và bản thân họ.Việc nhân viên xã hội quyết định hệ thống trọng tâm là gì phụ thuộc vào mục tiêu và hành động của họ Nếu nhân viên xã hội cố gắng để tăng hiểu biết của họ, họ
có thể tập trung vào bản thân họ bao gồm suy nghĩ, cảm giác, sự tác động lẫn nhau với nhữngngười khác Nếu NVXH bắt đầu làm việc với một thân chủ mới thì họ cần phải chú
ý phát triển quan hệ nghề nghiệp, quan hệ đó là hệ thống trọng tâm Nếu NVXH đánh giá chức năng của thân chủ trong môi trường của họ thì thân chủ trở thành hệthống trọng tâm Còn nếu nhân viên xã hội thực hiện những chiến lược can thiệp thì họ có thể nhận dạng ra một môi trường của thân chủ là hệ thống trọng tâm Trong thực hành CTXH, hệ thống trọng tâm có thể biến đổi trong suốt tiến trình làm việc
* Cái gì xảy ra bên trong hệ thống?
Việc xác định được hệ thống trọng tâm cho phép người nhân viên xã hội áp dụng hiểu biết của mình về hệ thống con người để bắt đầu thực hiện những nhiệm vụ can thiệp Chẳng hạn, cấu trúc xã hội đưa ra những thông tin về thành viên của hệ thống, về địa vị
xã hội và thứ bậc Điểm nổi bật nhất trong quan điểm tác động lẫn nhau cung cấp những thông tin về sự truyền thông giữa các thành viên, những mô hình họ phát triển, những cách mà họ quy trì sự cân bằng Khám phá ra những khía cạnh tâm sinh lý cung cấpthông tin về những vấn đề như sức khoẻ, suy nghĩ, cảm giác… của các thành viên trong hệ thống Việc xem xét những tác động văn hoá như: giá trị, niềm tin, thái độ, mô hình giao tiếp hay những quy tắc… nhằm tăng hiểu biết của nhân viên xã hội về những chức năng bên trong của hệ thống
* Cái gì xảy ra bên ngoài hệ thống?
Việc khám phá ra bối cảnh của hệ thống trọng tâm rất cần thiết để hiểu rõ bất kỳ một tình huống nào Tất cả các hệ thống tồn tại như là các phần của hệ thống sinh thái, nóbao gồm sự kết nối, sự tác động qua lại lẫn nhau, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hệ thống Việc xem xét những gì đang xảy ra bên ngoài hệ thống trọng tâm để giúp nhân