1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ

920 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề The Role Of R Logistics In Improving Customer Satisfaction In Vietnam’s Retail Industry In The Context Of International Integration
Trường học National Economics University
Định dạng
Số trang 920
Dung lượng 18,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy, đâu là cơ sở khoa học và thực tiễn của các giải pháp cần có, chúng cần được triển khai theo các định hướng nào, dựa theo kinh nghiệm của nước nào, các giải pháp cụ thể ra sao… Để gó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ

TRADE AND INTERNATIONAL ECONOMIC IMPACTS

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO

3 PGS.TS Tạ Văn Lợi Viện trưởng Viện TM&KDQT Ủy viên thường trực

BAN TỔ CHỨC VÀ THƯ KÝ HỘI THẢO

1 PGS.TS Tạ Văn Lợi Viện trưởng Viện TM&KDQT Trưởng ban

3 TS Nguyễn Xuân Hưng Chánh Văn phòng Viện TM&KDQT Phó trưởng ban

BAN BIÊN TẬP

1 PGS.TS Tạ Văn Lợi Viện trưởng Viện TM&KDQT Trưởng ban

Trang 3

Đ ề dẫn hội thảo

Ladies and gentlemen!

Dear Professor Chuong – President of NEU,

Dear Professor Than, Professor Dao, Professor Binh,

Dear all of you!

I am pleased to welcome all of you to this important Conference with the topic of International

trade and economic impact on businesses in Vietnam

It is the third time this international conference is held in NEU

As you know, there are so many problems happened in the world this year It is not only COVID–19 pandemic but also China–United States trade war, the 2020 United States presidential election and so on In that difficult situation, Vietnam is considered as a rising economic star with GDP growth of 2.8% and signed the trade agreements such as EVFTA and RCEP

We have these successes because we have passion in the path of international integration and accept economic rules Some people suspect that this is the wrong way and that protectionism is coming back But today, at this conference, we are sure that Vietnam will gain even more successes

if we learn the impact of international trade and economy on Vietnamese businesses rather than closing the market and back to the old economic model I hope all researchers, experts and entrepreneurs can demonstrate and share their research results and experiences on this topic Teachers and students of the Faculty of International Trade and Economics can learn more and update information through this conference

The conference had 100 papers with many titles relating to this topic We accept about 89 articles after being commented by NEU and collaborating experts We will publish and send directly to the authors following the link and website of the valuable papers But I can be sure that some of the topics we hear today are the best suggestions for Vietnamese businesses to avoid negative impacts and exploit the positive impacts of the international trade and economics The three selected presentations presented today show you the opportunity to export Vietnamese fruit

to the EU in the case of EVFTA implementation, start-up pathways and a new concept of hidden champion experiences from German companies

I would like to thank all the contributors to this conference, especially Dr Holger and his university, experts and researchers from many universities and institutes

Thanks to the attendance of NEU alumni and some company's managers

Thank you all for the success of this conference today

Thanks for your listening!

Trang 4

Master Ph.D Vu Van Tam

2 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 26

ThS Lê Quốc Anh – Lê Thị Trâm Anh

3 THE COMPETITIVENESS OF VIET NAM TELECOMMUNICATIONS SERVICE

CORPORATION IN THE INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0 40

Ph.D Student Le Van Hung

4 WORKING MOTIVATION OF LECTURERS OF PUBLIC UNIVERSITIES IN VIETNAM

IN THE CONTEXT OF INDUSTRY 4.0 48

Ph.D Ha Dieu Linh – Assoc Prof Bui Huy Nhuong – Canh Chi Dung

5 THE PERCEPTION OF TEXTILE AND APPAREL BUSINESS ABOUT CORPORATE

SOCIAL RESPONSIBILITY IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION 58

Ph.D Nguyen Xuan Hung – Nguyen Hong Linh

6 IMPACT OF CROSS–BORDER E-COMMERCE ON VIETNAM'S ECONOMY 67

Ph.D Nguyen Thi Thuy Hong – Nguyen Thi Thanh Thuy

7 HOÀN THIỆN THỂ CHẾ TÀI CHÍNH HƯỚNG TỚI THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 78

Hoàng Thị Phương Loan

8 DIGITAL BANKING IN VIETNAM: AN APPLICATION OF THE UTAUT MODEL 86

Ph.D Do Thi Ngoc Anh – Ph.D Nguyen Thi Bich Vuong MA Han Thi Thuy Linh

9 DIGITAL TRANSFORMATION IN VIETNAM’S ENTERPRISES 98

Ph.D Tran Thi Phuong Mai

10 THE IMPACT OF FREE SKILLED LABOR MOVEMENT POLICY IN THE ASEAN

ECONOMIC COMMUNITY ON IMPROVING WORKING SKILLS OF NEU’S

INTERNATIONAL ECONOMICS STUDENTS 107

Pham Quang Khai – Nguyen Viet Dung – Trinh Phuong Thao

Trang 5

11 REAL ESTATE VALUATION SOFTWARE IN THE TREND OF INTEGRATION

WITH THE WORLD 121

Assoc Prof Nguyen Minh Ngoc – Ph.D Le Dinh Dung

12 FREE SKILLED LABOR MOVEMENT POLICY IN THE ASEAN ECONOMIC

COMMUNITY: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAM 127

Ph.D Do Thi Huong – Khuong Linh Dan – Dang Hien Duc

13 HIỆP ĐỊNH EVFTA: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 147

TS Trần Thị Mai Hoa – TS Nguyễn Hồng Minh

14 THE MODE OF DISTRIBUTION OF ECONOMIC BENEFIT AMONG PARTIES IN THE INTERNATIONAL ECONOMIC NEGOTIATION 153

Assoc Prof Nguyen Thuong Lang

15 EVFTA: OPPORTUNITIES AND SOLUTIONS FOR VIETNAMESE ENTERPRISES 163

Assoc Prof Ngo Thi Tuyet Mai

16 VAI TRÒ YẾU TỐ THỂ CHẾ TRONG HẤP THỤ VỐN FDI THẾ HỆ MỚI

CỦA VIỆT NAM 170

ThS Bùi Thị Lành

17 CIRCULAR ECONOMY: CONCEPTS AND BARRIERS TO TRANSIT 179

Master Le Thi Thai Ha

18 ẢNH HƯỞNG CỦA QUỐC GIA XUẤT XỨ TỚI HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 186

ThS Nguyễn Thu Ngà

19 FTAS OF NEW GENERATION PROMOTING VIETNAM’S SUSTAINABLE

DEVELOPMENT 193

Nguyen Son

20 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO EVFTA VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 199

TS Nguyễn Thị Thúy Hồng – Nguyễn Thị Trang – Võ Lê Huyền Trân

21 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG KHUÔN KHỔ THỰC THI FTA THẾ HỆ MỚI 211

TS Nguyễn Thị Thúy Hồng – Nguyễn Ngọc Anh

Lê Kim Thủy Ngân – Đỗ Thị Thu Trang

22 THE ROLE OF INVESTMENT TO ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM: A NEXUS

BETWEEN DOMESTIC INVESTMENT AND FOREIGN DIRECT INVESTMENT 222

Nguyen Tran Thai Ha – Ho Ngoc Thuy

Trang 6

23 FACTORS MODEL AFFECTING COMPETITIVENESS OF VIETNAMESE EXPORTING ENTERPRISES TO EUROPEAN MARKET AFTER THE EU – VIETNAM FREE TRADE AGREEMENT (EVFTA) 235

Ph.D Nguyen Thi Bich Vuong – Ph.D Pham Thi Dieu Anh

Phần thứ hai: TÁC ĐỘNG CỦA COVID–19 ĐẾN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

24 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID–19 ĐẾN VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 245

ThS Phạm Thị Thanh Nhàn – Trần Thùy Linh

25 TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID–19 TỚI HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VIỆT NAM:

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC 263

ThS Phạm Thu Vân

26 THE IMPACT OF THE COVID–19 PANDEMIC ON THE OPERATION OF

ENTERPRISES IN BAC NINH PROVINCE 270

Ph.D Student Dang Minh Khoa

27 THE IMPACTS OF COVID–19 AND THE SUPPORT SOLUTIONS OF BANKING

SYSTEM TO VIETNAM ECONOMY 278

Ph.D Nguyen Xuan Hung – Thao Dang Ngoc

28 HUMAN RESOURCE MANAGEMENT IN SOME COUNTRIESAND LESSONS FOR VIETNAM IN THE CONTEXT OF GLOBAL UPHEAVAL 289

Master Ph.D Student Bui Duc Thanh

29 THE IMPACT OF THE GLOBAL COVID–19 PANDEMIC ON ADJUSTMENT OF

HUMAN RESOURCES OF VIETNAM AVIATION CORPORATION 296

Master Ph.D Student Bui Duc Thanh

30 IMPACT OF GLOBAL PANDEMIC COVID–19 ON VIETNAM HOUSING MARKET 304

Master Ph.D Student Pham Van Bai

31 ẢNH HƯỞNG CỦA COVID–19 ĐẾN XUẤT KHẨU QUA ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC THI EVFTA 311

TS Nguyễn Thị Thúy Hồng – Đào Huy Đức Phạm Phương Anh – Vũ Nguyễn Giang Linh

32 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID–19 ĐẾN BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG VỀ PHÚC LỢI

XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 320

ThS Trương Tất Thịnh

Trang 7

33 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỨC MẠNH NỘI LỰC TRONG PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẠI DỊCH COVID–19 328

ThS Đặng Văn Khương

Phần thứ ba: KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - BÀI HỌC CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

34 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC ĐẦU TƯ ASEAN

VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM 335

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng – ThS Vũ Quang Hải

35 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI ĐẾN NĂM 2030 352

Trần Hoa Phượng – Văn Công Vũ

38 IMPACT OF ASEAN ECONOMIC COMMUNITY ON AGRICULTURE SECTOR

OF VIETNAM 379

Assoc Prof Bui Huy Nhuong – Le Tuan Anh

39 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN TRONG MÔ HÌNH KINH TẾ

CHIA SẺ CỦA SINGAPORE – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 386

Phạm Thị Hồng Mỵ

40 PHÁT TRIỂN THANH TOÁN ĐIỆN TỬ GẮN VỚI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA

TRUNG QUỐC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM 394

PGS.TS Nguyễn Đắc Hưng

41 START-UP RESEARCH'S EXPERIENCE OF STUDENTS APPROACHING THE

PROCESS OF FORMING START-UP INTENTIONS OF SOME EUROPEAN

Trang 8

43 IMPACTS OF THE US–CENTRAL TRADE WAR ON VIETNAM'S GOODS EXPORT: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES 419

Ph.D Nguyen Thi Thuy Hong – Pham Nguyet Anh – Dao Duc Duy

Nguyen Trung Hieu – Nguyen Nhu Kien

44 DEVELOPMENT OF HUMAN RESOURCES FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT

STRATEGY OF VIETNAM'S SEA ECONOMY 425

Master Ph.D Ma Duc Han – Doctor Phung Manh Cuong

45 CUSTOMER BEHAVIOUR IN USING LIVEBANK SERVICE IN DIGITAL

TRANSFORMATION OF BANKING INDUSTRY IN VIETNAM 435

Do Thi Binh – Vu Tuan Duong

46 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI

ĐƯỜNG BỘ VIỆT NAM 448

NCS.ThS Hoàng Nguyệt Quyên

47 OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR DEVELOPING DIGITAL BANKING

SERVICES IN VIETNAM IN THE CURRENT PERIOD 462

Master Nguyen Quoc Phong – Assoc Prof Nguyen Dac Hung

48 OPPORTUNITIES AND CHALLENGES OFINTERNATIONAL INTEGRATION FOR SMALL AND MEDIUM – SIZEDBUSINESSES IN VIETNAM 469

Dr Trong Dinh Van – Dr Ba Le Thi Tuyet

49 RCEP AND THE RISING POWER OF CHINA 475

MSc Tran Hoang Ha

50 ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ NGA TRONG BỐI CẢNH

CỦA FTA VIỆT NAM – EAEU: TIẾP CẬN TỪ CHỈ SỐ THƯƠNG MẠI 483

NCS ThS Bùi Quý Thuấn

51 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – EU CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM SANG EU 495

TS Nguyễn Thị Thúy Hồng – Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Duyên – Ma Thị Thanh Tâm

52 ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA (TNC) VÀO XUẤT KHẨU

TẠI VIỆT NAM 505

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng – Ths Vũ Khánh Thịnh

53 CIRCULAR ECONOMY AND POLICY RECOMMENDATIONS IN VIETNAM 519

PhD Nguyen Xuan Hung – Dương Thi Minh Thu – Le Minh Huyen

Dao Duc Duy – Pham Quang Khai – Nguyen Trung Thanh

Trang 9

54 THE COVID 19 PANDEMIC AND ITS EFFECTS ON DIGITAL TRANSFORMATION IN VIETNAMESE LOGISTICS SERVICE PROVIDERS (LSPs) 531

MSc Nguyen Thanh Nga – Assoc Prof Ta Van Loi

55 THE FREE TRADE AGREEMENT AND VIETNAM'S SHRIMP EXPORTS 538

MA Tran Trong Duc

56 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO NÔNG NGHIỆP XANH TẠI HÀ NỘI 552

ThS Nguyễn Thị Mai

57 MODERNIZATION OF THE COASTAL REGION TO QUICKLY THE ECONOMIC

PROPERTY OF THANH HOA PROVINCE 557

Assoc Prof Ngo Thang Loi – MA Trinh Ha Hoang Linh

58 DRIVEN DETERMINANTS TO INDONESIA SHARIA COMMERCIAL BANKS'

PERFORMANCE: THE IMPORTANT ROLE OF DIVERSIFICATION STRATEGY 568

Sobar M Johari – Ammelia Rizza Fitri Ayu L.C – Nguyen Tran Thai Ha

Phần thứ tư: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

59 THE CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS TO PROMOTE VIETNAM'S EXPORT

OF TEXTILE AND GARMENT TO EU MARKET WHEN JOINING EVFTA 585

Assoc Prof Nguyen Van Tuan

60 VIETNAM’S EXPORTS TO THE US: ACHIEVEMENTS, LIMITATIONS AND

SOLUTIONS TO CHALLENGES 605

Assoc Prof Nguyen Thi Thanh Hieu

61 FACTORS AFFECTING NATIONAL ECONOMICS UNIVERSITY’S STUDENT

START-UP INTENTIONS IN THE CONTEXT OF DIGITAL BUSINESS 614

Ph.D Do Anh Duc

62 MPLICATIONS OF COVID–19 PANDEMICFORGLOBAL ECONOMIES –

ESPECIALLY FOR INTERNATIONAL HUMAN RESOURCES MANAGEMENT 624

MBA Nguyen Van Minh

63 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ TỐI ƯU HOÁ HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 631

TS Hoàng Hương Giang – TS Vũ Thị Minh Ngọc

Trang 10

64 LOGISTICS HUMAN RESOURCES MANAGEMENT IN VIETNAM ENTERPRISES

IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0: CURRENT SITUATION

AND SOLUTIONS 639

MSc Ph.D Student Trương Thị Huệ

65 APPLICATION OF THETHEORY OF CONSTRAINTS (TOC) TO IMPROVE THE

PRODUCTIVITY OF VIETNAMESE ENTERPRISES 652

Assoc Prof Ta Van Loi – Ph.D Do Anh Duc

66 OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAM'S AGRICULTURAL EXPORTS

TO THE EU MARKET WHEN THE EVFTA AGREEMENT OFFICIALLY COMES

INTO EFFECT 662

Assoc Prof Nguyen Van Tuan

67 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY 673

ThS Nguyễn Thị Thủy

68 EUROPEAN UNION MARKET: CONSUMPTION TRENDS, TRADE MEASURES

AND SOLUTIONS FOR VIETNAMESE ENTERPRISES TO ENHANCE FRUIT

AND VEGETABLE EXPORTATION 684

Ph.D Nguyen Thi Thu Thuy

69 OMNI–CHANNEL RETAILING AND ITS IMPACTS ON ON SUPPLY CHAIN

INITIATIVES, THE CASE OF FAST MOVING CONSUMER GOODS INDUSTRY 699

Ph.D Duong Van Bay

70 EXPORTING FRUIT OF VIETNAM TO THE EUROPEAN MARKET – OPPORTUNITIES AND CHALLENGES AFTER TRADE AGREEMENT FREEDOM VIETNAM–EU

(EVFTA) EFFECT 711

Ph.D Pham Van Son – Ph.D Nguyen Xuan Hung – MA Nguyen Thi Thanh Xuan

71 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ VIỆT NAM: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

TỪ GÓC ĐỘ TƯ DUY LOGISTICS 726

GS.TS Đặng Đình Đào – TS Đặng Thị Thúy Hồng

72 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC LOGISTICS

VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG 732

TS Nguyễn Đức Diệp

73 EVFTA VỚI XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM:

CƠ HỘI HAY THÁCH THỨC 736

TS Nguyễn Thị Liên Hương

Trang 11

74 LOOKING BACK AT VIETNAM’S EXPORTS TO KOREA AFTER 5 YEARS OF

IMPLEMENTATION OF VKFTA 752

Assoc Prof Ngo Thi Tuyet Mai – Nguyen Ngoc Phuong Anh – Đinh Thao Van

Đo Manh Hoang – Dao Thuy Linh – Dang Quang Binh

75 ƯU TIÊN CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM TRONG VIỆC LỰA CHỌN SẢN PHẨM

THỜI TRANG XANH 758

TS Mai Thế Cường – Phạm An Khanh – Nguyễn Minh Ngọc Phạm Xuân Thái – Ngô Hà Trang – Lê Linh Trang – Trịnh Chi Mai

76 THE RELATIONSHIP BETWEEN FOUR CONTEXTUAL FACTORS ON RESISTANCE

TO CHANGE: A CASE STUDY IN FOOD PROCESSING INDUSTRY 765

MA Tran Trong Duc – Nguyen Dieu Linh

77 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

TỈNH HƯNG YÊN 778

NCS Bùi Huy Cường

78 MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ LỢI THẾ

CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG VÀ KÍNH XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 789

TS Đoàn Xuân Hậu – PGS.TS Lê Trung Thành – TS Nguyễn Thị Phương Linh

NCS ThS Nguyễn Quỳnh Trang

79 PRIVATE SECTOR PARTCIPATION FOR MUNICIPAL SOLID WASTE

MANAGEMENT, THE CASE OF HANOI CAPITAL 801

Ph.D Ngo Thanh Mai

80 COMPREHENSIVE AND PROGRESSIVE PARTNERSHIP AGREEMENT (CPTPP) –

OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAMESE BUSINESSES 812

Ph.D Nguyen Thi Thuy Hong

81 US–CHINA TRADE WAR: OPPORTUNITIES AND CHALLENGES FOR VIETNAMESE WOOD PRODUCTS AND EXPORTED WOOD PRODUCTS 821

Ph.D Nguyen Thi Thuy Hong – Pham Nguyet Anh – Dao Duc Duy

Nguyen Trung Hieu – Nguyen Nhu Kien

82 EU–VIETNAM FREE TRADE AGREEMENT: SUBSTANTIAL AND PROCEDURAL

GUARANTEES FOR LABOUR PROTECTION IN VIETNAM 828

Ph.D Nguyen Thi Thuy Hong – Do Viet Hoang Nguyen Thi Anh Tho – Nguyen Thi Thu Thuy

Trang 12

83 FACTORS AFFECTING ONLINE SHOPPING BEHAVIOR ON APPAREL PRODUCTS

OF MID-RANGE FASHION BRANDS IN HANOI 835

Assoc Prof Nguyen Thuong Lang – Mai Duc Toan – Ly Phuong Anh Nguyen Duy Cuong – Ta Thi Thuy Nga – Tuong Thi Phuong Thao

84 SECURING HEALTH AND PERSONAL PRIVACY ON MEDICAL IMPLANTABLE

TECHNOLOGICAL DEVICES IN HEALTHCARE INDUSTRY 844

Dang Hoang Minh – Dr Ngo Ho Anh Khoi

85 AGRICULTURAL EXPORT VIA E-COMMERCE – OPPORTUNITIES AND

CHALLENGES FOR VIETNAM 850

Ph.D Huong Do Thi – Thu Phan Nguyen Anh Trang Phi Kieu – Minh Nguyen Quang

86 VAI TRÒ CỦA R–LOGISTICS TRONG CẢI THIỆN SỰ HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG

NGÀNH BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 866

TS Nguyễn Hoàng Tiến – PGS.TS Nguyễn Minh Ngọc

87 IMPROVING THE QUALITY OF FOREIGN DIRECT INVESTMENT APPROACHING SUSTAINABLE DEVELOPMENT: A CASE STUDY OF HUNG YEN PROVINCE 879

Ph.D Bui Huy Cuong

88 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN NGÀNH HỌC THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ CỦA SINH VIÊN TẠI VIỆT NAM 890

ThS Lê Mai Trang – Bùi Phương – Thảo Đỗ Thị Thùy Linh – Lê Hồng Hải Ngọc

89 IMPROVING THE QUALITY OF PUBLIC ADMINISTRATIVE SERV AT

VIETNAM POST CORPORATION 906

Ph.D Huy Nguyen Quang – Ph.D Hoa Tran Thi

Trang 13

PHẦN THỨ NHẤT

KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ -

Trang 15

DEVELOPING QUALITY HUMAN RESOURCES

IN VIETNAM FOR THE FOURTH INDUSTRIAL REVOLUTION

Master Ph.D Vu Van Tam 1

Abstract: Human resources, especially high-quality human resources play a decisive role in the

socio-economic development of every country Having faced the impact of the Fourth Industrial Revolution and the expansion of cooperation relations between countries, territories around the world, there has been a shift in the fundamental, the labor structure and the labor market It requires countries, including Vietnam to build and develop high-quality human resources to meet the requirements of accelerating national industrialization, modernization, and international integration In this article, the author focuses on explaining some basic theoretical issues about developing high-quality human resources; mentioning the current situation, forecasting the impact, defining the requirements and proposing solutions to create high-quality human resources in Vietnam

Key word: develope high-quality human recources, the Fourth Industrial Revolution

1 INTRODUCTION

In the process of constructing and developing socio-economic, especially in the renewal phases, Vietnamese government always put citizen at the center of the development process; consider them as both the goal and the driving force of country development; "Using the promotion of human resources

as the basic factor for rapid and sustainable country development"2, "Raising people's knowledge, fostering and promoting Vietnamese people is the decisive factor of the industrialization and modernization”3

All those statements have been reflected through the developement ofawareness and thinking toward human resources from the sixth congress (1986)

After more than 30 years of innovation, Vietnam has achieved great success The quality of human resources has been raised to a higher state, most shown in the increment ofworking hours, creating a decent growth rate and improving the economy's competitiveness beside national potential However,

to put it into perspective, we can see that the investment does not pay-off to its potential In terms of human resources, it can be seen that Vietnam's scientific staff still has a large gap in comparison to other countries Some experts have pointed out that Vietnam is facing a number of major obstacles: The quality of human resources are not high enough, the inadequacies of the infrastructure, material, technical, and lack the ability to manage human resources The number of leading scientifics and expertsis still decficient, not able to reach the requirements state The professional qualifications of a part of cadres and civil servants have not yet fullfil their job; the initiative, a low sense of responsibility; Limited operating system If these weekness remains, Vietnam will face the risk of a human resource crisis, which will reduce the competitiveness of the economy, making it hard to escape

"middle income trap", and the opportunities to enter international labor markets

Vietnam is currently entering a period of accelerating industrialization and modernization for the bettermentof citizen, strengthening our country, equitable society, democracy and civilization, but there

1 Political Academy

2 Communist Party of Vietnam, Resolutions of Party Central Committee 1996–1999, Hanoi, 2000, page 85

3 Communist Party of Vietnam, Document of the 8 th National Congress of Delegates, national political publisher,

Hanoi, 1996, page 21

Trang 16

are still many inconsistent policies, making it hard to promote human resources The 11 National Congress of the Communist Party of Vietnam stated: “Developing and improving the quality of human resources, especially high-quality human resources, is one of the decisive factors for rapid and substainable development”4

This congress also proposed the next step to advance human resources:

“Promoting the labor market, ensuring synchronization, integration, transparency and facilitation, conducive to the freedom of labor movement Strongly develop human resources, especially technical labor and business administration human resources”5 These views mark a shift from a theoretical perception about the role of human factors and human resources as a breaking point for country advancement in the new era

3 RESULTS

3.1 Some basic theoretical issues about developing high-quality human resources to meet the requirements of the Fourth Industrial Revolution

3.1.1 Human resources concept

Currently, there are many different assumption toward human resources in the world, as some example may describe:

Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) believes that human resources

are all human knowledge, skills and capacities related to the socioeconomic development of a nation

The International Labor Organization (ILO) concludes that human resources are the entire

workforce It is the sum of the working potentials of working-age people, havingthe working capacity

of a country that has been prepared to a certain level, able to apply intosocio-economic development That potential includes a combination of the physical, mental and human personality factors of a nation

in response to a certain structure required by the economy

Anauthor, Pham Minh Hac said that: “Human resources need to be understood as population and human quality, including physical and mental, health and intellect, capacity, quality and morality of workers It is a whole of existing and potential human resources that are prepared to participate in the socio-economic development of a country or a particular locality ”6

The above concepts refer to different perspectives of human resources, however have this in common: It all refers to the quantity, quality (physical strength, mentality and mindpower) of human

4 Communist Party of Vietnam, Document of the 6 th National Congress of Delegates, national political publisher,

Trang 17

resources, including the existing and potential parts Existing section is the working age population, capable of working; Potential segment is the part of the population that is outside the working age but still has the ability to work and wants to work

From the concepts above, it can be generalized: Human resource is the sum of physical, mental and mental strength existing in social labor resourceswith a suitable structure, that are mobilized, used

to create material and spiritual assets that serve the present and future needs of society

3.1.2 The concept of high-quality human resources

Depending on different approaches and research purposes, authors have different conceptions about high-quality human resources with broad and narrow meanings, in both qualitative and quantitative terms To have an overview of a special part of human resources, it can be conceived:

High-quality human resources are part of a well–trained human resource; have political and professional ethics; healthy, intellectually and creative; have professional qualifications, skills and working capacity higher than the general site, and at the same time have the ability to well meet complex and difficult requirements of the job

The concept of high-quality human resources with the above understanding emphasizes the synthesis, reflecting the integrated quality of a part of society's human resources, including professional ethics, physical strength, qualifications, will and beliefs, passion and workmanship as a productive force, therefore the concept of high-quality human resources is not identical with the concept of highly qualified human resources and also not completely identical with those who have graduated from universities, masters, doctor Accordingly, high quality human resources not only include: Science and technology human resources; skilled workers, or a team of business management businessmen, capable

of organizing, highly competitive; but it also bases on cultural–social, political–social human resources, security and national defense They are not only highly qualified technicians, or senior workers, experts, but also managers, leaders in all areas of society

3.1.3 The need to develop a high-quality human resource that meets the requirements of the Fourth Industrial Revolution

Human social history is the history of material production, associated with each period and in different industries with different ways of organizing production K Marxian said: "The different economic eras are not in what they produce, but in how they produce"7 The world has undergone three industrial revolutions and now is at the beginning of the year of the fourth industrial revolution, the digital revolution, with technologies such as the internet of things, artificial intelligence, virtual reality, augmented reality, social networks, cloud computing, mobile, big data storage This eras could transform the whole world and make rapid changes in all aspects of economic – society in countries around the world

Under the influence of the Fourth Industrial Revolution, countries in the world in general and Vietnam in particular must form and advance high-end forces, which is inevitable for the following reasons:

Firstly, Vietnam's economic growth model with the vision of transforming the basic contents of:

the combination of growth of width and growth of depth due to the main driving force of increasing labor productivity, production efficiency, and competitiveness of economic sectors The problem posed

to Vietnam now is to train and develop human resources, in which it is necessary to attach importance

to expand high-quality human resources Because natural resources, technical facilities, science and technology are limited, it can only be effective when combining adequately with human resources

7 Karl Marx and Engels (1993), Whole set, tome 23, National Political Publisher, Hanoi, 1993, page 269

Trang 18

Meanwhile, the outstanding human resources are not depleted if they are regularly fostered, exploited and used appropriately

Second, high quality human resources are the main factor, determining the rapid development and

application of modern technologies The consequence of applying the achievements of the Fourth Industrial Revolution is the establishment of smart factories, digital factories – where machines and equipment will be connected, automatically making all the factory operating decisions from collecting, analyzing requirements, building production plans That requires the development, training and fostering of high quality human resources, expertise, high responsibility, good working capacity capable of managing, operating, mastering technology modern

Third, the Fourth Industrial Revolution led to the process of economic restructuring in the direction

of increasing the proportion of disciplines based on factors and high scientific content, modern technology, automated production lines; at the same time, reducing units that use backward labor and technology

Fourth, in the Fourth Industrial Revolution, all economies had very large openings Therefore, to

take advantage of the achievements of this revolution requires Vietnam to actively and proactively integrate into the world, especially in the economic field The integration process brings Vietnam many opportunities for development, and at the same time creates new challenges In order to take advantage

of opportunities and overcome these challenges and difficulties, the prerequisite is that Vietnam needs a team of high-quality and powerful human resources, especially an excellent contingent of leaders and managers, a team of experts, good corporate governance, skilled labor, leading science and technology; consider this as a necessary condition for regional and international integration and competition, as well

as affirm the position of Vietnamese knowledge and intelligence in the global playing field

3.1.4 The concept, the content of developing high-quality human resources to meet the requirements of the Fourth Industrial Revolution

Developing high-quality human resources to meet the requirements of the Fourth Industrial Revolution

is to sum up the active, self-conscious activities of the subjects using a combination of ways and measures to form, to comprehensively develop high-quality human resources in today socio–economic development

The content:

Firstly, to increase the number of high-quality human resources

Currently, in Vietnam, unskilled labor take up a large proportion Meanwhile, the number of quality human resources is limited To be able to use the achievements of the Fourth Industrial Revolution into a resource for socio-economic development, Vietnam needs a team of highly qualified human resources

high-Second, improving the quality of human resources

The Fourth Industrial Revolution continuously brought new achievements to mankind, with a wide and very strong impact on the social life, hence improving the quality of human resources need to be done regularly We should focus on the following issues: physical strength, mentaly and mentality In particular, the mental factor is especially important

Third, perfecting the structure of high-quality human resources

The fourth industrial revolution took place in all branches and fields of social life However, in different countries, different regions, localities, and industries with different socio-economic conditions, this revolution also took place focusing on different fields depending on their advantages, their comparative advantage Therefore, the development of high-quality human resources must be consistent with those of each areas

Trang 19

3.2 The current situation of developing high-quality human resources in Vietnam before the Fourth Industrial Revolution

3.2.1 Achievement

Vietnam currently has a relatively abundant human resource and is in a golden population period With a population of over 96 million people, ranked 15th in the world, 3rd in Southeast Asia8 The labor force age startfrom 15 is 55.8 million people(accounting for about 58% of the total population)9 Approximately 12.69 million people of working age have been trained (with diplomas or certificates from 3 months or more), having high level of skill 6.39 million people among them are from university

or postgraduate about, accounting for about 50% of the total trained working age people and about 12.9% of the total number of people in working age10

According to the statistics of the Ministry of Education and Training, the 2018–2019 school year has 237 universities, institutes, and 37 scientific research institutes assigned the task of training doctoral degrees In 2019, the number of undergraduate 1,526,111 people, 97,134 new recruitment for master training, 11,000 for doctoral training Along with that, vocational education has made positive changes, currently there are nearly 2,000 vocational education institutions nationwide The boost of the training scale in Vietnam over the past time has made an important contribution in improving the quality of human resources to support the economic sectors and fields of the country At the same time, the source

of high-quality labor in Vietnam with physical strength has been increasingly improved according to the world's general standards, along with outstanding qualities such as intelligence, diligence, hard work, ability to grasp labor skills, especially the skills to use modern technologies are relatively fast

3.2.2 Limitation

The number of trained workers, especially human resources with college, university or higher degrees and skilled workers in Vietnam accounts for a low percentage The quality of human resources and the competitiveness of the Vietnamese economy remains low (in 2019, according to the World Economic Forum's (WEF) Global Competitiveness Ranking (WEF) and although it has increased by 10 places, it is still low position (67/141 economy) The fitness of Vietnamese workers in recent years has been improved, but still low, small, light weight compared to other countries according to anthropometric indicators In the past 30 years, the height index of Vietnamese people has increased slightly compared

to the stature of young people in regional countries such as Japan, Singapore, and Thailand

The high-quality labor force in Vietnam also shows the inadequacy of the structure: The manpower with doctorate degrees is more than 14,000 people, of which about 70% hold the position of leaders and managers, only about 30% do professional work, researching On the other hand, the contingent of professors, associate professors, and doctors is unevenly distributed among regions, with more than 92% concentrated in Hanoi capital and Ho Chi Minh City; meanwhile, less than 1% in the Central Highlands, Northwest and South West regions Out of about 12.69 million people in working age have been trained, the number of human resources with university or higher degrees accounts for about 50%, around 2.4 times more than the number of people with intermediate education, approximately 2.93 times the number of people with college degrees This figure clearly reflects the imbalance in the structure of trained labor between vocational education and higher education in Vietnam11

8 Population census results 2019

9 General Statistics Office (2019), Report on employment situation in the fourth quarter 2019

Trang 20

These limitations have led to many other consequences such as low labor productivity, low competitiveness and the value of Vietnamese human resources in the labor market

3.3 Forecasting the impact and demand of developing high quality human resources in Vietnam to meet the requirements of the Fourth Industrial Revolution

3.3.1 Predicting the positive impact of the Fourth Industrial Revolution on the development of high-quality human resources

Firstly, create employment opportunities

Every industrial revolution that occurred in history has urged a drastic change in the structure of human resources and employment The fourth industrial revolution has the potential to bring many benefits to workers, with the same opportunities for all Anyone with exceptional capacities and professional qualifications knows the application of 4.0 technology will increase labor productivity, create more values for society, that person will be successful

Second, create a driving force to improve the quality of human resources

The fourth industrial revolution require an increasingly high demand for quality human resources Meanwhile, Vieqtnam's high-quality human resources are currently lacking in both quantity and skills, especially in information technology, computer engineering, automation, and soft skills This will create a strong motivation for policy makers and human resource managers in training and developing high-quality human resources, and each person must also improve their qualifications and working skills

Thirdly, promote the modernization of human resources education programs, contents and

methods

The fourth industrial revolution is making a heavy and comprehensive impact on education and training of human resources The old teaching methods are no longer suitable with the needs of society,

a series of old training occupations will be vanished and instead are opportunities for the development

of new training professions, so it is necessary to combine traditional teaching methods with a variety of modern forms, methods and means For example, online training without classrooms, no classroom teacher, learners will be guided online learning Virtual classrooms, virtual teachers, simulated virtual devices, and lectures digitized and shared across technology platforms will become a growing trend in career training

3.3.2 Forecaste the negative impact of the fourth industrial revolution on the development of high-quality human resources

Firstly, making major changes in the structure, supply and demand of labor in economic sectors

The fourth industrial revolution has formed to automated machine systems and intelligent robots These systems will gradually replace manual labor throughout the economy, and the size and structure

of the labor force Developing countries will have toconfront surplus of labor, especially for untrained employees, workers with low professional skills and qualifications leading to increase unemployment rate, directly impacting on social security

Second, the labor market is strongly differentiated

In the Fourth Industrial Revolution, cheap labor is no longer a competitive advantage A series of old jobs have been lost, and the international labor market will strongly differentiate between groups of low-skilled and high-skilled workers Along with that, the advent of artificial intelligence not only threatens the employment of low-skilled workers, but even intermediate-skilled workers will be affected, if they do not receive training, equip with new skills-creativity skills

Trang 21

Third, fierce competition for high-quality human resources

The current trend is that economic groups and public corporations prioritize recruiting qualified workforce, especially for service industries and high value-added industries such as: Marketing, auditing, finance and banking, insurance, corporate management, information technology, e-commerce, transportation, sharing economy, data analysis, In general, all businesses require employees to think fast, have specialized skills and are able to be under high pressure of the job Therefore, in the future, the competition for high-quality human resources in the labor market will continue more and more fiercely

Fourth, the state management of education and training encounters many difficulties

Socio-economicdevelopment not only requires a large number of human resources but also requires high quality Society and learners will say no to unqualified training, not meeting social needs, learners' needs Forms of online training, virtual training, simulation, digitizing lessons will be career training trends in the future This puts great pressure on the state management of education and training

in resource preparation, faculty, learning spaces

3.3.3 Principle requirements in developing high-quality human resources in Vietnam

Firstly, capability to apply scientific and technological advances into practice

The center of the Fourth Industrial Revolution is information technology and the internet connecting things, not only helping humans communicate with humans, but also "humans communicate with machines", "humans communicate with objects "and" objects communicate with each other" Hence, Vietnam wants to join this industrial revolution, which requires the development

of high-quality human resources capable of applying advances Ministry of Science and Technology into practical production, social life, satisfy the demands of rapid and sustainable socio–economic development

Second, have the ability to communicate fluently in a foreign language

Cultivating foreign language is an urgent requirement Proficient use of foreign languages will create opportunities for people to easily absorb human knowledge, access and grasp multi-dimensional information sources, especially information about the development of scientific fields, traditional culture of the countries, searching and selecting jobs suitable for their qualifications, abilities from books, materials and through communication with foreigners

Third, master soft skills

Soft skills are the term used to refer to important skills in human life, often not learned in school, not related to professional knowledge Soft skills include: The ability to communicate, work with a team, choose a partner, presentation skills (express and apply intelligence, technology, bravery), time management Thusbuilding high-quality human resources requires universities and training institutions to develop flexible training programs, content, forms and methods and each person must actively learn, equip yourself with soft skills in the best way

Fourth, build standards of political, ethical, and appropriate quality of life

Developing high-quality human resources to meet the requirements of the fourth industrial revolution requires comprehensive improvement In which, building political,ethical and lifestyle qualities for employees is essential Employees are not only good at applying the advances of science and technology, good in foreign languages and creative in their work, but also need to have good political qualities; have ethics, a clean and frank lifestyle; dare to think, dare to do, dare to take responsibility in their positions and jobs

Trang 22

3.4 Some solutions to develop high-quality human resources in Vietnam for the Fourth Industrial Revolution

3.4.1 Raising awareness of the role of high-quality human resources development

High-quality human resources are the key force, at the forefront in capturing and using the achievements from Fourth Industrial Revolution, especially information technology, the internet to link all things, therefore, it demand all levels, sectors, people and businesses, educational and training institutions to be properly aware of the position and role of high-quality resource development in planning, building strategies, in management, education and training, in order to develop high-quality human resources From there, proactively develop training programs, schemes and plans to appropriately use high-quality human resources to meet the requirements of socio–economic development and international integration

3.4.2 Formulate and perfect the overall strategy, the system of mechanisms and policies for developing high-quality human resources

Building an overall strategy for developing high-quality human resources is a major undertaking and an important task, requiring careful research, prudence with breakthrough thinking and a long-term vision, consistent with Practice The strategy must clearly define the objectives, scale, roadmap, overall mechanisms and policies In particular, strategic objectives must prioritize overcoming the conflict between the development of quantity, quality, and structure of each type of human resource accordingly Develop aim plementation roadmap in a reasonable and highly predictable manner, making it a specific mechanisms and policies to finally develop a comprehensive and synchronous high-quality human resource

Regularly adjust, supplement and perfect the system of synchronous mechanisms and policies from the central to local levels, in many aspects such as: education and training, science and technology, working environment, employment policy, income, social security, insurance, social protection, health care, housing conditions, living and settlement Prioritize the development of the labor market for new business lines and leading industries Having policies to support the formation and development of innovative start-up incubators in technology training institutions, promote international cooperation in research, development and technology transfer All to grow human resources in Vietnam in the coming years

3.4.3 Regconize the important of renewing educational programs and develop high-quality human resources

The need to shift the training method from isolation, spontaneous quantity to focusing on quality training, with close connection between training institutions and employers; to shift training from a passive learner to a creative initiative in acquiring knowledge and skills, not afraid to face difficulties and challenges Therefore, it is necessary to review, plan and develop the network of education and training institutions across the country, diversify training methods according to the open education model, the national qualification framework, in association with the market demand Instead of teaching a common program, it is necessary to promote the construction of many training programs, content and methods in the direction of promoting creativity, developing personal capacities, bringing soft skills into training programs and thenas are quirement to graduate Continue to exercise university autonomy, develop a number of major scientific research centers and universities to form top research and training centers, encourage domestic and foreign investors to participate The education and training institutions need to set up close links with enterprises and international universities to build public-private partnership; buiding a digital technology education model to keep up with modern technology trends in the digital economy

Trang 23

Developing high-quality human resources to meet the requirements of the Fourth Industrial Revolution need to focous on training new skills such as: Searching for information; Software updates; accessing and storing data; using sensors, working with robots; using Blockchain technology; problem solving,critical thinking, creativity; HRM; working group Not only that, it is necessary to encourage and promote students' self-study, increase practical teaching from experts, entrepreneurs not only 100% of knowledge is from teachers Stepping up the state management of education and training; implementing the project "Improving the capacity of lecturers and managers of educational and training institutions base on the fundamental comprehensive innovation of education and training in the period

of 2019–2030" Improving the quality of the contingent of educators and educational administrators at all levels, ensuring that the educational human resourceshave a creative capacities and new qualities on the basis of standardization Through training activities, self-training and fostering professional knowledge, vocational skills, pedagogical skills and other necessary soft skills Strengthening quality accreditation of education and training institutions; ranking universities in education and training, developing high-quality human resources To plan a network of higher education institutions, focusing

on teacher training schools; to develop high-quality higher education institutions according to regional and world standards, giving priority to resources for development of technological schools; improve the quality of foreign language teaching at all learning levels

3.4.4 Closely combine training with the use of high quality human resources

The close connection between the training process and the use of high-quality human resources requires a focus on perfecting and improving the quality of the labor market forecasting information system, keeping abreast of the needs of society and quality of employment service, training must be closely linked with use Develop mechanisms and policies to orient the labor movement openly, rationally distribute labor by regions and occupations suitable to training majors, ensure to promote students' forte, avoid the wasting high-quality human resources in the training process

Equip learners with necessary skills such as communication, handling situations, use of information technology, creativity, adaptation, grasping the development trend of society to ensure ensuring the close connection between training and use, meeting the current requirements The enrollment and selection of training and retraining sources not only place on top of the criteria of cognitive level, but also attach great importance to foreign language, informatics, political bravery, professional ethics, leadership, management capacity

4 CONCLUSION

In each historical era, each level of social development expects an appropriate workforce To promote the significant achievements gained in recent years, at the edge of the Fourth Industrial Revolution, the trend of integration and the knowledge economy, Vietnam urge the need for resources These are natural resources,financial resources, science and technology resources and human resources In which, "Developing and improving the quality of human resources, especially high-quality human resources is one of breakthrough strategy which is the decisive factor to promote the development and application of science and technology, restructure the economy, transform the growth model and themost important competitive advantage, ensuring quick, effective and sustainable development”12

Trang 24

Construction Platform in the period of transition to socialism and strategy of socio-economic development in stages, Vietnam needs to perform well a number of issues: Clearly identify human resources as the most valuable resource of Vietnam in the country development process Conduct regular surveys on human resources and quality of human resources in all branches, levels, localities and the country; ensure the balance of supply and demand of manpower for socio-economic development nationwide, in each branch and at each level Improve efficiency in planning, management and use of high-quality human resources Fundamentally and comprehensively renovate education and training to improve the quality of human resources, especially high-quality human resources to meet the requirements of science and technology application, growth model innovation, restructure the economy, promote industrialization and modernization of the country Developing high-quality human resources must be appropriate to specific conditions of ministries, branches and localities; closely associated with the requirements of international cooperation and integration It is necessary to establish a process of closely detecting, exploring, evaluating and publicly recruiting human resources suitable for each specific place and requirement

6 Communist Party of Vietnam (2011), Document The 11th National Congress of the Communist Party

of Vietnam, national political publisher, Hanoi

7 Communist Party of Vietnam (2016), Document The 12th National Congress of the Communist Party

of Vietnam, national political publisher, Hanoi

8 Pham Minh Hac – editor (2007), Developing culture and human resources in the period of national industrialization and modernization, national political publisher, Hanoi

9 Associate Professor Ph.D Le Huu Lap (2016), Training high quality human resources, online Nhandan newspaper, 9/4

10 Karl Marx và Engels(1993), Whole set, tome 23, national political publisher, Hanoi

11 Dang Truong Minh (2016), Training high-quality human resources in science and technology in theVietnamese for People's Army, PhD thesis in philosophy, Political Academy, Hanoi

12 Nguyen Thanh (2005), Develop human resources for national industrialization and modernization, national political publisher, Hanoi

13 General Statistics Office(2019), Report on employment situation in the fourth quarter

14 Nguyen Ngoc Tu (2012), High-quality human resources of Vietnam in international economic integration, Doctoral thesis in Economics, Ho Chi Minh National Academy of Politics

Trang 25

17 Nadler & Nadler (1990), The Handbook of human resource development New York: John Wiley

18 OECD (1995), Manual on the Measurement of the human Resouces Devoted to science and technology Paris: Haed of Publications Service, OECD Publications Service

19 World Bank (1993), The east Asian Miracle: economic growth and Public policy

Trang 26

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU

VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

ThS Lê Quốc Anh 1 – Lê Thị Trâm Anh2

Tóm tắt: Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) – (EVFTA) là FTA

thế hệ mới quan trọng, có nhiều ngoại ứng, vừa tạo ra thách thức, vừa mở ra cơ hội cho doanh nghiệp phát triển Doanh nghiệp Việt từng được hưởng lợi nhiều từ hoạt động thương mại và FTA với EU, nhưng còn nhiều lãng phí, yếu kém, bởi nhiều nguyên nhân Nay trước yêu cầu cấp thiết, nước ta nên tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc, dựa vào EVFTA để phát triển doanh nghiệp Cụ thể, cần xây dựng học thuyết phát triển riêng, đổi mới thể chế, thực thi chính sách sát thực, làm định hướng và tạo khuôn nền Thành lập các bộ phận chuyên về khai thác từng FTA, cũng như tổng hợp các FTA, để phát huy lợi thế, hạn chế tác động tiêu cực, chuyển đổi doanh nghiệp yếu thế Khai thác tác động từ EVFTA để phát triển các thương hiệu quốc gia, các doanh nghiệp hỗ trợ, hình thành các chuỗi cung ứng, phát triển tổng hợp các doanh nghiệp đặc thù Thu hút khôn ngoan đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ EU và đối tác liên quan, để phát triển tốt doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh Hình thành hệ thống doanh nghiệp hội nhập, với khu vực doanh nghiệp nội phát triển, khu vực FDI tích cực, đóng góp nhiều vào tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng

Từ khóa: Doanh nghiệp, EVFTA, tăng trưởng

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiếm có vấn đề nào ở nước ta có mức độ quan tâm được nâng cấp nhanh như phát triển doanh nghiệp Mãi tới năm 2011, khi đa phần các nước đã xem doanh nghiệp là trung tâm của nền kinh tế, Việt Nam mới lần đầu tiên xem số liệu về doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là chỉ tiêu quan trọng Nhưng sau đó, ngày 16 tháng 5 năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ–CP, đặt mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2020 Tiếp đó, ngày 03 tháng 6 năm 2017, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, đặt mục tiêu năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp, đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp Và nay, phát triển doanh nghiệp được xem là chìa khóa để nước ta đạt kỳ vọng trở thành nước thu nhập trung bình cao, rồi thành nước thu nhập cao vào các năm 2030 và 2045, chào mừng 100 năm ngày thành lập Đảng, thành lập nước Song, không phải muốn là được, bởi đây là nhiệm vụ khó khăn đối với nước mới có thu nhập trung bình thấp (Lê Quốc Anh& Lê Thị Trâm Anh, 2018a), nên khi EVFTA có hiệu lực, thì cần khai thác sâu tác động từ đó để phát triển doanh nghiệp Vì thế, trong thời gian tới, nước ta vừa cần tập trung khai thác EVFTA, để góp phần tạo ra tăng trưởng cao; vừa cần có những giải pháp lồng ghép, đồng bộ

để phát triển hệ thống doanh nghiệp quốc gia Vậy, đâu là cơ sở khoa học và thực tiễn của các giải pháp cần có, chúng cần được triển khai theo các định hướng nào, dựa theo kinh nghiệm của nước nào, các giải pháp cụ thể ra sao… Để góp phần làm sáng tỏ các vấn đề trên, bài viết này tập trung nghiên cứu: (i) EVFTA – cam kết rộng, thách thức cao, mở ra nhiều cơ hội cho phát triển doanh nghiệp ở nước ta; (ii) Thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam dưới tác động của hoạt động thương mại và FTA với EU; (iii) Các giải pháp để phát triển nhanh, mạnh, hiệu quả doanh nghiệp, nhằm khai thác tốt nhất EVFTA

1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

2 Trường Đại học New South Wales, Australia

Trang 27

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

FTA thế hệ mới mới có cách đây vài năm, nên cơ sở lý thuyết về phát triển doanh nghiệp dưới tác động của nó còn là vấn đề mới mẻ, cả trên thế giới và lẫn ở nước ta Hơn nữa, đây là chuyên đề phân tích về ảnh hưởng của một FTA cụ thể, đến sự phát triển doanh nghiệp ở một quốc gia cụ thể, mới có hiệu lực trong một thời gian ngắn Nên đây vừa là khoảng trống cần nghiên cứu, vừa đòi hỏi để thực hiện chuyên đề này, cần xây dựng khung phân tích tương thích Mặt khác, là chuyên đề phân tích kinh

tế, nên cơ sở lý thuyết được dùng để xây dựng khung phân tích là kinh tế học, nhất là kinh tế vĩ mô,

kinh tế vi mô, kinh tế phát triển, quản trị doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp Ngoài ra, còn sử dụng các kiến thức về quản trị học, thống kê kinh tế, cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, chuỗi giá trị, và các thông tin, đánh giá về các vấn đề trên cùng các diễn biến của chúng trong các lĩnh vực đó Từ nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành nghiên cứu định tính, thông qua các phương pháp: phân tích và tổng hợp lý thuyết, chuyên gia, phân tích tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu lịch sử… Trên quan điểm duy vật biện chứng, dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất yếu, dùng phép so sánh để đưa ra nhận định trung gian, sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp lại để đề đạt kiến nghị, giải pháp

Số liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WB), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Tổng cục Thống kê (GSO), Tổng cục Hải quan; các số liệu không dẫn nguồn là được thu thập từ Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu – cam kết rộng, thách thức cao, mở ra nhiều cơ hội cho phát triển doanh nghiệp ở nước ta

3.1.1 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu – hiệp định thương mại tự

do thế hệ mới điển hình

EVFTA là FTA giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU, được Thủ tướng Việt Nam và Chủ tịch

EU đồng ý khởi động đàm phán vào tháng 10 năm 2010 Sau đó chính thức đàm phán từ tháng 6 năm

2012, và kết thúc đàm phán ngày 01 tháng 12 năm 2015 Tháng 9 năm 2017, tách riêng nội dung bảo

hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư, thànhHiệp định Bảo hộ đầu

tư (IPA) Vì thế, cam kết về đầu tư trong EVFTA chỉ còn phần tự do hóa FDI, và có hiệu lực từ ngày

01 tháng 8 năm 2020, với 27 nước EU do Anh đã Brexit Với 17 chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo – EVFTA không rộng bằng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) với 30 chương và 9 phụ lục Nhưng là FTA thế hệ mới hiện đại và toàn diện nhất của nước ta, bởi: (i) Nền tảng vẫn là FTA, ở cấp độ 2/5 về hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng phạm vi cam kết đã mở rộng hơn nhiều FTA thế hệ thứ nhất, thứ hai, vượt xa cả FTA thế hệ thứ ba

Hình 1 Tiến trình hình thành các thế hệ FTA

Nguồn: Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014)

Thế hệ mới Đàm phán tự do mạnh mẽ

về thuế quan, mở cửa dịch

vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật, cạnh tranh mua sắm công, lao động, môi trường

Thế hệ thứ ba Tiếp tục mở rộng phạm vi về tự do dịch vụ đầu tư P4 -

Mở rộng phạm vi tự

do sang các vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường

Thế hệ thứ hai

Mở rộng phạm vi tự

do sang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các dịch vụ liên quan)

Trang 28

(ii) Tính “thế hệ mới” càng rõ khi ngoài lao động và môi trường, nhiều vấn đề phi thương mại khác được cam kết, để bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại (iii) Mức

độ tự do hóa thương mại sâu và nhanh, gần như ngay lập tức mở cửa thị trường, xóa bỏ phần lớn dòng thuế cho hàng hóa, mở cửa nhanh, mạnh các ngành dịch vụ (iv) Nhiều cam kết thể chế, ảnh hưởng lớn đến pháp luật nội địa, như phát triển bền vững, quản trị, quyền sở hữu trí tuệ, minh bạch hóa, chống tham nhũng – được thỏa thuận (v) Hơn hẳn CPTTP, còn ràng buộc về nhân quyền, xác lập cơ chế đảm bảo sự tham gia của các thành phần, cân bằng lợi ích, có tính đến chênh lệch về trình độ phát triển (Lê Quốc Anh, 2017)…

3.1.2 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu có nhiều ngoại ứng, ảnh hưởng lớn tới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam

Quá trình đàm phán và triển khai EVFTA mang về nhiều ngoại ứng, ảnh hưởng tới phát triển doanh nghiệp ở nước ta, tiêu biểu là: (i) Làm thay đổi tư duy kinh tế, ép buộc nhà nước đổi mới cơ bản thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư, “cởi trói” cho doanh nghiệp Tạo ra cuộc “tổng

rà soát” quy định pháp lý, sửa đổi theo chuẩn mực quốc tế, ép bộ máy quản lý đang “ì ạch” phải chuyển nhanh sang cơ chế thị trường (ii) Mở ra cục diện mới cho phân công lao động, hướng doanh nghiệp phát triển thực dụng trong hội nhập, thoát dần tình trạnh phụ thuộc vào một vài thị trường Đòi hỏi doanh nghiệp Việt phải đông về lượng để tăng “người chơi”, phối hợp với nhau trong chuỗi cung ứng,

để tham gia hệ thống tiêu thụ dạng chuỗi (Lê Quốc Anh& Lê Thị Trâm Anh, 2018b) (iii) Tạo tâm thế mới cho nhà đầu tư trong nước, hướng quan tâm sang đầu tư dài hạn, khai thác lợi thế, nhất là về nông nghiệp Thu hút FDI đến hưởng lợi, mở đường cho các thương hiệu lớn của EU sang đầu tư, mở rộng ảnh hưởng lên toàn khu vực (iv) Tăng sinh khí cho nền kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo: EVFTA sẽ làm cho GDP, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam hàng năm đều tăng thêm đáng kể Đồng thời, tăng sinh khí phát triển cho doanh nghiệp, khi còn là cầu nối để mở rộng quan hệ giữa EU

với từng nước nói riêng và cả Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nói chung

Bảng 1 Dự báo các phần tăng thêm chính của Việt Nam khi có EVFTA

Phần tăng thêm (%) bình quân năm của GDP Kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch nhập khẩu

mô, công nghệ hoặc thương hiệu thấp hơn có thể sẽ thoái lui vì lo ngại rủi ro

3.1.3 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu có nhiều thách thức lớn tới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam

Các thách thức chính là: (i) Đưa được số lượng doanh nghiệp tham gia vào EVFTA lên mức cần

có, giúp chúng đủ lớn về quy mô, đủ mạnh về chất lượng, để thu về lợi ích nhiều hơn tổn thất, thiệt hại mất đi Cạnh tranh thành công, giảm dần khiếm khuyết, vươn lên lớn mạnh, ít bị doanh nghiệp EU lấn

Trang 29

át, thâu tóm, giảm số doanh nghiệp bị đào thải vì các hạn chế cố hữu (ii) Từng khu vực doanh nghiệp tham gia vào EVFTA hoàn thành sứ mệnh, như doanh nghiệp nhà nước bên hiệu quả xã hội, còn đạt mức hiệu quả kinh tế cần có; doanh nghiệp FDI từ EU có nhiều tác động lan tỏa Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng đủ nhanh về lượng, khắc phục được nhược điểm vốn ít, công nghệ thấp, giữ được thị trường nội địa, hỗ trợ doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, trở thành động lực của nền kinh tế… (iii) Nhà nước từ bỏ quyền quản lý và điều tiết thu nhập hợp lý, để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, tương thích với cam kết Các nhà hoạch định chính sách mở rộng tầm nhìn, các bộ ngành thực thi tốt chức năng kiến tạo, các công chức tăng cường kỷ cương và đạo đức công vụ, mở đường cho phát triển (iv) Từng doanh nghiệp đổi mới kịp thời, tăng sự phối hợp, vượt qua tình trạng gần như thất thế “toàn tập” trước doanh nghiệp EU để phát triển, nhất là doanh nghiệp bị thiệt thòi vì cam kết Chính phủ Tìm ra cách thức kinh doanh hoặc hợp tác phù hợp với doanh nghiệp EU, để tự hoặc cùng phát triển, chủ động trong sản xuất, xuất khẩu, làm nền cho đất nước phát triển (v) Giới khoa học giúp doanh nghiệp nhận rõ cơ hội, thách thức, hiểu được cách thức đầu tư mới, đổi mới, hợp tác phù hợp Cộng đồng hỗ trợ doanh nghiệp lúc khó khăn, đúng thời điểm, làm tăng nội lực cho nền kinh tế, tăng vị thế cho đất nước; dung hòa lợi ích giữa quốc gia – doanh nghiệp – cộng đồng và người lao động (Lê Quốc Anhvà Lê Thị Trâm Anh, 2018c)

3.1.4 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu mở ra nhiều cơ hội cho phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam

Thách thức lớn và nhiều, song bên cạnh đó EVFTA cũng mang nhiều cơ hội lớn cho phát triển doanh nghiệp ở nước ta, tiêu biểu là: (i) Nhà nước cải cách thể chế mạnh mẽ cho tương thích với cam kết trong EVFTA, “cởi trói” cho doanh nghiệp, giải phóng nhiều nguồn lực tiềm ẩn Khuyến khích, hỗ trợ phong trào khởi nghiệp, nâng cấp các hộ, tổ hợp, trang trại, hợp tác xã thành doanh nghiệp, kết hợp mong muốn khai thác cơ hội, với đòn bẩy hỗ trợ, tạo ra cao trào phát triển về lượng cho doanh nghiệp (ii) Đưa nhanh và nhiều các lợi thế của đất nước phục vụ nhu cầu xuất khẩu sang thị trường EU, có nhiều ưu đãi, giúp phát triển mạnh doanh nghiệp trong các ngành đang khai thác lợi thế Mở rộng về quy mô, sản lượng và thị trường, cho phép tập trung đầu tư cho doanh nghiệp ở các ngành xuất khẩu chủ lực, đưa thành thương hiệu quốc gia, tạo vị thế mới cho doanh nghiệp Việt (iii) Thế chỗ cho doanh nghiệp ngoại đang cùng cung cấp sản phẩm cùng loại cho EU, nay bị đứt gãy trong quan hệ cung ứng khi không tham gia EVFTA, vì bị hụt hẫng trong cạnh tranh Vươn sang chiếm giữ thị trường sản phẩm giá rẻ, ngay tại “sân nhà” ở các nước EU, nhờ lợi thế chi phí lao động thấp hơn, hoặc ở ngành cần nhiều lao động “sống” (iv) Thu hút doanh nghiệp FDI từ các nước EU, nhất là trong các ngành EU có thế mạnh vượt trội, nhằm đưa sản xuất đến thị trường, hoặc dùng Việt làm bàn đạp lấn sang các nước lân cận Đón nhận doanh nghiệp FDI của các nước khác, khi chuyển đầu tư từ các nước không tham gia sang, hòng trục lợi kinh tế theo EVFTA (v) Tham gia vào các chuỗi giá trị, qua việc thâm nhập vào mạng lưới tiêu thụ ở các nước EU, nhất là trong việc cung cấp nông sản nhiệt đới, hoặc truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Là hướng quan trọng để các doanh nghiệp Việt đang dẫn dắt thị trường tự giảm áp lực cạnh tranh, quy tụ, lôi kéo và hỗ trợ nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cùng vươn sang EU

3.1.5 Kinh nghiệm Trung Quốc về phát triển doanh nghiệp để phục vụ xuất khẩu, và khai thác đầu tư nước ngoài để phát triển doanh nghiệp trong nước

Có nhiều kinh nghiệm về phát triển doanh nghiệp khi hội nhập, như giải tán doanh nghiệp lớn không hiệu quả của Nhật Bản, tập trung cho doanh nghiệp xuất khẩu của Hàn Quốc, dùng sức mạnh toàn dân để đột phá của Singapore, đẩy mạnh khởi nghiệp của Israel Nhưng kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp để phục vụ xuất khẩu, và khai thác FDI để phát triển doanh nghiệp trong nước, nên học nhất là của Trung Quốc Bởi: (i) Hai nước giáp biên giới nhau, có nhiều tương đồng về văn hóa, chính trị, cơ chế lãnh đạo, quá khứ kinh tế tập trung, nhu cầu tái cấu trúc, nền kinh tế hỗn hợp định

Trang 30

hướng thị trường Nhiều thay đổi lớn của Việt Nam như là “bản sao” của các thay đổi từng có ở Trung Quốc, với độ trễ khoảng 10 năm, nên dùng kinh nghiệm Trung Quốc để đổi mới, cảnh báo có

ý nghĩa to lớn (ii) Lý luận và cách thức phát triển của Trung Quốc trong 30 năm 1949–1978 là có vấn đề, dẫn đến kinh tế dần kiệt quệ, sau 10 năm đã rơi vào nạn đói, làm 43 triệu người chết (Nguyễn Minh Tri, 2015) Sản xuất trì trệ, 20 năm chỉ đưa thu nhập bình quân của người dân tăng thêm 04 tệ,

dự trữ ngoại tệ năm 1978 chưa đến 0,2 USD/người (Ngô Hiểu Ba, 2010, 15), tụt hậu so với nhiều nước (iii) Sau 30 năm “Mở cửa”, đã thành siêu cường thứ hai, có tăng trưởng bình quân 9,7%/năm trong giai đoạn 1980–2015, dự trữ ngoại tệ năm 2015 lên đến 38.000 tỷ USD, đứng đầu thế giới Bí quyết thành công là tự do hóa nhiều mặt, giải phóng tiềm năng, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút FDI – năm 2013 đạt 290,9 tỷ USD ròng, giúp phát triển mạnh doanh nghiệp trong nước

Hình 2 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam và Trung Quốc năm 2019

0 20 40 60 80

100 Thể chế

Cơ sở hạ tầng Tiếp cận công nghệ thông tin

Ổn định kinh tế vĩ mô Sức khỏe

Kỹ năng Thị trường hàng hóa Thị trường lao động

và cs., 2013, 562), khiến kinh tế Trung Quốc bị ví von là “quả bom nổ chậm” (Lê Quốc Anh và Lê Thị Trâm Anh, 2019)

3.2 Thực trạng phát triển doanh nghiệp Việt Nam dưới tác động của hoạt động thương mại và Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu

3.2.1 Doanh nghiệp Việt Nam từng phát triển nhiều nhờ hoạt động thương mại và Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu

EVFTA là sự kế thừa và được nâng tầm từ quan hệ thương mại giữa Việt Nam với EU cũ – khi nước Anh chưa Brexit (EU28) Vì thế, ảnh hưởng từ hoạt động thương mại và FTA với EU tới phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam được khai thác chưa nhiều, nhưng vẫn lớn và quan trọng

Trang 31

Hình 3 Phần của xuất, nhập khẩu với EU28 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

của Việt Nam, giai đoạn 1995–2019 (%)

5 7 9 11 13 15 17 19 21 23

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Cụ thể:

(i) EU28 là bạn hàng chính, quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam, và là khu vực có xuất siêu lớn Không ít doanh nghiệp Việt lấy quan hệ thương mại này làm điểm tựa để phát triển, đồng thời là cánh cửa giúp họ vươn ra thế giới, thu về nhiều ngoại tệ, phục vụ quá trình công nghiệp hóa đất nước

(ii) EU là đối tác lớn đi đầu, trước cả ASEAN và Trung Quốc, dẫn dắt Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng, mở đường cho cộng đồng doanh nghiệp chuyên về xuất nhập khẩu với EU của nước ta phát triển

Hình 4 Quá trình mở cửa của Việt Nam tới ngày gia nhập WTO

Nguồn: Lê Đăng Doanh (2016)

Giúp phát triển nhanh các cộng đồng doanh nghiệp tương tự với nhiều thị trường khác, đưa xuất nhập khẩu trở thành động cơ tăng trưởng chính của Việt Nam, ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp không chuyên khác có liên quan (iii) Quá trình đàm phán EVFTA và rà soát pháp lý, giúp Việt Nam nhận thức rõ hơn những cái “không giống ai” trói buộc doanh nghiệp, để đổi mới, từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Quan hệ thương mại với EU28 góp phần làm rõ các thế mạnh và các mặt cần bổ khuyết của kinh tế Việt Nam, giúp nhà đầu tư thấy rõ hướng phát triển doanh nghiệp cần

có, để tồn tại lâu dài, cùng vươn ra thế giới

(iv) Quan hệ thương mại với EU28 giúp thu hút không ít dự án FDI chất lượng tới Việt Nam, tạo

ra một số sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, điển hình là điện thoại, máy vi tính, đồ điện tử Lũy kế đến cuối năm 2019, EU28 có 2.375 dự án đến từ 27/28 quốc gia còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng

ký 25,49 tỷ USD, nhiều tập đoàn lớn của EU đang hoạt động hiệu quả tại Việt Nam (v) EU còn là nơi để các doanh nghiệp Việt ấp ủ dự định “thoát Trung”, trên cơ sở cộng đồng người Việt tại EU đông đảo

Đầu tư của Việt Nam sang EU28 chưa nhiều, đến hết năm 2018 mới có 78 dự án đầu tư sang 10 nước, với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 320,20 triệu USD, trong đó chủ yếu là sang Đức với 29 dự án…

2005

FTA ASEAN – Trung Quốc

1995

Chuẩn bị gia nhập WTO

1992

Hiệp định về may mặc với EU

2004

Hiệp định tiếp cận thị trường với EU

1995

Hiệp định khung với EU

2007

Gia nhập WTO

Thời gia n

Trang 32

Bảng 2 Bảy mặt hàng xuất, nhập khẩu chính của Việt Nam trước EU Hàng xuất khẩu

(theo giá trị kim

ngạch)

Năm 2019

Hàng nhập khẩu (theo giá trị kim ngạch)

Năm 2019 Triệu

Giày dép 5.029,4 +7,51 Máy vi tính, điện thoại 2.514,4 +36,40

Thủy hải sản 1.247,6 –13,07 Phương tiện vận tải

Nguồn: Tổng cục Hải quan

3.2.2 Các hạn chế, yếu kém trong việc phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam dưới tác động của quan hệ thương mại với Liên minh châu Âu

Có nhiều, trong đó các hạn chế, yếu kém chính là: (i) Việt Nam thiếu doanh nghiệp đủ tầm để

“chơi” trong EVFTA, đảm bảo cung hàng xuất khẩu với quy mô lớn, tương thích với hệ thống tiêu thụ dạng chuỗi của EU Tổng số doanh nghiệp lớn và vừa mới chỉ hơn 38.300, trong đó gần 2/3 là doanh nghiệp nhà nước từng bị ví là càng hội nhập sâu càng “run” (Lê Doãn Hoàn, 2014), mà phải tham gia sâu vào 13 FTA đã có hiệu lực, thì hơi quá sức (ii) Chất lượng doanh nghiệp chưa ổn, ít doanh nghiệp

có giá trị thương hiệu cao, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chưa rõ về xuất xứ, thiếu đồng đều về chất lượng, khó đáp ứng tiêu chuẩn EU Trong thời toàn cầu hóa, mà chỉ có 21% SME Việt tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều sản phẩm phải xuất khẩu qua nước thứ ba, khó tham gia vào chuỗi giá trị của EU (iii) “Sức khỏe” của nhiều doanh nghiệp chưa tốt, năm 2019 chỉ có 44,1% doanh nghiệp làm ăn có lãi, nhiều doanh nghiệp còn bị “li ti hóa” (Võ Trí Thành, dẫn theo Nguyễn Hoài, 2016), thiếu khả năng cạnh tranh quốc tế Nhiều cam kết cao, như thu nhập của người lao động, môi trường lao động, nguyên tắc xuất xứ, làm cho EVFTA như là cuộc chơi quá sức với nhiều doanh nghiệp nội

Hình 5 Cơ cấu doanh nghiệp Việt tại thời điểm cuối năm 2018 theo quy mô

(iv) Cơ cấu doanh nghiệp chưa tương hợp, khi 2.260 doanh nghiệp nhà nước là bộ khung của nền kinh tế, nhưng xuất khẩu không đáng kể sang EU, còn khu vực I cung cấp tới 2,5 tỷ USD hàng xuất khẩu nhưng chỉ chiếm 1,35% số doanh nghiệp Khu vực FDI chiếm tới 72% kim ngạch xuất khẩu, với các sản phẩm chính là hàng gia công, lắp ráp, làm cho nước ta dường như đang xuất khẩu hộ cho các nước đối tác, nhất là Hàn Quốc

Trang 33

Bảng 3 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU28, 2015–2019

Đơn vị: triệu USD

Năm

Trị giá Tăng (%) Trị giá Tăng (%) Trị giá Tăng (%)

Nguồn: Tổng cục Hải quan

(v) Các mặt hàng nông, thủy sản – niềm hy vọng của nước ta trong EVFTA, thường sản xuất nhỏ, phân tán, chưa bắt kịp trào lưu sản xuất “sạch”, chưa thực hiện nghiêm tiêu chuẩn cho nông sản, chưa xây dựng được thương hiệu quốc gia Kim ngạch xuất nhập khẩu còn tăng giảm thất thường, cần chế tài mạnh để chấn chỉnh “người chơi”, phát huy vai trò của các hiệp hội để nâng cấp “cách chơi”, mới mong phát triển mạnh, hiệu quả và lâu dài

3.2.3 Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém trong phát triển doanh nghiệp Việt dưới tác động của quan hệ thương mại và hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu

Các nguyên nhân chính là: (i) Việt Nam để doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả thao túng nền kinh tế, vài năm gần đây mới coi trọng doanh nghiệp tư nhân, nên khu vực doanh nghiệp còn non yếu Mặt khác, mô hình phát triển bị đánh giá là phi kinh tế, không chấp nhận được (Trường Chinh, dẫn theo Đặng Phong, 2012, 271), song đổi mới và “cởi trói” chậm; tới năm 2013 mới thực sự chú tâm vào hội nhập quốc tế, nên lĩnh vực này chưa phát triển tương xứng (ii) Doanh nghiệp tư nhân chưa ổn về môi trường pháp lý, vừa bị di họa từ thể chế cũ xem thường các phạm trù kinh tế cơ bản (Todd, 2008, 251) cản trở, vừa bị thanh, kiểm tra chồng chéo, nên “không dám lớn” Dấu tích của tư duy bài xích mọi quan hệ thị trường (Võ Nguyên Giáp, dẫn theo Đặng Phong, 2012, 159), và chính sách công nghiệp lạc hậu (Kenichi, dẫn theo Bích Ngọc, 2014), làm doanh nghiệp Việt nhiều năm lạc lõng trong tiến trình phát triển chung (iii) Khi hội nhập với EU, các hạn chế cố hữu về quy mô, vốn, nhân lực, cách quản trị, thương hiệu, năng lực cạnh tranh – càng lộ rõ; bị bất ổn vĩ mô dai dẳng giai đoạn 2007 –

2013 làm cho điêu đứng Cơ cấu kinh tế lạc hậu, chuẩn mực thấp, liên kết giữa các bộ phận, khu vực yếu, liên kết giữa các nhóm ngành xuất khẩu hầu như không có (Michael Porter, dẫn theo Lưu Ngọc Trịnh, 2012), khiến doanh nghiệp Việt khó cạnh tranh khi tham gia EVFTA (iv) Việc dùng các tỉnh, thành phố làm địa bàn cấp chiến lược trong tổ chức sản xuất, làm lợi thế bị chia cắt, doanh nghiệp trong khu vực I thành manh mún, khó phát triển Tư duy phát triển theo khả năng, làm quy mô sản phẩm xuất khẩu vừa nhỏ, vừa chủ yếu liên kết với thế giới bằng các sản phẩm kinh doanh theo nhu cầu của các doanh nghiệp FDI (v) Lợi thế bền vững của nước ta trước EU là nông sản nhiệt đới, nhưng nhiều chuỗi cung ứng đứt gẫy, đa phần chưa sản xuất theo quy trình GAP, như là tự loại ra khỏi EVFTA Mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khủng hoảng, đồng tiền bị định giá cao (Nguyễn Đức Thành, dẫn theo Thụy Khanh, 2018), nên khó cạnh tranh với các nền nông nghiệp khác

Trang 34

Bảng 4 Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019 của đơn vị

tổ chức kinh tế chiến lược của một vài quốc gia

tỉnh, đơn vị trực thuộc

Quy mô bình quân Diện tích

(km 2 )

GDP (tỷ USD)

Diện tích (km 2 )

GDP (triệu USD)

Nguồn: Wikipedia, Ngân hàng Thế giới

3.2.4 Dựa vào Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu để phát triển doanh nghiệp – yêu cầu cấp thiết và thực tiễn của Việt Nam

Bởi: (i) Phát triển doanh nghiệp giúp khuếch trương cao hơn giá trị các nguồn lực đang hạn chế

và khan hiếm, góp phần nâng cao năng suất lao động, đưa thu nhập bình quân tăng nhanh Là công

cụ quan trọng giúp nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, và có thu nhập cao vào năm 2045, chào mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ii) EU là thị trường quan trọng của Việt Nam, hiện lớn thứ 2 về xuất khẩu, thứ 3 về đối tác thương mại, đứng đầu về xuất siêu, có sự bổ sung cao, dễ phát huy sự khác biệt địa lý Hứa hẹn cung cấp nhiều công nghệ nguồn, phân tán rủi ro thị trường, hỗ trợ “thoát Trung”, thu về nhiều lợi ích từ lợi thế bền vững, nên cần phát triển hội nhập sâu rộng và lâu dài

Bảng 5 Thuế nhập khẩu 6 loại trái cây trước và sau khi EVFTA có hiệu lực

Trang 35

3.3 Các giải pháp để phát triển nhanh, mạnh, hiệu quả doanh nghiệp, nhằm khai thác tốt nhất Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu

Một là, xây dựng học thuyết phát triển riêng, đổi mới sâu sắc thể chế, thực thi chính sách sát thực, làm định hướng cơ bản và tạo khuôn nền để doanh nghiệp Việt có điều kiện hình thành và phát triển tốt, đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp của đối tác trong các FTA

Hệ thống doanh nghiệp đã trở thành trung tâm của nền kinh tế, vì thế muốn doanh nghiệp phát triển tốt, thì trước hết nền kinh tế cần phát triển tốt, và để tốt, cần có học thuyết phát triển riêng Lịch sử

đã từng chứng kiến: nước Mỹ từ thuộc địa trở thành siêu cường, Nhật Bản bại trận thành “Thần kỳ kinh tế”, “làng chài” Singapore trở thành đầu tàu của ASEAN, Hàn Quốc từng sống nhờ tiền của lính đánh thuê lập nên “Kỳ tích” Và gần đây, kỳ tích “khởi nghiệp” của Israel, Trung Quốc hùng cường nhờ Cải cách 1979, sự hồi sinh kỳ diệu của Nga… đều chỉ có khi có con đường phát triển riêng phù hợp Do đó,

để “sánh vai với các cường quốc” như ước vọng của Hồ Chủ tịch, Việt Nam không thể cứ loay hoay trong cách thức đã làm ra sự tụt hậu hiện nay, cần chấp nhận “phá hủy sáng tạo”, làm “cuộc Đổi mới lần hai” Ít nhất là phải có học thuyết phát triển mới và riêng, không vay mượn, mô phỏng, cơi nới, mà cần đột phá trên cơ sở kinh tế vững chắc, hợp lòng dân, được đông dân ủng hộ Trong đó, cần dung hòa tinh hoa: hướng về xuất khẩu của các nước Đông Á, bất chấp “mèo trắng, mèo đen” và khai thác nhu cầu của Trung Quốc, phát huy vốn con người của Singapore, tạo sức bật toàn quốc bằng khởi nghiệp của Israel… Mặt khác, đổi mới sâu sắc thể chế để rộng đường cho học thuyết mới đi vào cuộc sống, không để kỳ vọng xa xôi cản đường phát triển hôm nay, để “tư duy cứng” trói gô sự sáng tạo Không giữ viên chức dưới chuẩn vì tình nghĩa thiển cận mà làm “rầu” đất nước, phải coi cán bộ thoái hóa là kẻ thù thuộc nhóm “giặc nội xâm”, coi trọng hiệu quả kinh tế không kém việc “không chệch hướng, đổi màu” Loại bỏ các ưu việt hão huyền, thực thi chính sách sát thực, không để nguồn lực phát triển đã nhỏ, hẹp, lại bị băm nát, các nỗ lực hỗ trợ “mất hút” theo dàn trải Đồng thời, nâng cấp lợi thế nông nghiệp bằng chuyển sang tổ chức kinh tế theo vùng (Lê Quốc Ạnh và Lê Thị Trâm Anh, 2019), cởi trói toàn diện để giải phóng tiềm lực, “doanh nghiệp hóa” các chủ thể để khuếch trương giá trị nguồn lực (Lê Quốc Ạnh và cs, 2018)… Cộng với việc nâng cấp dần các “vùng lõm, thấp” trong năng lực cạnh tranh, để doanh nghiệp Việt được định hướng và có khuôn nền tốt, dễ hình thành và phát triển, có năng lực cạnh tranh đáng nể trước doanh nghiệp của đối tác trong các FTA

Hình 6 Chênh lệch về năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam với Đức và Pháp, năm 2019

0 20 40 60 80

100 Thể chế

Cơ sở hạ tầng Tiếp cận công nghệ thông

tin

Ổn định kinh tế vĩ mô Sức khỏe

Kỹ năng Thị trường hàng hóa Thị trường lao động

Hệ thống tài chính Quy mô thị trường

Tính năng động của doanh nghiệp Năng lực đổi mới sáng tạo

CHLB Đức Pháp Việt Nam

Nguồn: WEF

Hai là, có bộ phận chuyên trách về khai thác từng FTA, và tổng hợp các FTA, nhằm đưa nhiều và hiệu quả các lợi thế của đất nước vào hội nhập kinh tế, hạn chế tác động tiêu cực, chuyển đổi doanh nghiệp yếu thế, hướng tới hình thành hệ thống doanh nghiệp hội nhập

Trang 36

Phát triển doanh nghiệp và khai thác EVFTA dù cấp thiết, song chỉ là hai trong các nhiệm vụ hàng đầu Việt Nam cần làm, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế Các doanh nghiệp được phát triển dù dưới tác động, nhưng đâu phải là của riêng mình EVFTA, và EVFTA dù quan trọng, cũng chỉ là một phần trong hoạt động xuất nhập khẩu nói chung Hơn nữa, trong mỗi quốc gia, mỗi FTA đều có hàng vạn đối tượng liên quan, mà không ít có xung đột lợi ích; ngược lại, mỗi sản phẩm, doanh nghiệp đều có thể tham gia vào nhiều FTA và thu về lượng lợi ích khác nhau Vì thế, khai thác sâu từng FTA là tốt, nhưng khai thác hiệu quả tất cả FTA càng tốt hơn, đặc biệt vừa khai thác được mọi FTA, vừa mang về nhiều lợi ích toàn cục và lâu dài, mới là tốt nhất Do đó, cần có bộ phận chuyên trách, tổ chức, điều phối, để “thu gom” mọi lợi thế có thể đưa vào xuất khẩu, thực hiện “phi thương bất phú” ở cấp quốc gia Tổng hợp hạn ngạch để phân bổ hợp lý cho các vùng, cho từng doanh nghiệp, phối hợp để có nhiều sản phẩm đáp ứng được quy tắc xuất xứ, nhằm mang về hiệu quả cao và bền vững cho đất nước

Mặt khác, tổ chức tốt việc làm giảm nhẹ tác động tiêu cực từ các FTA, bên việc cởi trói và hỗ trợ của Chính phủ, cần có các giải pháp riêng, tương ứng phù hợp với từng doanh nghiệp Như cần sự hỗ trợ của hiệp hội, sự giúp sức của giới khoa học, xã hội, cộng đồng, với hướng chung là giúp doanh nghiệp

bị tác động tăng thêm độ thích nghi Có năng lực cạnh tranh cao hơn, chuyển sang tham gia vào FTA

có cam kết thấp hơn, hoặc chuyển về phục vụ nhu cầu trong nước… Từ đó ảnh hưởng đến từng doanh nghiệp, từng cộng đồng doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như đến các doanh nghiệp, cộng đồng có liên quan khác Như vậy, với các bộ phận chuyên trách xứng tầm, các vấn đề liên quan tới doanh nghiệp ở cả tầm vĩ mô, lẫn vi mô đều được điều chỉnh, giúp hình thành hệ thống doanh nghiệp hội nhập và hiệu quả Nguyên lý này là cần khi khai thác từng FTA, càng cần hơn khi khai thác EVFTA, nơi có cam kết rộng và cao, có ảnh hưởng lớn và nhiều mặt đến doanh nghiệp Việt Nam

Hình 7 Quy trình điều chỉnh doanh nghiệp và xuất khẩu theo các FTA

Ba là, khai thác tác động từ EVFTA để phát triển các thương hiệu quốc gia, các doanh nghiệp hỗ trợ, tiến tới hình thành các chuỗi cung ứng, đồng thời phát triển tổng hợp các doanh nghiệp theo đặc thù, đưa khu vực doanh nghiệp nội từng bước tiến lên tầm cao mới

Từ tháng 8 năm 2020, nước ta bước thêm một bước vào sự lựa chọn “sinh – tử” (Nguyễn Đức Kiên, dẫn theo Tư Giang, 2014), khắc nghiệt hơn, với trách nhiệm là khai thác thành công EVFTA

“Luật chơi” đã định, tiền đề sẽ có – khi hai giải pháp mang tính vĩ mô, bao trùm trình bày ở trên, được vận dụng; hy vọng thành công sẽ tăng, khi nâng cấp được sức mạnh cho “người chơi chính” và tăng được “lực lượng người chơi” Đó là doanh nghiệp, nhưng phải là doanh nghiệp nội, bởi không nước nào mãi thành công khi dựa vào doanh nghiệp FDI, đó chỉ là bước đệm, tạm thời Do đó, trong cuộc chơi EVFTA, nước ta cần: (i) Lựa chọn các mặt hàng mạnh trong tốp mặt hàng chính đang xuất khẩu (bảng 3), do cùng một doanh nghiệp hoặc một vùng sản xuất, có tiềm lực phát triển lâu dài, để đầu tư

mở rộng, thành thương hiệu quốc gia Lấy đó làm cơ sở phát triển, mở rộng quy mô cho các doanh nghiệp đang sản xuất, phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ, để tham gia lâu dài vào chuỗi cung ứng cho

EU (ii) Dựa vào cam kết mở cửa, để phát triển các doanh nghiệp sản xuất tập trung, mở đường cho

Quy mô

doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại

Tổng lợi thế

về sản xuất một loại sản phẩm xuất khẩu

Cơ quan chuyên trách

Xuất khẩu

phân bổ sản phẩm cho từng FTA theo mức sinh lời

Hiệp hội ngành, hàng

Quy hoạch, sản xuất Tập trung

Lợi thế

về sản xuất một loại

sản phẩm xuất khẩu

Trang 37

việc phát triển các thương hiệu quốc gia tiềm năng khác, nhất là về hàng nông, lâm, thủy sản Chú trọng đặc biệt đến các mặt hàng đặc sản – như cà phê, mật ong tự nhiên, rau hoa quả được EU khuyến khích xuất sang khi không cần hạn ngạch, mà lại xóa bỏ ngay và hoàn toàn thuế

Mặt khác, phát triển tổng hợp các doanh nghiệp theo đặc thù, như tận dụng lao động giá rẻ, thay thế doanh nghiệp EU trong phân khúc hàng hóa dành cho người thu nhập thấp, vận dụng công nghệ 4.0 cho nước đi sau Ứng xử khôn ngoan với doanh nghiệp bị tổn hại, nhất là doanh nghiệp bị tổn hại vì nhượng bộ của Chính phủ, phát triển doanh nghiệp ở các khu vực còn chậm phát triển, đưa khu vực doanh nghiệp nội từng bước tiến lên tầm cao mới

Bảng 6 Cam kết mở cửa cho 5 mặt hàng nông sản Việt qua EVFTA

Đặc sản Cà phê, mật ong tự nhiên, rau hoa quả xóa bỏ ngay và hoàn toàn thuế

Gạo 80.000 tấn các loại – xóa hoàn toàn thuế xuất nhập khẩu sau 3–5 năm

Việt Nam đang là địa điểm đầu tư hấp dẫn nhất tại AEC, khi có xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng

ra khỏi Trung Quốc, và dấu ấn chống dịch Covid–19, cho phép sàng lọc, thu hút FDI khôn ngoan Để thu hút FDI từ EU, nước ta cần: (i) Ưu tiên cho việc thu hút các doanh nghiệp đang cung cấp các mặt hàng chính nhập khẩu từ EU28 (bảng 3), để nội hóa việc sản xuất chúng (ii) Dựa vào vị thế của các mặt hàng nông sản chính, kêu gọi FDI từ EU, dựa vào CMCN 4.0 biến chúng thành thương hiệu toàn cầu, định vị Việt Nam trên thương trường toàn cầu

Bảng 7 Năm mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế cao của Việt Nam năm 2017

Nghìn tấn Vị trí trên thế giới Triệu USD Vị trí trên thế giới

Trang 38

ngoại ứng tích cực, với nhiều mức và loại ưu đãi khác nhau Cho phép doanh nghiệp FDI chuyển đổi, nhượng quyền thương hiệu, nhưng phải tôn trọng cam kết chuyển giao, thời hạn hoạt động, phát triển quan hệ với sản phẩm chiến lược Ngoài ra, nếu có sự tranh chấp giữa các FDI cùng tới từ EU, cần xét tới lộ trình, mức ảnh hưởng toàn cục và lâu dài, và tiềm năng mở rộng, để lợi ích cuối cùng mang về cho Việt Nam là lớn nhất Từ đó, đưa khu vực FDI ở nước ta phát triển nhanh mạnh, tích cực, hiệu quả, đóng góp nhiều vào phát triển của hệ thống doanh nghiệp, cũng như vào tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng của nước ta

4 THAY LỜI KẾT LUẬN

Năm 2019 là năm thế giới có nhiều biến động phức tạp, đa chiều và khó đoán định, thị trường tài chính bất ổn, thương mại toàn cầu ảm đạm, khiến tốc độ tăng trưởng tại các nền kinh tế phát triển chững lại, tại các nền kinh tế đang phát triển sụt giảm Nhưng ở Việt Nam, thì trái ngược với xu thế “về đáy” như nhiều chu kỳ trước, tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 7,02%, vượt mục tiêu đề ra, thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới Thành quả trên do nhiều nguyên nhân, nổi bật là quy mô xuất khẩu tăng trưởng cao

và khu vực doanh nghiệp phát triển mạnh – trở thành những động lực tăng trưởng chính Vì thế, dù tình hình năm 2020 là cực kỳ khó khăn khi dịch Covid–19 bùng phát mạnh, khiến thương mại toàn cầu tiếp tục suy giảm, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái… Song, Việt Nam vẫn khác, thực tiễn cho thấy sẽ đạt mục tiêu kép, là “điểm sáng” lớn về tăng trưởng, bệ đỡ cho hy vọng này là EVFTA có hiệu lực từ tháng 8, và nhờ đó, khu vực doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát triển Tuy nhiên, để tăng trưởng này trở nên bền vững, tạo nên sự tương hỗ giữa tăng trao đổi thương mại với phát triển của khu vực doanh nghiệp, và nhất là để mang về lợi ích nhiều hơn cho Việt Nam – thì không dễ Bởi, nguồn “thực” từ nước ta là các mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường EU có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm Các hạn chế, như sản xuất nhỏ, phân tán chưa được khắc phục nhiều, sản xuất nông nghiệp chưa bắt kịp trào lưu sản xuất xanh sạch, sản xuất hữu cơ, chưa thực hiện nghiêm túc hệ thống tiêu chuẩn cho nông sản Khu vực doanh nghiệp FDI vẫn chiếm ưu thế áp đảo trong xuất khẩu sang EU, trong lúc các doanh nghiệp nội vẫn còn nhiều yếu kém về quy mô, trình độ, kinh doanh… Song, với quyết tâm đổi mới của Đảng, nỗ lực cải cách, chuyển sang kiến tạo của Chính phủ, những bài học rút ra từ thực tiễn, cùng sự chung sức của các hiệp hội, toàn dân Chúng ta có quyền tin rằng: Việt Nam sẽ khai thác tốt ảnh hưởng từ EVFTA, để phát triển phù hợp, khoa học hệ thống doanh nghiệp quốc gia Từ đó tạo ra các tác động tương hỗ, vừa giúp khai thác tốt hơn EVFTA, vừa phát triển nhanh, mạnh và hiệu quả doanh nghiệp, góp phần tạo ra tăng trưởng cao và nâng cao chất lượng tăng trưởng cho nước ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Quốc Anh và Lê Thị Trâm Anh (2018a), Economic development in lower middle–income countries

in this day and age, through practical study in Vietnam, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Các vấn đề đương đại

trong Kinh tế, Quản trị và Kinh doanh (1st CIEMB 2018), NXB Đại học KTQD, 1029–1047

2 Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014), Lĩnh vực lao động trong hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên

Thái Bình Dương (TPP) và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Tạp chí Khoa học Thưong mại, Hà

Nội, số 66 tháng 2/1014, 15–24

3 Lê Quốc Anh (2017), Các FTA thế hệ mới với vấn đề phát triển công nghiệp Việt Nam, Kỷ yếu Hội

thảo Quốc tế: Phát triển kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, NXB Hà Nội, tập 1, 398–410

4 Lê Quốc Anh & Lê Thị Trâm Anh (2018b), Các FTA thế hệ mới với vấn đề phát triển doanh nghiệp

Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về: Thương mại và phân phối – CODI 2018, NXB Nông nghiệp,

1028–1038

5 Nhất Thanh (2020), EVFTA: Cộng hưởng xung lực mới cho nền kinh tế, truy cập ngày 02/9/2020, từ:

https://thoibaonganhang.vn/evfta–cong–huong–xung–luc–moi–cho–nen–kinh–te–97836.html

Trang 39

6 Lê Quốc Anh & Lê Thị Trâm Anh (2018c), Phát triển và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp vừa

trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Kinh doanh bền vững

trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 394–409

7 Nguyễn Minh Tri (2015), Rùng mình những nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử loài người, truy cập

ngày 02 tháng 9 năm 2020, từ https://www.ohay.tv/view/rung–minh–nhung–nan–doi–khung–khiep–nhat–lich–su–loai–nguoi/576629d9f1

8 Ngô Hiểu Ba (2010), Đột phá kinh tế ở Trung Quốc (1978–2008), bản dịch của Nguyễn Thị Thu

11 Lê Quốc Anh & Lê Thị Trâm Anh (2019), Breakthrough in the Development of Vietnamese Business

in Order to Grow Rapidly and Sustainably, European Journal of Business and Management, Tập 11,

Số 9 (2019), 158–175

12 Lê Đăng Doanh (2016), Kinh tế Việt Nam sau ba mươi năm đổi mới: Cần một cuộc đổi mới lần thứ

2, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Việt Nam 30 năm Đổi mới: Thành tựu, bài học và triển vọng, NXB

Hồng Đức, 26–40

13 Lê Doãn Hoàn (2014), Hội nhập càng sâu: DNNN càng ‘run’? Truy cập ngày 02 tháng 9 năm 2020,

từ https://vietnamnet.vn/vn/kinh–doanh/hoi–nhap–cang–sau–doanh nghiệpnn–cang–run–169836.html

14 Nguyễn Hoài (2016), Ông Võ Trí Thành: Doanh nghiệp đang rơi vào xu hướng li ti hóa, truy cập

ngày 02 tháng 9 năm 2020, từ http://infonet.vn/ong–vo–tri–thanh–doanh–nghiep–dang–roi–vao–xu–huong–li–ti–hoa–post192346.info

15 Đặng Phong (2012), Tư duy kinh tế Việt Nam 1975–1989, NXB Tri thức, Hà Nội

16 Todd G Buchholz (2008), Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối, bản dịch của Phạm Hồng Bắc và

Bùi Ngọc Sơn, NXB Tri thức, Hà Nội

17 Bích Ngọc (2014), Nhiều nước châu Phi có chính sách công nghiệp tốt hơn VN, truy cập ngày 02

tháng 9 năm 2020, từ: https://baodatviet.vn/kinh–te/doanh–nghiep/nhieu–nuoc–chau–phi–co–chinh–sach–cong–nghiep–tot–hon–vn–3218723/

18 Lưu Ngọc Trịnh (2012), MHTT kinh tế Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam –

10/2012, 38–45

19 Thụy Khanh (2018), PGS TS Nguyễn Đức Thành: Việt Nam nên phá gía tiền đồng từ 2–3%, truy cập

ngày 02 tháng 9 năm 2020, từ https://vietnamfinance.vn/pgsts–nguyen–duc–thanh–viet–nam–nen–pha–gia–tien–dong–tu–2–3–20180504224209689.htm

20 Lê Quốc Anh, Nguyễn Ngọc Lan và Lê Thị Trâm Anh (2019), Chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: Phát triển

doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, NXB Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh, Hà Nội, 42–431

21 Lê Quốc Anh, Phạm Thùy Nguyên & Lê Thị Trâm Anh (2018), Phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam:

Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Quản lý Kinh tế của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương,

số 89 tháng 7+8/2018, 36–44

22 Tư Giang (2015), Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết, truy cập ngày 02 tháng 9 năm

2020, từ http://fica.vn/dong–chay–von/–chung–ta–chi–con–hai–lua–chon–mo–cua–hay–la–chet––33128.html

Trang 40

THE COMPETITIVENESS OF VIET NAM TELECOMMUNICATIONS SERVICE

CORPORATION IN THE INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0

Ph.D Student Le Van Hung 1

Abstract: Today, along with the general development in the fields of science and technology, the

telecommunications industry has been one of the most important economic branches of the country Therefore, telecommunication enterprises are subject to fierce competition from products, marketing, price, after-sales regime In this article, the author analyzes the current situation and offers some solutions to improve the competitiveness of the Telecommunications Services

Corporation before the impact of the industrial revolution 4.0

Keyword: competitiveness, corporation, telecommunications, revolution

1 INTRODUCTION

Competition is derived from Latin: competere, meaning to compete with each other (Neufeldt, 1996) Competition also means efforts to act more successfully, to achieve better results than people who are acting like themselves Therefore, competition is an event in which individuals or organizations compete to achieve results that not everyone wins (Wehmeier, 2000)

Competition, understood at the enterprise level, is the struggle or scramble from some competitors about customers, market shares or resources of businesses However, the nature of competition today is not destroy An opponent that is an enterprise must create and bring customers higher or newer added value than their competitors so that they can choose themselves without going to competitors (Michael Porter, 1996)

There are many economic and managerial theories of competition, of which the two most mentioned concepts are competitiveness and competitiveness and competitive advantage in explaining differences

in performance competition among economic entities (countries, industries, companies, households) The competitiveness of the enterprise is to demonstrate the strength and advantages of the enterprise compared to competitors in the best satisfaction of customer requirements for higher and higher profits Thus, the competitiveness of the enterprise must first be created from the power of the business These are the internal factors of each business, not only calculated by the criteria of technology, finance, human resources, corporate governance organization separately but need to be evaluated and compared with the Competitive partners operating in the same field, the same market

2 DATA AND RESEARCH METHODOLOGY

In this study, the author uses qualitative research methods to assess the current situation and makes some recommendations to improve the competitiveness of the Telecommunications Services Corporation before the impact of the public revolution Industry 4.0 The figures are provided by the Corporation The author also compared the field of post and telecommunication with other services to assess the opportunities and challenges of the telecommunications industry before the impact of the industrial revolution 4.0

1 Ph.D student, Faculty of Political Economy Political Academy

Ngày đăng: 22/09/2022, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chebet, W.T., Rotich, J.K., Kurgat, A., (2015), Negotiation skills: keys to business excellence in the 21 st century? European Journal of Research and Reflection in Management Sciences, Vol. 3 No. 3, 23–31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Research and Reflection in Management Sciences
Tác giả: Chebet, W.T., Rotich, J.K., Kurgat, A
Năm: 2015
7. Mankiw, N. G. (2005), Economics Textbook. Available at: file:///E:/2018Bi/Kinhtehocj/MankiwChapter07SolutionsProblems%20 (1).pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics
Tác giả: Mankiw, N. G
Năm: 2005
8. MUTRAP (2011), Báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN– Hàn Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam. Vietnamese language. Available at:http://www.trungtamwto.vn/sites/default/files/hiepdinhkhac/danh_gia_tac_dong_akfta.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN– Hàn Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam
Tác giả: MUTRAP
Năm: 2011
10. Salvatore, D. (2013), International Economics, 11 th Edition. Available at: http://dl.iranidata.com/book/daneshgahi/Dominick%20Salvatore– Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Economics
Tác giả: Salvatore, D
Năm: 2013
11. Ricardo, D. (1817), On The Principles of Political Economy and Taxation. Available at: https://www.marxists.org/reference/subject/economics/ricardo/tax/index.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: On The Principles of Political Economy and Taxation
13. WTO (1995), The principles of trading system. Available at: https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/fact2_e.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: The principles of trading system
Tác giả: WTO
Năm: 1995
1. Alfredson, T. & Cungư, A. (2008), ‘Negotiation Theory and Practice: A Review of the Literature’. Available at:http://www.fao.org/docs/up/easypol/550/4–5_Negotiation_background_paper_179EN.pdf Link
3. Coburn, C. (2011), ‘Negotiation Conflict Styles’. Available at: https://hms.harvard.edu/sites/default/files/assets/Sites/Ombuds/files/NegotiationConflictStyles.pdf Link
4. Fisher, R. & Ury, W. (2011), ‘Getting to yes without giving in’. Available at: http://www.fd.unl.pt/docentes_docs/ma/AGON_MA_25849.pdf Link
5. Gregory, M. (2011), ‘Multi–dimensional tool: Effective Negotiation Strategies & Techniques’. Available at: https://gregorymediations.com/documents/Papers–Articles/2014Additions/ Multi DimensionalToolsMediation.pdf Link
6. Jeffries, S. (2015), What is TTIP and why should we be angry about it? Available at: https://www.theguardian.com/business/2015/aug/03/ttip–what–why–angry–transatlantic–trade–investment–partnership–guide Link
9. Plummer, G.M, Cheong D. & Hamanaka, S. (2010), ‘Methodology for impact assessment of free trade agreements’. Available at: https://aric.adb.org/pdf/FTA_Impact_Assessment.pdf Link
12. Stăhl, I. (1972), ‘Bargaining theory’. Avaulable at: https://ex.hhs.se/dissertations/423044–FULLTEXT01.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tiến trình hình thành các thế hệ FTA - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 1. Tiến trình hình thành các thế hệ FTA (Trang 27)
Bảng 1. Dự báo các phần tăng thêm chính của Việt Nam khi có EVFTA - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 1. Dự báo các phần tăng thêm chính của Việt Nam khi có EVFTA (Trang 28)
Hình 2. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam và Trung Quốc năm 2019 - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 2. Năng lực cạnh tranh của Việt Nam và Trung Quốc năm 2019 (Trang 30)
Hình 3. Phần của xuất, nhập khẩu với EU28 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 3. Phần của xuất, nhập khẩu với EU28 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (Trang 31)
Hình 4. Quá trình mở cửa của Việt Nam tới ngày gia nhập WTO - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 4. Quá trình mở cửa của Việt Nam tới ngày gia nhập WTO (Trang 31)
Bảng 2. Bảy mặt hàng xuất, nhập khẩu chính của Việt Nam trước EU - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 2. Bảy mặt hàng xuất, nhập khẩu chính của Việt Nam trước EU (Trang 32)
Bảng 3. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU28, 2015–2019 - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 3. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU28, 2015–2019 (Trang 33)
Bảng 4. Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019 của đơn vị - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 4. Quy mô bình quân về diện tích và GDP năm 2019 của đơn vị (Trang 34)
Hình 6. Chênh lệch về năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam với Đức và Pháp, năm 2019 - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 6. Chênh lệch về năng lực cạnh tranh giữa Việt Nam với Đức và Pháp, năm 2019 (Trang 35)
Hình 7. Quy trình điều chỉnh doanh nghiệp và xuất khẩu theo các FTA - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Hình 7. Quy trình điều chỉnh doanh nghiệp và xuất khẩu theo các FTA (Trang 36)
Bảng 7. Năm mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế cao của Việt Nam năm 2017 - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 7. Năm mặt hàng nông sản xuất khẩu có vị thế cao của Việt Nam năm 2017 (Trang 37)
Bảng 6. Cam kết mở cửa cho 5 mặt hàng nông sản Việt qua EVFTA - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 6. Cam kết mở cửa cho 5 mặt hàng nông sản Việt qua EVFTA (Trang 37)
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục, khối nước và - The role of r logistics in improving customer satisfaction in vietnam’s retail industry in the context of international integration (VAI TRÒ của R–LOGISTICS TRONG cải THIỆN sự hài LÒNG KHÁCH HÀNG NGÀNH bán lẻ tại VIỆ
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục, khối nước và (Trang 148)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w