1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Technological innovation and innovation challenges and solutions on labor issues for businesses in ho chi minh city in the context of the covid 19

116 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cung Và Cầu Lao Động Chất Lượng Cao Cho Thị Trường Các Nước Đông Á: Thách Thức Và Giải Pháp Đối Với Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phạm Anh Thắng, Từ Minh Thiện, Nguyễn Phan Thu Hằng, Lê Lan Huơng, Lê Đăng Minh, Lưu Ngọc Trịnh, Trần Anh Dũng, Nguyễn Hoàng Tiến, Lưu Ngọc Trịnh, Trần Thị Huy
Người hướng dẫn TS. Từ Minh Thiện
Trường học Trường Đại học Văn Hiến
Thể loại bài tham luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm thu thập ý kiến của chuyên gia và doanh nghiệp; đồng thời trao đổi, làm rõ các chính sách, giải pháp và tham mưu cho các cơ quan Quản lý nhà nước, các tổ chức nghiên cứu khoa học, c

Trang 1

L ỜI NÓI ĐẦU

Với nhiều nét tương đồng về các giá trị văn hóa, đồng thời cũng là thị trường với nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực Châu Á Đông Á luôn được đánh giá là một thị trường lao động tiềm năng với nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn, và có sức hút lớn đối với không chỉ riêng Việt Nam mà với nhiều quốc giá Châu Á khác Sự bùng nổ của nền kinh

tế chuyển đổi số cùng những khó khăn kéo dài do khủng hoàng kinh tế sau đại dịch Covid-

19, khiến sự cạnh tranh về cung cầu thị trường lao động tại các quốc gia Đông Á ngày càng gia tăng Đây vừa là cơ hội cũng là thách thức đặt ra đối với lực lượng lao động tại Việt Nam và cụ thể là tại Thành phố Hồ Chí Minh, cần thiết phải có những định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu và tiêu chuẩn khắt khe của thị trường Đông Á

Bên cạnh đó, việc phát triển nhân lực lao động nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tp.HCM nói riêng về lâu dài mang lại nhiều lợi ích trong phát triển kinh tế

và an sinh xã hội của đất nước

Nhằm thu thập ý kiến của chuyên gia và doanh nghiệp; đồng thời trao đổi, làm rõ các chính sách, giải pháp và tham mưu cho các cơ quan Quản lý nhà nước, các tổ chức nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp của Việt Nam nâng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam nói chung và của Tp.HCM nói riêng sang thị trường các quốc gia Đông Á, Trường Đại học Văn Hiến phối hợp với Sở Lao động thương binh và xã hội TP.HCM tổ chức Hội thảo khoa học Quốc tế với chủ đề: “Cung và cầu lao động chất lượng cao cho thị trường các nước Đông Á: thách thức và giải pháp đối với thành phố Hồ Chí Minh”

Với sự quan tâm nhiệt huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, Ban Tổ chức đã nhận được 70 bài viết của quý nhà khoa học, quý giảng viên, các chuyên gia đến từ các trường Đại học, các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp Sau khi phản biện và biên tập, Ban Tổ chức đã tuyển chọn được 43 bài viết – sắp xếp theo nhóm nội dung được in trong Kỷ yếu này Các bài viết thể hiện sự phong phú các nội dung mà Ban Tổ chức đề ra như

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại TP.HCM

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường lao động các quốc gia Đông Á

- Cung - cầu nguồn nhân lực chất lượng cao đối với nền kinh tế chuyển đổi số

- Phát triển đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại TP HCM

Ban Tổ chức xin cám ơn các nhà khoa học đã nhiệt tình tham gia đóng góp, viết bài để hội thảo được diễn ra một cách tốt đẹp và hy vọng những giá trị của các bài viết sẽ được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn cả trong việc hoạch định chính sách lẫn trong hoạt động đào tạo và huấn luyện nhằm nâng cao chất lượng lao động Việt Nam

TS Từ Minh Thiện

Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Hiến (VHU)

Trang 3

Nguyễn Phan Thu Hằng, Lê Lan Huơng

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG NHẬT BẢN VÀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

Lê Đăng Minh, Lưu Ngọc Trịnh

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO - THÁCH THỨC VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TP HCM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

Trần Anh Dũng, Nguyễn Hoàng Tiến

M ỤC LỤC

PHẦN 1: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TPHCM CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Lưu Ngọc Trịnh, Trần Thị Huyền Thanh

THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Văn Trình, Mai Nhâ ̣t Tân

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NỀN CÔNG NGHIỆP 4.0

Nguyễn Hà Thanh Bình

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU DÂN SỐ THEO TUỔI CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Mai Hương, Huỳnh Ánh Nga

THU HÚT VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Nguyễn Hoàng Nam

CHÍNH SÁCH KINH TẾ, CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM TẠI TP.HCM ĐẾN NĂM 2025

Cao Ngọc Thành, Nguyễn Anh Đào, Đào Thông Minh

Trang 4

TIẾP CẬN CHIẾN LƯỢC NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HẬU THẢM HỌA TOÀN CẦU COVID-19

Đinh Kiệm, Phước Minh Hiệp

CẢI CÁCH QUY HOẠCH NGUỒN NHÂN LỰC Ở HÀN QUỐC: HÀM Ý ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Phan Thu Hằng, Lê Lan Hương

CUNG CẦU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO CHO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

Trần Hữu Ái, Lê Thị Mai Hương

CẢI THIỆN NGUỒN NHÂN LỰC CHO THỊ TRƯỜNG ĐÔNG Á

Nguyen Thi Huyen Ngoc

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ho àng An Quốc

NHẬN DIỆN ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH CHẤT LƯỢNG CAO

Ở VIỆT NAM KHI THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

Phạm Xuân Hâ ̣u

XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHÂN LỰC CAO CHO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

Võ Thị Hoài

TÌNH TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ ĐƯA NGUỒN LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO ĐI LÀM VIỆC TẠI NHẬT BẢN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Huỳnh Hồ Đại Nghĩa, Nguyễn Lâm Trâm Anh

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU DU LỊCH QUỐC TẾ TỪ CÁC QUỐC GIA ĐÔNG Á SAU DỊCH COVID-19

Đinh Việt Phương

CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP (FDI) TỪ CÁC NƯỚC ĐÔNG Á

Trần Thị Hòa

DỊCH CHUYỂN LAO ĐỘNG TỪ VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN, ĐÀI LOAN, HÀN QUỐC (GIAI ĐOẠN 2017 - 2021)

Phạm Phương Mai, Mai Thị Hồng Đào, Trần Thanh Quân, Cao Thị Thanh Trúc

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO - THÁCH THỨC VÀ CÁC GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TP HCM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

Trần Anh Dũng, Nguyễn Hoàng Tiến

Trang 5

KINH TẾ SỐ, VỐN ĐẦU TƯ “RỒNG” VÀ LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO CHO THỊ TRƯỜNG ĐÔNG Á CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ VIỆT NAM

Nguyễn Hữu Lộc

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG XU THẾ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Ho Thi Ha, Nguyen Thi Bach Tuyet, Nguyen Thuy Duy

CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC NGÀNH KINH TẾ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Dương Thị Mai Phương, Trẩm Bích Lộc

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG XU THẾ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Dương Thị Loan, Phạm Xuân Hâ ̣u, Phùng Anh Kiên

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 - GIẢI PHÁP TỐI ƯU HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM HỘI NHẬP GIÁO DỤC TOÀN CẦU

Phạm Hữu Lộc, Đinh Văn Đệ, Lương Xuân Thịnh

CUNG ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO: GÓC NHÌN TỪ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Từ Minh Thiện

PHÁT TRIỂN VỐN CON NGƯỜI Ở ĐÔNG Á: HÀM Ý THỰC NGHIỆM ĐỐI VỚI NHU CẦU GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỦA VIỆT NAM

Joseph Thean Chye Lee, Go You How

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phước Minh Hiệp, Vũ Hồng Điệp

NHU CẦU NHÂN LỰC NÓI TIẾNG NHẬT TẠI VIỆT NAM / NHẬT BẢN VÀ GIÁO DỤC NGÔN NGỮ

Matsuda Yukiyoshi

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG NHẬT BẢN VÀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

Lê Đăng Minh, Lưu Ngọc Trịnh

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

Bùi Văn Hồng, Đặng Minh Sự

XÂY DỰNG MÔ HÌNH “HỌC NGHỀ THEO CÁCH CỦA BẠN” DỰA TRÊN PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CỐT LÕI CỦA NGHỀ NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI THỜI ĐẠI CÔNG NGHIỆP 4.0

Lê Thị Mai Hương

Trang 6

PHÁT TRIỂN CUNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐÔNG Á: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Vũ Thị Hà, Nguyễn Mạnh Thắng

NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC KẾ TOÁN ĐỐI VỚI VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN

Pham Ngoc Toan, Le Quang Man

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN VÀ ĐƯỢC ĐÀO TẠO

ĐỂ ĐẢM BẢO SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH THÍCH ỨNG VỚI CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ

Nguyen Thi Bach Tuyet, Ho Thi Ha

NHỮNG THÁCH THỨC TRONG VIỆC GIỮ CHÂN NHỮNG NGƯỜI LAO ĐỘNG

CÓ TAY NGHỀ CAO TRONG NGÀNH DU LỊCH TẠI TP.HCM SAU COVID-19

Trang 7

CUNG ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO:

GÓC NHÌN TỪ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Supplying high-quality human resources:

A perspective from the University

Từ Minh Thiện 1 Tóm tắt

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu đã tạo ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Là một quốc gia có trình độ công nghệ thấp và lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới, cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra một vận hội mới để những nước đi sau có khả năng tiếp thu nhanh nhất những thành tựu công nghệ của nhân loại Bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển đều phải dựa trên nền tảng chất lượng nguồn nhân lực nói chung Trong những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một ngành

có thế mạnh và là lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Tuy nhiên, sự bùng phát của dịch bệnh Covid-2019 trên toàn thế giới đã có nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung, nền nông nghiệp nói riêng Để tiếp tục duy trì và phát triển lợi thế trong lĩnh vực nông nghiệp trong dài hạn kết hợp với xu hướng của cuộc CMCN 4.0 và tình hình “Bình thường mới”, chúng ta cần phân tích, nhận định các xu hướng phát triển, các ứng dụng đang diễn ra trong cuộc sống đô thị và sản xuất nông nghiệp, để từ đó đề xuất các lưu ý trong hoạt động đào tạo của các trường đại học nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra đối với thực tiễn của cuộc sống

Từ khóa: nhân lực chất lượng cao, sản xuất nông nghiệp, cách mạng công nghiệp 4.0

Abstract

The 4th industrial revolution (Industry 4.0) is taking place strongly globally, creating many opportunities for developing countries, including Vietnam As a country with low technology level and backward compared to advanced countries in the world, Industry 4.0 is creating a new opportunity for latecomers to be able to quickly receive technological achievements of humanity For any country that wants to develop, it must

be based on the quality of human resources in general As a strength and an important sector of Vietnam, in recent years, the agricultural sector has made strong development steps However, the SARS-Cov2 pandemic has created negative impacts on the global economy, including Vietnam In order to continue to maintain and develop our advantages in the agricultural sector in the long term, in combination with the trend of the 4th industrial revolution and the "New normal situation”, we need to analyze and identify development trends, ongoing applications in urban life and agricultural production, from which to propose notes in training activities of universities in order to meet the requirements set for the reality of life

Based on the analysis of trends, situations and needs of human resources, the author proposes a number of issues to pay attention to, including (1) Must understand the trend

of science and technology development and applications applying the technology of the 4.0 industrial revolution in life, in the fields of society and in agricultural production; (2) Periodically survey the professional needs of the society; (3) Applying digital transformation in teaching and learning at the university level; (4) Encourage more forms of commercialization of research results; (5) Expanding

1 Trường Đại học Văn Hiến

Trang 8

relationships with businesses; (6) Strengthening exchange activities, knowledge exchange; (7) Take advantage of the support from foreign governments; (8) Organizing practical reporting sessions; (9) Inspire a passion for scientific research; (10) Having a team of qualified lecturers for teaching and scientific research

Keywords: High quality human resource

1 Bối cảnh tình hình chung

Theo Tổ chức Lao động quốc tế, khái niệm “nguồn nhân lực của một quốc gia” là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Mỗi quốc gia tùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm văn hóa, đặc điểm dân tộc mà quy định độ tuổi lao

động khác nhau Ngân hàng Thế giới cho rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người,

bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân” (Nguyễn Sinh Cúc, 2014)

Như vậy, có thể thấy cách thứ nhất là cách nhìn nhận về số lượng, theo đó, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sự phát triển xã hội, là tổng số những người trong

độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước và thời gian lao động mà người lao động có thể tham gia Cách thứ hai, nhìn nhận về chất lượng, nguồn nhân lực thì khái niệm nguồn nhân lực được xem là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn, trình

độ lành nghề của người lao động

Theo cách hiểu định lượng thì nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Theo đó, những người không qua trường lớp đào tạo nào, nhưng có năng lực tốt, đáp ứng được các yêu cầu phức tạp của công việc vẫn không được tính là lao động chất lượng cao (ví dụ như nghệ nhân) Ngược lại, một bộ phận người lao động đã qua đào tạo, nhưng không đáp ứng được yêu cầu của công việc tương ứng với trình độ đào tạo vẫn được xem là nhân lực có chất lượng cao Đây là thực tiễn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay

Theo cách hiểu định tính, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, tạo ra năng suất và hiệu quả cao, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển xã hội Tuy nhiên, việc tiếp cận theo quan điểm này lại đưa đến khó khăn trong hoạt động thống kê, quản lý và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với mỗi tổ chức được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

- Giúp tổ chức rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tốc độ tiếp cận một cách có hiệu quả những công nghệ, những tiến bộ khoa học – kỹ thuật, những tri thức mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức

- Nâng cao năng suất lao động của tổ chức dựa trên những kỹ năng, tri thức và kinh nghiệm của nhân lực chất lượng cao, thực hiện những công việc được giao một cách năng động, sáng tạo, đổi mới, phát hiện ra ra cách làm mới, tạo ra sản phẩm mới chất lượng hơn

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua công việc, hỗ trợ kèm việc, hướng dẫn cho nhân lực của tổ chức là góp phần làm nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực của cả tổ chức

Theo các chuyên gia về giáo dục, có ba yếu tố tạo nên thước đo về năng lực của một con người, đó là: kiến thức, kỹ năng và thái độ Trong thời gian qua, dưới góc nhìn của

Trang 9

quốc tế, Việt Nam đã và đang tự hào vì nhiều người tài năng được thế giới và các nước sở tại tôn vinh Tuy nhiên, nếu xét về mặt bằng chung, chúng ta vẫn đang trong tình trạng lãng phí nhân lực Đa số các trường cao đẳng, đại học trong nước được đánh giá tốt về đào tạo, nhưng khi ra nước ngoài, hầu hết phải đào tạo lại do không bắt kịp trình độ tiên tiến cũng như không phù hợp với phong cách làm việc chuyên nghiệp, tác phong công nghiệp Hiện nay, sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm, Hay nói cách khác, chất lượng giáo dục đại học còn chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Việt Nam xếp thứ 93/141 quốc gia về kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học và xếp thứ 76/141 về năng lực đổi mới sáng tạo; kết quả đầu ra của nghiên cứu còn đứng sau so với Thái Lan và Malaysia (Nguyễn Viết Nam, 2019)

Trong thời gian gần đây, xu hướng số hoá mọi ngành, mọi lĩnh vực là yếu tố quan trọng nhất để tăng năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu chuyển đổi số với ba chủ thể là chính phủ số, kinh tế số và người dân số và sáu trụ cột là hạ tầng kết nối, dữ liệu, công nghiệp điện tử - viễn thông, công nghệ thông tin (CNTT), thương mại điện tử, nguồn nhân lực và an toàn an ninh thông tin Không nằm ngoài xu hướng chung này, Việt Nam đang từng bước chuyển đổi

số trên mọi lĩnh vực, mọi mặt của đời sống xã hội Sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ đối với hoạt động đổi mới sáng tạo, số lượng dịch vụ công trực tuyến ngày càng tăng, sự xuất hiện của nhiều mô hình kinh doanh mới dựa trên CNTT trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông, du lịch, thương mại, đô thị thông minh, đã và đang là nền tảng, là bước đi quan trọng để từng bước chuyển đổi sang một quốc gia số Trên hành trình trở thành một quốc gia số, ngành CNTT ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội, có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) mặc dù có sự khác biệt về ý nghĩa, nhưng không quá nhiều) dựa trên bốn lĩnh vực gồm: (i) CNTT là nền tảng chính gồm các trụ cột là dữ liệu lớn (Big Data), kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT), trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI); (ii) Vật lý gồm các nội dung: công nghệ xe tự lái, robot cao cấp, in 3D, vật liệu tiên tiến; (iii) Sinh học và (iv) năng lượng tái tạo Chính những thành tựu của những công nghệ mới nhất đã tạo ra tiềm năng nâng cao mức thu nhập toàn cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Cho đến nay, những người được hưởng lợi nhiều nhất là người tiêu dùng có

đủ khả năng sử dụng và truy cập vào thế giới kỹ thuật số Công nghệ đã giúp tạo các sản phẩm và dịch vụ mới có thể gia tăng hiệu quả và thỏa mãn cuộc sống cá nhân của chúng

ta Trong tương lai, sáng tạo công nghệ cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn từ phía nguồn cung, với những lợi ích lâu dài về hiệu quả và năng suất Chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, hậu cần và các chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, và các chi phí thương mại sẽ giảm, tất cả những điều đó sẽ giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong phạm vi về cung - cầu lao động, có thể thấy cuộc CMCN 4.0 tác động mạnh mẽ đến ba vấn đề sau:

Đối với kinh doanh/ doanh nghiệp: CMCN 4.0 có bốn tác động chính đối với

doanh nghiệp, bao gồm: (i) đáp ứng kỳ vọng của khách hàng; (ii) nâng cao chất lượng

Trang 10

sản phẩm; (iii) đổi mới hợp tác; và (iv) các hình thức tổ chức Tốc độ của các đổi mới đã liên tục gây bất ngờ ngay cả đối với các doanh nghiệp có liên kết tốt nhất và có được thông tin tốt nhất Về phía cung, trong nhiều ngành công nghiệp, đang xuất hiện các công nghệ tạo ra những phương thức hoàn toàn mới đáp ứng các nhu cầu hiện tại và phá vỡ đáng kể các chuỗi giá trị công nghiệp truyền thống Những thay đổi lớn về phía cầu cũng đang xảy ra, như sự minh bạch ngày càng tăng, sự tham gia của người tiêu dùng, và các hình mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng buộc các công ty thích nghi với cách họ thiết kế, tiếp thị và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Từ đó tạo ra sự phát triển của các nền tảng công nghệ mới, cho phép kết hợp cả cung và cầu để phá vỡ cấu trúc ngành công nghiệp hiện có

Đối với thị trường lao động: CMCN 4.0 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn,

đặc biệt là trong thị trường lao động Viễn cảnh của tự động hóa thay thế cho người lao động trong toàn bộ nền kinh tế có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch giữa lợi nhuận

so với vốn đầu tư và lợi nhuận so với sức lao động Mặt khác, quá trình con người được thay thế bằng công nghệ này cũng có thể sẽ dẫn đến sự gia tăng các việc làm được đảm bảo và có thu nhập cao hơn Ở một khía cạnh khác, dù các cuộc cách mạng công nghệ thường thổi bùng những lo ngại về thất nghiệp khi máy móc làm tất cả mọi việc, nhưng các nhà nghiên cứu tin rằng tổng số việc làm sẽ không giảm Lý do là vì tự động hoá vừa

có thể thay thế con người, nâng cao năng suất đối với những công việc hiện tại đồng thời cũng tạo ra nhu cầu về những công việc hoàn toàn mới

Đối với giáo dục: CMCN 4.0 đặt ra những yêu cầu mới về kỹ năng của người lao

động Những kỹ năng của người lao động có thể được phân thành ba nhóm: (i) Các kỹ năng liên quan đến nhận thức; (ii) Các kỹ năng về thể chất; và (iii) Các kỹ năng về xã hội Các kỹ năng liên quan đến nhận thức bao gồm: tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự phê bình, khả năng sáng tạo tri thức, hay chiến lược học tập Các kỹ năng về thể chất bao gồm: kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng về cuộc sống và

kỹ năng số Các kỹ năng về xã hội bao gồm: kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ, ứng xử

Bên cạnh đó, dịch bệnh Covid-2019 xuất hiện từ năm 2019 đến nay (2021) đã gây ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của các doanh nghiệp cũng như việc đào tạo và chuyển dịch của lực lượng lao động cả trong lẫn ngoài nước Dịch Covid-2019 đã tạo nên một sự thay đổi bất ngờ và toàn diện đến nền kinh tế, thương mại không chỉ của Việt Nam mà là

cả thế giới Sự thay đổi ngoài mong đợi này có tính tiêu cực và gây suy thoái trên diện rộng Trong giai đoạn này đã xuất hiện một thuật ngữ mới, đó là tình hình “bình thường mới”, tức là tình hình “bình thường” trong giai đoạn mà thế giới vẫn phải đang chịu áp lực dịch bệnh, vẫn phải luôn đề phòng sự lây nhiễm trở lại trong cộng đồng Trong tình hình này, nổi lên bảy xu thế mới như sau:

Thay đổi cách nhìn về toàn cầu hoá, một số nước trước đây đẩy mạnh xu hướng hội nhập toàn cầu, nay lại có xu hướng trở về theo từng nhóm quốc gia, theo khu vực nhiều hơn Điều này cho thấy các nước tập trung cho bảo hộ thương mại trong nước, tập trung vào xây dựng năng lực của doanh nghiệp trong nước và vào thị trường nội địa nhiều hơn

là mở rộng thương mại quốc tế của hai thập niên trước đây

(1) Quan điểm về đầu tư và tiêu dùng theo lối sống xanh bắt đầu ngày càng được quan tâm Điều này cho thấy xã hội ngày càng chú trọng đến sản xuất thân thiện

Trang 11

môi trường, sản phẩm đạt các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao

ý thức tiêu dùng có trách nhiệm với xã hội và môi trường và vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội (CSR)

(2) Bất bình đẳng, rủi ro phi truyền thống tăng Đại dịch đã làm gia tăng biên độ khoảng cách thu nhập giàu – nghèo giữa các thành phần xã hội, ảnh hưởng tình hình trật tự xã hội của các nước, góp phần gia tăng các rủi ro phi truyền thống đến từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn nước,

sử dụng các vũ khí sinh thái, khủng bố, dịch bệnh, di cư tự do, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, … Các thách thức an ninh phi truyền thống vẫn có thể khiến một quốc gia, thể chế xã hội sụp đổ mà không cần bất kỳ một hoạt động quân sự nào Mặt khác, các thách thức an ninh phi truyền thống cũng

có thể là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề an ninh truyền thống

(3) Cạnh tranh về chiến lược quốc gia, đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng các chiến lược và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Trong đó, các doanh nghiệp cần lưu ý về chiến lược giá và chiến lược cạnh tranh về chất lượng sản phẩm hiện đang trở thành mối quan tâm ngày càng mạnh mẽ hơn (4) Chuỗi cung ứng thay đổi Do sự gãy đổ của một số chuỗi cung ứng trong quan hệ kinh tế - chính trị của các cường quốc trên thế giới xuất phát từ các mâu thuẫn vốn đã tồn tại âm ỉ từ trước đại dịch, nên có sự dịch chuyển chuỗi cung ứng sang một số quốc gia Đông Nam Á và Đông Âu và quay về lại Hoa Kỳ, EU, … (5) Chính sách tài chính tiền tệ thay đổi Điều này cho thấy sự biến động khó lường

về giá trị tiền tệ, gây ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập khẩu và cán cân thanh toán của mỗi quốc gia

(6) Số hoá nền kinh tế, đặc biệt trong tài chính, ngân hàng tăng nhanh Xu thế này cho thấy cần quan tâm đến việc tăng cường ứng dụng công nghệ số trong các lĩnh vực đời sống xã hội lẫn kinh tế, giáo dục và y tế

Các xu thế này đã tác động mạnh đến cung và cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trên thế giới cũng như trong nước ta Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Tp Hồ Chí Minh (HIDS) công bố vào ngày 30/10/2020 đánh giá về tác động của dịch Covid-19 đến tình hình kinh tế của Tp Hồ Chí Minh trong năm 2020 cho thấy 83,7% doanh nghiệp cho rằng đang phải chịu tác động tiêu cực của Covid, trong đó:

 Xét theo quy mô: Nhóm doanh nghiệp lớn 86%, doanh nghiệp vừa 85,4%, doanh nghiệp nhỏ là 84,7%

 Xét theo loại hình: Loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chịu tác động tiêu cực nhất (85,2%), doanh nghiệp nhà nước đứng thứ hai với tỷ lệ 83,7%, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 78,8%

 Xét theo khu vực kinh tế: dịch vụ bị nhiều tác động nhất (84,5%), công nghiệp – xây dựng (82,9%), nông lâm nghiệp là 70,5%

Còn đánh giá theo ngành chịu ảnh hưởng tiêu cực và tác động tích cực, cho thấy:

 3,3% DN nhận ảnh hưởng tích cực, bao gồm: ngành bảo hiểm (7,1%), ngành bưu chính và chuyển phát (5,7%), các hoạt động y tế (5,2%)

 Các ngành chịu ảnh hưởng tiêu cực cao, bao gồm: ngành hàng không (100%),

du lịch (93,6%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (92,4%), nghệ thuật vui chơi và giải

Trang 12

trí (91,5%), các ngành dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ da (90%)

Còn các tác động đến nguồn lực trong xã hội, cho thấy: Việc cắt giảm lao động (94,1%), tạm nghỉ việc không lương (2,4%), lao động nghỉ việc luân phiên (5%), lao động

bị giảm lương (7,8%)

Các số liệu trên đã cho thấy những tác động mạnh mẽ và tiêu cực của dịch Covid-

19 lên nhiều lĩnh vực và đời sống của xã hội, có ngành tăng trưởng nhưng có nhiều ngành sụt giảm nghiêm trọng, làm thay đổi cấu trúc lực lượng lao động, thay đổi quan điểm và phương pháp đào tạo nguồn nhân lực Điều này đòi hỏi chúng ta phải nắm được các xu hướng phát triển, các thay đổi trong các lĩnh vực, ngành nghề, sự chuyển dịch cơ cầu lao động và các yêu cầu đặt ra trong thực tiễn để có những phản ứng, những thay đổi thích hợp và đưa ra những phương pháp tiếp cận, đưa ra những chương trình đào tạo thích ứng với sự thay đổi, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động lẫn người lao động

2 Tác động của cuộc CMCN 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp

Việt Nam là một nước nông nghiệp, nên có thể xem xét một cách cụ thể về tác động của CMCN 4.0 đối với lĩnh vực này CMCN 4.0 đã tạo ra mô hình nông nghiệp thông minh hay còn gọi là nông nghiệp chính xác khi mà các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản được hiệu quả hơn, chính xác hơn, được kiểm soát và mang lại lợi nhuận cao hơn Một số quốc gia điển hình trong việc định hướng phát triển nông nghiệp thông minh nổi bật như ở Đức ứng dụng mạnh mẽ kết quả của CMCN 4.0, thể hiện qua việc thúc đẩy tích hợp hệ thống Web-Entity, M2M và IoT, triển khai các dự án Nông nghiệp 4.0 Nhật Bản tập trung áp dụng công nghệ AI, tạo các mô hình phối hợp giữa con người và máy móc, sản xuất thông minh vào nông nghiệp New Zealand tập trung phát triển các hợp tác nông nghiệp quy mô nhỏ, tiếp thị sản xuất toàn cầu, ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý sản xuất, quản lý chất lượng Hà Lan với mục tiêu quốc

tế hóa, tập trung đổi mới công nghệ theo hướng tự động hóa, tăng cường hợp tác công nghiệp - nông nghiệp một cách vững vững chắc (Agro Park), tạo lập một hệ thống hỗ trợ sản xuất nông nghiệp hoàn chỉnh Israel vốn có thế mạnh về các nghiên cứu khoa học nông nghiệp trong điều kiện bất lợi về tài nguyên thiên nhiên cũng như điều kiện khí hậu, thời tiết đã tập trung phát triển các kỹ thuật đa ngành, phát triển công nghệ tưới nhỏ giọt

để triển khai sản xuất nông nghiệp quy mô lớn trên vùng đất cằn cỗi Còn ở Đài Loan, ngành nông nghiệp đang thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp thông minh thông qua liên minh/ hội nông dân thông minh, thiết lập cơ sở dữ liệu về kiến thức sản xuất nông nghiệp và hệ thống hỗ trợ dịch vụ, triển khai hệ thống dịch vụ kỹ thuật

số hiệu quả và thuận tiện tương ứng với nâng cao hiệu quả tiếp thị thông qua khảo sát và tích hợp công nghệ thông tin, tạo mô hình truyền thông giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng một cách sáng tạo Có thể nói các công nghệ thông minh đã đã thay đổi hoàn toàn lĩnh vực nông nghiệp về cả cách thức canh tác, phân phối sản phẩm lẫn phương thức quản

lý, đưa phương thức sản xuất từ truyền thống sang hiện đại

Mục tiêu của chương trình nông nghiệp thông minh là nhằm vào việc phát triển và thương mại hóa các công nghệ nông nghiệp chính xác; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong khoa học nông nghiệp thông qua chương trình và nghiên cứu tương thích mang tính quốc tế; tăng cường kết nối với các tổ chức trong và ngoài nước; phát triển mối liên kết với ngành công nghiệp để tiếp cận và chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng

và dịch vụ cộng đồng Theo đánh giá của các nhà khoa học, trong vòng năm năm gần đây, công nghệ đã đóng góp khoảng 35% trong giá trị tăng trưởng của nông nghiệp ở nước ta

Trang 13

Trên cơ sở xây dựng mối liên kết giữa các nhà khoa học và nông dân, các cơ quan nghiên cứu đã nắm bắt được những đòi hỏi của thực tế sản xuất và nhu cầu của xã hội, từ đó có những định hướng nghiên cứu phù hợp và thu được nhiều thành tựu nổi bật

Hiện nay, các ứng dụng công nghệ có liên quan đến nông nghiệp thông minh ở nước

ta nói chung cũng như ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chỉ mới ở bước đầu triển khai, chưa phổ biến rộng rãi, tập trung nhiều ở lĩnh vực trồng trọt Việc ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông (Information and Communicate Technology - ICT) trong nông nghiệp chỉ giới hạn trong một vài lĩnh vực và vẫn chưa sâu, toàn diện như ứng dụng ICT trong tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; cải thiện tính an toàn sản phẩm; tiếp cận thị trường, mặc dù đã có hơn mười ứng dụng ICT trong nông nghiệp ra đời Song song đó, nước ta nằm trong năm nước bị tác động mạnh mẽ, nghiêm trọng của biến đổi khí hậu Rất cần những ứng dụng về công nghệ thông minh để hạn chế tối đa những bất lợi của thiên nhiên, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với sự thay đổi và có tư duy đa ngành

Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố và Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao, có 1.561 cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có 17 tiến sĩ, 187 thạc sĩ, còn lại là đại học, cao đẳng Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ khoa học hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trong các cơ quan nghiên cứu, trường đại học thuộc trung ương đóng trên địa bàn thành phố cũng là một nguồn nhân lực lớn cho phát triển công nghệ cao của thành phố Song song với đội ngũ khoa học kỹ thuật thì cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động của các đơn vị ngày càng được tăng cường, nhất là các đơn vị như Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Quản lý Kiểm định giống cây trồng vật nuôi, Trung tâm Khuyến nông, Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Thành phố có liên quan đến chức năng và nhiệm vụ của các tổ chức như: Hội Nông dân thành phố (Trung tâm dạy nghề), Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao (Trung tâm dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Chi cục Phát triển Nông thôn và Trường trung học Kỹ thuật nông nghiệp) Tuy nhiên, quyết định 6150/QĐ-UBND của Thành phố cũng nhìn nhận một tồn tại hiện nay có liên quan đến nguồn nhân lực, đó là sản xuất nông nghiệp theo công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn, lực lượng lao động phải có trình độ quản lý và tay nghề cao, nên thường chỉ có những tổ chức, cá nhân có điều kiện về năng lực, về vốn mới sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao được Điều này xuất phát từ việc thiếu vốn đầu tư trong nông nghiệp; đội ngũ cán bộ kỹ thuật có khả năng và tiếp cận công nghệ cao để ứng dụng, chuyển giao còn thiếu và các hộ nông dân sản xuất với quy mô nhỏ, thiếu vốn đầu tư, trình độ tiếp nhận ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế

3 Lý thuyết về mô hình “Viên kim cương” của Michael Porter

Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Michael Porter đã vận dụng những cơ

sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương” Các yếu tố quyết định của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Ngoài ra, còn có hai biến số bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ Theo Porter, không một quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Các quốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong

Trang 14

một số ngành nào đó Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho, sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và chịu nhiều sức ép nhất

Trong cuộc CMCN 4.0, quá trình chuyển đổi sẽ đi từ việc tiếp nhận công nghệ, mà trong đó chủ yếu là sử dụng công nghệ mới sang quá trình cải thiện với trình độ được nâng cao hơn, tức là cải thiện công nghệ mới và quá trình đó được phát triển, nâng cao hơn nữa khi chuyển sang giai đoạn sáng tạo Khi đó, nền kinh tế đã sáng tạo ra tri thức, sáng tạo ra sản phẩm mới phục vụ cho nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển kinh tế Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ việc tiếp nhận công nghệ và trong đó, chủ yếu là sử dụng công nghệ nước ngoài sang giai đoạn cải thiện công nghệ nước ngoài Tuy nhiên, khả năng sáng tạo ra tri thức, sáng tạo ra sản phẩm mới phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả đào tạo ở bậc đại học trở lên Michael Porter cũng cho rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hoá cao độ Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hoá, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Để thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế, trước hết trách nhiệm thuộc về các trường đại học, các cơ sở đào tạo của các doanh nghiệp và của chính bản thân nguồn nhân lực trong quá trình tự đào tạo để trưởng thành trong công việc Như vậy, theo lý thuyết này, nếu chúng ta biết cách nắm bắt và vận dụng thành tựu, kết quả của cuộc CMCN 4.0 vào điều kiện đặc thù của Việt Nam, phát huy văn hóa dân tộc, vị trí địa kinh tế của đất nước và đầu tư đúng mức vào các ngành kinh tế trọng yếu sẽ có khả năng nâng cao lợi thế cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách đối với các quốc gia phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp – một lĩnh vực mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh với các quốc gia khác

4 Các yêu cầu đặt ra và một số giải pháp trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Dựa trên các phân tích, dự báo xu hướng và thực tiễn đang diễn ra ở các nước xung quanh cũng như đang tác tác động từng ngày, từng giờ đến nước ta hiện nay, việc đổi mới trong đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề mang tính cấp bách để bắt kịp với xu hướng phát triển của thời đại, tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn nhân lực, đóng góp cho sự phát triển của đất nước Chương trình phát triển NNCNC của thành phố giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025 theo quyết định 6150/QĐ-UBND ngày 24/112016 của UBND Tp Hồ Chí Minh dự kiến dành 28,5 tỷ đồng giai đoạn 2016 – 2020 và 30 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 – 2025 từ nguồn vốn ngân sách cho đào tạo nguồn nhân lực Chương trình cũng đã đề ra các hoạt động cụ thể

để triển khai mục đích của đào tạo Để làm được điều đó, cần lưu ý thêm một số vấn đề như sau:

(1) Phải nắm được xu thế phát triển khoa học công nghệ và các ứng dụng công nghệ của cuộc CMCN 4.0 vào trong cuộc sống, trong các lĩnh vực của xã hội và trong sản xuất nông nghiệp Nội dung này cần được phân tích và dự báo thời điểm có

Trang 15

khả năng xảy ra để lựa chọn các trọng tâm ưu tiên, các tính toán chuẩn bị nguồn nhân lực chu đáo và khoa học Ngoài ra, cần lưu ý đến quan điểm đồng bộ trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phải đồng bộ theo chuỗi giá trị của sản phẩm, chọn những phân khúc có giá trị gia tăng tốt để đầu tư, tạo sự khác biệt về sản phẩm ở từng địa phương, đa dạng hoá sản phẩm cũng như tăng thu nhập cho người dân địa phương

(2) Khảo sát định kỳ nhu cầu nghề nghiệp của xã hội, làm cơ sở để xây dựng các chương trình, giáo trình tập huấn, đào tạo sát với thực tế và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị phục vụ cho việc đào tạo

(3) Phải ứng dụng chuyển đổi số trong dạy và học ở bậc đại học, trong đó trí tuệ nhân tạo là yếu tố cốt lõi, được định hướng phát triển theo hướng liên ngành, đa ngành

và xuyên ngành Xây dựng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo bao gồm các thành phần chủ yếu: nhân lực, tổ chức, nghiên cứu và phát triển, xây dựng các trung tâm vườn ươm và thu hút đầu tư, các chính sách và hành lang pháp lý của Chính phủ và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo của các trường đại học

(4) Cần khuyến khích có thêm nhiều hình thức thương mại trong nghiên cứu Để khuyến khích đồng thời việc nghiên cứu cơ bản mang tính đột phá và sự áp dụng

kỹ thuật sáng tạo trong lĩnh vực hàn lâm cũng như kinh doanh, các trường cần phải phân bổ tài trợ lớn hơn cho các chương trình nghiên cứu kết hợp với các doanh nghiệp Bộ phận hỗ trợ trong các trường đại học có thể ra ngoài hỗ trợ và làm việc tại các công ty Spin-off (công ty khởi nghiệp do chính nhà khoa học đồng

sở hữu với cơ quan nghiên cứu chính là mô hình công ty spin-off - university spin- off company hoặc technology spin-off company) làm các vị trí hỗ trợ về quản trị, tài chính, marketing, sản phẩm, sản xuất, … Mục tiêu của các hoạt động này không phải chỉ kiếm tiền mà vì lợi ích xã hội, chuyển giao công nghệ ra bên ngoài, để

PR cho trường, chứng tỏ tác động đối với đời sống, đối với các nhà đầu tư và chuyển giao cho cuộc sống tốt hơn Hợp tác nghiên cứu công - tư ngày càng cần được cấu trúc theo hướng xây dựng kiến thức và vốn con người vì lợi ích cho tất

cả Nói chung, hoạt động khoa học của các trường đại học phải cầu nối hữu hiệu

để chuyển giao công nghệ từ nghiên cứu ra bên ngoài

(5) Mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp để các sinh viên có cơ hội thực tập, làm việc thử trong một môi trường năng động, luôn cập nhật những thông tin, công nghệ mới Nhân sự làm việc trong bộ phận này cần có những kiến thức và kinh nghiệm thực tế, có các quan hệ nhất định trong mạng lưới các doanh nghiệp có các ngành có liên quan đến đào tạo của trường hoặc tham gia trong các hiệp hội doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu, cung cấp các dịch vụ khoa học và nhân lực Các công ty sẽ phải phát triển thêm công nghệ, vì thế sẽ trao đổi hợp tác với các trung tâm nghiên cứu ở trường để tiếp tục phát triển công nghệ mới Các trường Đại học cần mở rộng hợp tác với các Khu công nghệ cao, các Trung tâm Đổi mới sáng tạo của cả Nhà nước lẫn tư nhân để tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận, trải nghiệm thực tế và thực tập tại những cơ sở đó

(6) Tăng cường các hoạt động giao lưu, trao đổi tri thức thông qua các cuộc hội thảo, các buổi tọa đàm, các báo cáo chuyên đề mang tính thực chất, tránh nặng về hình thức, phô trương Hoạt động này cần được định kỳ tổ chức để cập nhật thông tin, kiến thức và các tiến bộ mới trong từng lĩnh vực có liên quan đến các ngành nghề

Trang 16

đào tạo của trường, tạo quan hệ giao lưu tri thức giữa các trường đại học, trao đổi các chuyên gia, …

(7) Tận dụng các hỗ trợ của chính phủ các nước như tổ chức PUM của Hà Lan, JICA của Nhật Bản, Mashav của Israel, Finpro của Phần Lan, USDA của Hoa Kỳ, …

để triển khai các chương trình đào tạo các chuyên viên như TTT – Train The Trainer, kêu gọi hợp tác với các quốc gia có thế mạnh để nghiên cứu các vấn đề

mà thực tiễn đang cần nhưng nguồn lực của trường còn hạn chế, tăng cường trao đổi giao lưu sinh viên với các trường quốc tế thông qua các chương trình được thiết kế sinh động, mang tính thực tiễn cao và phù hợp với nguyện vọng, tâm lý của sinh viên, …

(8) Định kỳ tổ chức các buổi báo cáo thực tế với thành phần khách mời là các doanh nghiệp khoa học công nghệ, các giám đốc điều hành của các doanh nghiệp lớn và sau đó là những thảo luận nhóm trao đổi về các nội dung đã đặt ra từ các chủ đề trên để các sinh viên có thể chủ động nắm bắt và liên hệ cập nhật, bổ sung các kiến thức đã được học trong lý thuyết

(9) Truyền cảm hứng đam mê nghiên cứu khoa học thông qua các cuộc thi về những chủ đề có liên quan đến CMCN 4.0, các buổi nói chuyện với sinh viên từ những tấm gương trẻ khởi nghiệp từ công nghệ - sáng tạo thành công, các mô hình quản

lý tiên tiến được ứng dụng công nghệ 4.0, … Thúc đẩy và khuyến khích các cuộc thi về nghiên cứu khoa học trong sinh viên hàng năm tại các trường đại học gắn kết với các cuộc thi như Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka, Hội thi Đổi mới sáng tạo hàng năm ở Thành phố và Trung ương

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng đó là phải có đội ngũ giảng viên (GV) có đủ chuẩn chất giảng dạy và nghiên cứu khoa học Để làm được việc này, cần lưu ý: (1) Cần tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên để nghiên cứu khoa học, năng lực nghiên cứu và động lực nghiên cứu phải được đặt trong một môi trường nghiên cứu tốt thì mới phát huy được hiệu quả; (2) Các trường cần mở các lớp bồi dưỡng về phương pháp nghiên cứu cho

họ Trường có thể huy động các GV có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu kèm cặp, hỗ trợ cho những người còn hạn chế về năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu; (3) Cần có sự đãi ngộ hợp lý để GV có thể sống tốt hoặc đủ sống bằng nguồn thu nhập từ nhà trường Nhìn chung, tác động và ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0, kinh tế số xâm nhập vào từng khía cạnh của cuộc sống, của nền kinh tế và của toàn xã hội Tìm hiểu, nắm bắt và

có những hành động đáp ứng phù hợp sẽ mang lại rất nhiều những lợi ích để chúng ta có thể biến chuyển những thách thức thành cơ hội, biến những tiềm năng thành hiện thực và trong đó, vai trò của việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cung ứng cho nền kinh

tế nước ta ngày càng quan trọng Điều này sẽ đẩy nhanh quá trình từ cải thiện công nghệ nước ngoài sang quá trình sáng tạo ra công nghệ giúp Tp Hồ Chí Minh khắc phục các khó khăn, trở ngại từ những tác động bất lợi khách quan của thiên tai, dịch bệnh, trở thành đầu tàu về khoa học công nghệ trong lĩnh vực ứng dụng và phát huy hiệu quả của cuộc CMCN 4.0

Tài liệu tham khảo

E-Magazine (10/11/2017) Smart city: Đô thị thông minh là gì? Truy cập tại:

https://doimoisangtao.vn/news/2017/10/9/phn-1-tng-quan-v-th-thng-minh-smart-city Klaus Schwab (2015) Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Free Press

Nguyễn Sinh Cúc (26/08/2014), “Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực” Tạp chí

Lý luận chính trị, Truy cập tại: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tu-dien-

Trang 17

mo/item/788- nguon-nhan-luc-va-phat-trien-nguon-nhan-luc.html

Nguyễn Viết Nam (10/11/2019) “Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019:

Việt Nam đạt quán quân trong tăng điểm và tăng hạng” Truy cập tại:

https://vjst.vn/vn/tin-tuc/1394/xep-hang-nang-luc-canh-tranh-toan-cau-2019 viet- nam-dat-quan-quan- trong-tang-diem-va-tang-hang.aspx

Porter, M E (2012) The Competitive advantages of Nations Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt

Chương trình phát triển nông nghiệp úng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020

Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ Tướng Chính về phê duyệt chiến lược

phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020

Quyết định số 6150/QĐ-UBND ngày 24/11/2016 của UBND TPHCM về Chương trình

phát triển nông nghiệp úng dụng công nghệ cao trên địa bàn TPHCM giai đoạn

Quyết định số 6150/QĐ-UBND ngày 24/11/2016 của UBND TPHCM về Chương trình

phát triển nông nghiệp úng dụng công nghệ cao trên địa bàn TPHCM giai đoạn

2016 – 2020, định hướng đến năm 2025

Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 27/4/2019 của của UBND TPHCM về Chương trình

phát triển nông nghiệp trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2019 – 2025 theo hướng cơ cấu lại và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

Võ Quế (2020) Những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

http://itdr.org.vn/nghien_cuu/nhung-van-de-co-ban-ve-phat-trien-nguon-nhan-luc- chat-luong-cao/

Trang 18

C ẢI CÁCH QUY HOẠCH NGUỒN NHÂN LỰC Ở HÀN QUỐC: HÀM Ý

ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Human resource planning reforms in South Korea:

Implications for Ho Chi Minh city

Nguyễn Phan Thu Hằng, Lê Lan Huơng 1 Abstract

Human resource has inevitably been a key factor in contributing to South Korea’s high technology boom and rapid economic growth Sharing similarities in historical situation, social and economic condition, lessons from what South Korean government has implemented to develop skilled manpower that meets economic development needs would be valuable for Vietnam situation in general and Ho Chi Minh City in particular Firstly, this study clarifies the reciprocal relation of education, human resource and economic development Then, it focuses on analyzing and finding out effective policies in human resource development of Ho Chi Minh City from South Korea’s case study

Keywords: human resource development, higher education, education development,

economic growth

1 Introduction

South Korea is known as the special phenomenon in the world due to its high technology boom and rapid economic development called “Miracle on the Han River” Becoming one of the leading industrialized countries with possessing poor natural resources and suffering post war economic problems, human resource has inevitably been

a key factor in contributing to this development Specifically, education is the major part that helped South Korea in forming a high-quality manpower to meet the demands of economic growth

Vietnam now is one of the fastest-growing economies in the world with GDP growth rate in 2018 and 2019 were 7.1% and 7.02% respectively (World Bank, 2021) Vietnam was shifted from the centrally planned subsidized economy to the socialist- oriented market economy, but it is still a developing country that belongs to the group of lower middle- income economies (Socialist Republic of Vietnam Government Portal, 2021) Hence, Vietnam has strived to find ways to develop all sectors of the economy Undoubtedly, human capital development plays a critical role in building a well-educated people responding to requirements of the modernization and industrialization process Vietnam has recently concentrated on developing key economic zones, in which, Ho Chi Minh City is the most populous city in Vietnam, located in the Southern It is also considered as the leading economic engine of Vietnam (Vietnamnet, 2021) The city has

an average annual growth rate reached to 7.22% from 2016 to 2019 The average per- person income in 2019 increased to US$ 6,400 that was more than two times in comparison with the national average level (Nhân Dân Online, 2021) Consequently, economic development in Ho Chi Minh City is believed to be a lever to motivate and push the speed of economic growth in the whole country

Sharing similarities in historical situation, social and economic condition, lessons

1 Trường Đại học Sài Gòn

Trang 19

from what South Korean government has implemented to develop a high-quality manpower that meets economic development would be valuable for Vietnam situation in general and Ho Chi Minh City in particular This study aims at clarifying the reciprocal relation of education, human resource and economic development Then, it focuses on analyzing and finding out effective policies in human resource development of Ho Chi Minh City from South Korea’s case study

2 Education, human resource and economic development

It is the fact that education is one of the basic components of development One country could not reach the sustainable economic growth if its government does not make

a sufficient investment in improving human resources Education shows the ways that help individuals learn more about themselves and surrounded world It makes life better through enhancing the quality of life, bringing more social benefits and advances in science and technology as well as promoting economic development (Ozturk, 2001)

In addition, education could produce positive influences on economic expansion It could create the high-quality human capital participating in the transition process from the labor-based economy to knowledge-based economy It forms a learning environment where technicians, engineers and specialists could have chances to access new technologies (Li, 1991: 29) Also, education is considered as a driving force of the economic growth It plays an important role in determining culture characteristics, moral norms, attitudes of the labor force as well as transferring knowledge and technology Consequently, education contributes on increasing employment opportunities (Y Kim, 1986: 42-47)

In particular, among education levels, higher education keeps a leading position in generating a well-educated workforce People who have successfully completed a three-, four- or five-year college program at universities or colleges could show ethical behaviors and get new modern scientific knowledge and technology better and faster than others who did not take the same level of education (Nelson & Phelps, 1966) Besides, higher education proves its contribution on economic development by engaging the procedure

of forming, delivering and transferring knowledge In which, the knowledge formation is implemented at universities by developing scientific research of professors, lectures and excellent students Performance evaluation is counted by the number of research articles published in the international journals Then, knowledge delivering is presented through research services agreement signed by universities and companies Finally, knowledge transfer activities are expressed by teaching at higher education institutions (Becker & Lewis, 1993)

Generally, the mutual correlation between higher education and economic development is clarified through upgrading human capital Economic growth gives more working chances in job market for people who graduated from universities Additionally, it could boost investment in higher education by supplying more modern material facilities and strengthening higher education network in both of quantity and quality In turn, higher education sector has a remarkable influence on the economy The renovation and enhancement in higher education could create high-qualified human resources that could learn new technology and adapt to dynamic work environment, therefore, promote economic

development (Shin, 2012) This relation could be presented in the Figure 1 below

Trang 20

High qualified human

Job market

Figure 1: The Reciprocal Relation between Higher Education

and Economic Development (Shin, 2012)

3 Human resource planning reforms in South Korea

Overview of education development and human capital improvement in each stage

of economic growth of South Korea

The following figure shows the overall procedure of education development and labor force enhancement in each stage of economic growth of South Korea:

Figure 2: The Overall Process of Educational Development and Human Capital

Improvement in each stage of Economic Growth of South Korea (Byong-Sun Kwak, 2010: 17), (G.-J Kim, 2002: 31); (Park, Choi, Yun, & Chae, 2015: 7-9)

Key Strategies of Educational Development in South Korea

In each stage of economic growth, educational development is aimed at generating workforce that meets the demands of the economy This process has followed three key principles involving systematic, step-by-step and sequential approaches (KEDI, 2017: 18) (See Figure 3)

Higher Education

Economic development Investment

Trang 21

Figure 3: Education Development in South Korea (KEDI, 2017: 18)

up from 1960s to mid-1970s to provide workers who acquired basic skills to work in export-oriented light industries (clothing, textile, toys, wigs,…), consumer electronic item production (televisions, radios, ) and the early stage of heavy industries (ship, steel,…) (G.-J Kim, 2002: 31) ; (Park et al., 2015: 7-9)

Next, the government concentrated on promoting vocational and upgrading the higher education from mid-1970s and 1980s to create the workforce that could respond

to the requirements about knowledge application and practice skills in systematic refinement of heavy industries Also, the transition of economy in 1980s from

“duplicative imitation” to “creative imitation” and “innovation” that led to the emergence

of electronic products such as computers, semiconductors, electric switching systems,… (G.-J Kim, 2002: 31); (Park et al., 2015: 7-9)

Furthermore, the 1990s- the present period witnessed the mass higher education era

of South Korea People could get more job opportunities in the global market, but they have to deal with the increasing global competition and challenges in accessing new technologies They need to be equipped with knowledge, skills and competence to adapt

to the economy that has been changed to a knowledge-based economy Accordingly, research and development activities and university-enterprises cooperation have been raised (KEDI, 2017: 19-20)

Sequential Approach

The process of education expansion in South Korea is a sequential development approach implemented from quantitative to qualitative To begin with primary education level, the government gave priority to learners who could get admission easily Nevertheless, this policy could lead to the fact that there were so many people in each class Then, the government spent more money on building new schools to deal with this situation and hence, the quality of primary education was strengthened (KEDI, 2017: 20)

Tertiary Step-by-Step

Trang 22

Also, at the secondary education, the government focused on rising the number of secondary schools before improving the education quality Specially, they encouraged and allowed for diversifying funding sources including not only public funds but also private funds to build secondary schools (KEDI, 2017: 20)

In the same way, at first higher education was heightened in quantitative aspect through producing more chances for people who want to study at universities or colleges Then, the government supported scientific research activities at higher education institutions by carrying out national projects (KEDI, 2017: 20-21) Among them, three most important projects considered as three pillars in the higher education reformation in South Korea were as follows: Brain Korea 21 Project concentrated on improving Research and Development; Leaders in Industry-University Cooperation Project focused

on revising Technical Education and Advancement of College Education Project directed

at reorganizing teaching activities (Park et al., 2015: 19) (See Figure 4)

Research &

Development

Brain Korea 21 Project

Teachin

g

Technica

l Educatio

Advancement of College Education Project

Leaders in Industry- university Cooperation

Figure 4: Three Pillars of the Higher Education Reformation in South Korea

(Park et al., 2015: 19)

4 Lessons for Ho Chi Minh City, Vietnam

Vietnam and South Korea have similarities and differences in historical, social and economic condition The following table shows the historical review for economic growth

in South Korea and Vietnam from 1945 to the present

Table 1: Historical Review for Economic Development: South Korea and Vietnam (Huong, 2020: 34-36)

Surrender of Japan Korea was divided into North and South

Establishment of Democratic Republic of Vietnam / French Colony return

1946 THE COLD WAR

Trang 23

1950

1953

Trang 24

TIMELINE CONTEXT WORLD SOUTH KOREA VIET NAM

1954 Recovery after the war

with US assistance 1960s - Starting President

Park Chung-Hee period

- Starting the rapid economic growth period:

1962-1971: labor- intensive and export- oriented economic strategies in light industries and consumer electronic products

Vietnam War

(Division of North and South after the end of Indochina War)

- End of President Park Chung-Hee period

- “Doi moi” policy 1986 (Reformation policy)

- Transformation from a

highly centralized command economy to a mixed economy

1991 Collapse of the USSR – The End of the Cold War

1990s Asian Financial

Crisis (1997) - Join WTO in 1995

- Focusing on high- tech industries

- Early 1990s:

diversified and dynamic economy

- Mid 1990s:

knowledge-intensive economy

- Economic transformation period

- Increasing export

- Gradually join global economic cooperation and organizations

2000s to - Totally moved toward - Join WTO in 2007

Trang 25

TIMELINE CONTEXT WORLD SOUTH KOREA VIET NAM

present market-oriented

economy

- Advances in high- tech industries

- Integrated into the global economy

- Expanded in agriculture and foreign investment

- Developed tourist industry

- Perfecting the industry along with the global supply chains

- Utilizing information technology to catch up with development

In particular, Ho Chi Minh City has gone through the recovery stage after the war

in 1975 At that time, Vietnam conducted the same policies with South Korea in increasing the speed of the literacy movement Also, Vietnam made an effort in reducing the educational differences between the two regions, then unifying the national education system followed the Northern system (Huong, 2020: 103) Therefore, educational policies

in Ho Chi Minh City were changed to adapt to this new education system

Next, Ho Chi Minh City prepared human capital that responds to the industrialization process In the early days of reunification, the number of people who finished primary education and secondary education levels studying at higher education level was still low The “Doi moi” Policy in 1986 generated positive changes in all aspects of society including education development From 1990s, rapid economic growth led to raising the demand for highly skilled workforce that needed to be educated at higher education institutions However, education programs exposed differences with international criterion in terms of content, methods as well as evaluation (Huong, 2020: 104)

At the present, economic development in Ho Chi Minh City is still based on cheap labor force rather than knowledge – based human resource as South Korea Along with

the information from the above Table 1, in terms of human capital, Ho Chi Minh City’s

circumstance is undoubtedly same with South Korea situation at 1980s and 1990s (Huong, 2020: 107), (Huong, 2020: 34-36) Therefore, Ho Chi Minh City’s government could apply key strategies that South Korea implemented in their educational development in building high-qualified manpower Ho Chi Minh City should develop education in all levels based on three principles involving systematic, step by step and sequential approaches Noticeably, Ho Chi Minh City has to focus on improving higher education sector that is evaluated as a fundamental factor to help Ho Chi Minh people could quickly reduce the gap in qualifications of human resources with other countries in the regions The important policies that Ho Chi Minh City’s government and people should consider are as follows:

i Education development must be a top priority A learning society should be formed

ii Defining a rational process of forming education policies, then conducting and

Trang 26

examining the achieved results Ho Chi Minh City’s government should take the initiative in organizing independent scientific research centers that could support the evaluation process

iii Within limited financial budgets, Ho Chi Minh could not improve all of education levels at the same time, but they need to develop education step by step and focus

on quantitative aspect before promoting the quality of education Ho Chi Minh City’s government should ask more autonomy from the national government in building and spending budgets for education

At primary education level, it is compulsory for everyone and thus, the City authorities should pay more money on constructing schools to decrease the number of students in each class At secondary schools, the private investment should be stimulated

In particular, mass higher education should be pushed by attracting all of private and public funds Also, administration mechanism should be adjusted to speed up international universities open new branches in Ho Chi Minh City This mass higher education policy will give people more chances to enter universities Then, scientific research must be strongly paid attention at universities because it could create breakthrough in acquiring and discovering new technologies The City’s government should create projects that support selected universities to strengthen scientific research, reinforce the university- enterprises relationship and diversify teaching activities

Additionally, the City authorities should mark the following notes in higher education improvement:

-Education programs at higher education institutions need to be designed in accordance with the education accreditation standards of the Minister of Education and Training

-Promoting international cooperation between higher education institutions in Ho Chi Minh City and other countries in regions and the World such as organizing international conferences, student exchange programs, language programs or cultural exchange activities, …Specially, South Korea is one of the top investors in Vietnam There are more and more Korean companies running their business in Ho Chi Minh City and thus, education cooperation with South Korea should be enhanced Huge corporations like Samsung, LG and Lotte, …provide us an enormous amount of works so that we need

to generate well-educated labors who could be able to work for them

-Innovating higher education management, giving more autonomy to universities

- Establishing good conditions and modern facilities to appeal talent workforce at other countries and Vietnamese studying abroad to work at higher-education institutions

4 Conclusion

In general, education, human resource and economic development interact to each other Education development could supply high-qualified manpower that plays a key role

in developing the economy In converse, economic development could make investment

in improving education and create more work opportunities in the job market Through discovering the success story of South Korea in nurturing effective human capital for economic growth, important lessons could be withdrawn for Ho Chi Minh City, Vietnam

It would be suitable in Ho Chi Minh City situation if the City’s government applies systematic, step by step and sequential approaches in education

Trang 27

development Particularly, Ho Chi Minh City should pay much attention on upgrading higher education to catch up new technologies and create well-educated human capital that could be able work in the global market

Reference

Becker, W E., & Lewis, D R (1993) Higher education and economic growth Springer Byong-Sun Kwak, M.-S J., Ee-Gyeong Kim, Soojeong Lee (2010) Educational

Huong, L L (2020) Human Resource Development in Korea and Vietnam: Focusing on

Manpower Planning Reforms The Academy of Korean Studies

KEDI, K E D I (2017) A Window into Korean Education

Kim, G.-J (2002) Education policies and reform in South Korea Secondary education

in Africa: Strategies for renewal, 29-39

Kim, Y (1986) Educational contribution to the economic development in Korea

Li, T M (1991) Higher-Education Must Be Adapted to and Coordinated with Economic-

Development Chinese Education, 23(4), 28-38

Nelson, R R., & Phelps, E S (1966) Investment in humans, technological diffusion, and

economic growth The American Economic Review, 69-75

Nhân dân Online (2021) Ho Chi Minh City strives to maintain role as Vietnam’s

city-strives-to-maintain-role-as-vietnam%E2%80%99s-economic-engine.html, Accessed March 27, 2021

Ozturk, I (2001) The role of education in economic development: a theoretical perspective Park, H., Choi, J., Yun, J., & Chae, J (2015) Skills for Work: The Development and

Expansion of the Higher Education Sector in the Republic of Korea Retrieved from Shin, J C (2012) Higher education development in Korea: western university ideas,

Confucian tradition, and economic development Higher Education, 64(1), 59-72 Socialist Republic of Vietnam Government Portal (2021) Vietnam economy overview,

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/English/TheSocialistRepublicOfVietn am/AboutVietnam/AboutVietnamDetail?categoryId=10000103&articleId=100005

54, Accessed March 27, 2021

Vietnamnet (2021) HCM City's economy, http://english.vietnamnet.vn/fms/vietnam-

reference/provinces-cities/454/hcm-city-s-economy.html, Accessed March 20, 2021

World Bank (2021) GDP growth (annual %) – Vietnam, https://data.worldbank.org/

indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG?locations=VN, Accessed March 27, 2021

Trang 28

XU ẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG NHẬT BẢN VÀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

Vietnam’s labour exportation to Japan and improving labour quality

Lê Đăng Minh 1 , Lưu Ngọc Trịnh 2 Tóm tắt

Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lao động lớn và hấp dẫn nhất của Việt Nam Trong những năm qua, Việt Nam đã đưa sang Nhật Bản trên 400.000 lao động các loại Trong thời gian tới, do tỉ lệ sinh giảm sút và già hóa dân số nhanh chóng, Nhật Bản có thể thiếu hụt chừng 1,5 triệu lao động và có nhu cầu tiếp nhận từ 350.000 -500.000 lao động nước ngoài trong thời gian đến năm 2025, chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, trong đó Việt

khá cao về trình độ tay nghề, song để Nhật Bản có thể tiếp tục là thị trường hấp dẫn và bền vững cho lao động Việt Nam, chúng ta, trước hết là các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động, cần có những biện pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Một là, tiếp tục cải thiện hệ thống và chương trình đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề và tiếng Nhật cho người lao động phù hợp với đòi hỏi mới của thị trường Nhật Bản Hai là, giáo dục, rèn luyện để nâng cao tính kỷ luật, thái

độ và tác phong làm việc cho người lao động trước khi sang Nhật

Từ khóa: xuất khẩu lao động, chất lượng nguồn nhân lực, Nhật Bản, Việt Nam

Abstract

Purpose: Purpose of this paper is to make a study of real situation of Vietnam

labour exportation to Japan so far, to find its achievements and limits as well as their main subjective and objective causes On this basis, the paper tries to suggest some concrete measures necessary to improve Vietnam’s labour exportation in future

Design/Methodology/Approach: The paper looks deeply the real situation of

various forms of labour exportation from Vietnam to Japan, points out the concrete problems of the activity including strengths and weaknesses, and gives some necessary measures to overcome

exportation to Japan have had more rapid growth rate, bigger scale and larger ratio of market However, the paper also found out that during their living and working in Japan, Vietnamese laborers already have had rather many problems, such as their low degree

of professional skill, unbalanced structure of occupation, legal violation of legal regulations and social standards of Japan, …These problems have influenced negatively

on the picture of Vietnam in general and on Vietnamese laborers in particular; Their causes are mainly due to, before exporting to Japan, Vietnamese laborers have not been prepared well in professional knowledges and skill, have not been properly educated in trade morals and styles, as well as full knowledges of Japan’s social, cultural and legal issues; From these causes, the paper suggests some main solutions to improve the hard and soft capabilities of Vietnamese laborers before taking them to Japan to work and study in future

1 Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn

2 Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải

Trang 29

Practical Implications: The findings of this paper may be the useful and valuable

references to Vietnam’s policy-makers, businessmen in the field of labour exportation as well as laborers themselves having intention to leave for Japan to study and to work

knowledges of the real situation of labour exportation to Japan as well as Vietnamese laborers in Japan, its main problems as well as necessary solutions

Keywords: Japan, Labour Exportation, Labour Problems, Solutions, Vietnam

Trong số các quốc gia xuất khẩu lao động sang Nhật Bản, Việt Nam đang nổi lên là quốc gia hàng đầu có mức tăng nhanh nhất Từ thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam sang Nhật Bản thời gian qua, bài viết sẽ chỉ ra và phân tích những vấn đề mà lao động Việt Nam gặp phải tại Nhật Bản, trên cơ sở đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động nâng cao chất lượng nguồn lao động của mình trước khi đưa sang Nhật làm việc

1 Tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang Nhâ ̣t Bản hiện nay

Theo thống kê từ Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS), hiện Việt Nam đã có trên 400.000 lao động các loại đang làm việc tại các doanh nghiệp ở Nhật Bản, đứng đầu trong nhóm Đông Nam Á Tiếp theo là Philippines với 164.006 người, theo sau là hai nước Indonesia và Thái Lan Cụ thể, riêng năm 2019, kế hoạch đưa lao động Việt Nam

đi làm việc ở thị trường ngoài nước theo hợp đồng là 120.000 lao động, trong đó thị trường: Nhật Bản: 53.610 lao động, Đài Loan: 41.174 lao động, Hàn Quốc: 5.898 lao động, Rumania: 1.103 lao động, Ả rập - Xê út: 817 lao động, Macao: 324, Malaysia: 304 lao động và các thị trường khác Chỉ riêng chín tháng đầu năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 104.615 lao động, đạt 87,2% kế hoạch cả năm Trong đó, Đài Loan và Nhật Bản là những điểm đến hàng đầu của người lao động Việt Nam, chiếm 91% tổng số người Việt Nam làm việc ở ngoài nước (Nguyễn Tuyến, 2020b) Như vậy, có thể nói, Nhật Bản đang là thị trường xuất khẩu lao động lớn và rất tiềm năng của Việt Nam Bài toán hiện nay là làm thế nào để Việt Nam duy trì được ưu thế đó, tiếp tục là một trong những nguồn tuyển dụng ưa thích của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản Các chương trình đưa số lượng lớn lao động nước ngoài sang Nhật Bản như TITP,

du học sinh, kỹ năng đặc định, và hộ lý và điều dưỡng đều có sự đóng góp đáng kể của lao động Việt Nam

1.1 Thực tâ ̣p sinh (TITP) - Chương trình hợp tác lao động lớn nhất

Trong chương trình Thực tập sinh (TITP), Việt Nam là quốc gia có số lao động tăng nhanh nhất với tốc độ tăng 31,9% Theo số liệu thống kê mới nhất, Việt Nam có 326.840 lao động tại Nhật Bản, đứng đầu trong nhóm Đông Nam Á, tiếp theo là Philippines với 164.006 người, Indonesia và Thái Lan cũng nằm trong nhóm các quốc gia có số lượng lao động lớn tại Nhật Bản Các nước còn lại như Campuchia, Myanmar, Malaysia cũng đang thúc đẩy việc tăng cường đưa lao động đến “đất nước Mặt Trời mọc” (Nguyễn Tuyến, 2020a)

Theo thống kê của Tổng cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Cư trú, đến hết tháng 11/2019 đã có 84.817 thực tập sinh Việt Nam nhập cảnh mới Nhật Bản, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước (số này chưa bao gồm 11.392 thực tập sinh năm thứ tư nhập cảnh),

Trang 30

nâng tổng số thực tập sinh Việt Nam tại Nhật Bản đến thời điểm tháng 10/2019 lên 193.912 người, chiếm 50,5% tổng số thực tập sinh nước ngoài tại Nhật Bản Tiếp theo là Trung Quốc với 86.982 người, chiếm 22,6%, Philippines 34.965 người, chiếm 9,1% và Indonesia 32.489 người, chiếm 8,5% Thực tập sinh Việt Nam làm việc chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất chế tạo (gồm cả sản xuất đồ ăn, uống), xây dựng và nông nghiệp Các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục có đánh giá tích cực đối với thực tập sinh Việt Nam, nhất

là những thực tập sinh năm thứ tư và năm thứ năm về tay nghề (Nguyễn Tuyến, 2020a)

1.2 Du học sinh

Theo số liệu của Tổng cục Xuất nhập cảnh Nhật Bản, tính đến cuối tháng 6/2019,

có 82.266 du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản Đây là loại visa đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp làm giáo dục tại Nhật Bản cũng như bù đắp tình trạng thiếu hụt lao động trong ngành dịch vụ Nhật Bản, là nguồn cung cấp lao động bán thời gian cho các nhà hàng, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, khách sạn, … (Nguyễn Tuyến, 2020b)

1.3 Kỹ năng đặc định và lao động có trình độ chuyên môn cao

- Kể từ tháng 5/2019, lao động kỹ năng đặc định nước ngoài đầu tiên nhập cảnh Nhật Bản là người Việt Nam Theo số liệu chính thức, đến hết tháng 11/2019, trong tổng

số 544 lao động kỹ năng đặc định nước ngoài nhập cảnh Nhật Bản, Việt Nam chiếm số đông nhất với 280 người, chiếm 51,5%

- Đối với lao động có trình độ chuyên môn cao, hiện có gần 500 lao động có trình

độ từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc tại Nhật Bản theo visa kỹ thuật, nhân văn, Trong số này, nhiều lao động là du học sinh tốt nghiệp trường cao đẳng nghề, đại học rồi ở lại làm việc nhưng cũng ngày càng nhiều lao động được tuyển trực tiếp từ Việt Nam sang theo hợp đồng cá nhân Lao động Việt Nam loại này cũng luôn được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao về trình độ, năng lực (Nguyễn Tuyến, 2020b)

1.4 Các chương trình tuyển dụng thực tâ ̣p sinh hộ lý và điều dưỡng EPA

EPA là chương trình xuất khẩu lao động ngành điều dưỡng và hộ lý sang Nhật Bản, kết quả của Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) Việt Nam - Nhật Bản ký năm 2012

- Trong khuôn khổ chương trình tuyển dụng điều dưỡng, hộ lý EPA, năm 2019 là năm thứ hai hộ lý EPA Việt Nam tham gia kỳ thi quốc gia Nhật Bản theo quy định Trong

số 106 lao động Việt Nam tham gia, có 93 người đỗ, đạt tỷ lệ 87,7%, cao hơn mức đỗ bình quân và cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của một số nước Đông Nam Á

- Đối với điều dưỡng, năm 2019, có 48 điều dưỡng Việt Nam tham gia thi, có 23 người đỗ, đạt tỷ lệ 47,9%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của điều dưỡng EPA Indonesia

và Philippines Về thực tập sinh hộ lý, đến nay, thực tập sinh hộ lý Việt Nam vẫn chiếm

số lượng đông nhất với khoảng 1.000 người

Mặc dù số lượng công ty được đưa thực tập sinh hộ lý tăng lên nhưng số lượng nhập cảnh không tăng nhiều do nguồn ứng viên hạn chế, lại thêm thời gian đào tạo dài Các cơ

sở tiếp nhận ở Nhật Bản đánh giá cao thực tập sinh hộ lý Việt Nam và có nhu cầu tiếp nhận số lượng lớn (Nguyễn Tuyến, 2020b)

2 Tại sao Nhâ ̣t Bản là thị trường hấp dẫn của lao động xuất khẩu Việt Nam

Nhật Bản được đánh giá là một thị trường xuất khẩu lao động hấp dẫn của Việt Nam, vì những lý do chủ yếu sau:

Ngày 25/12/2018, Nội các Nhật Bản đã thông qua một gói chính sách mới về chương

Trang 31

trình xuất khẩu lao động Nhật Bản Theo đó, kể từ tháng 4/2019, trong vòng năm năm (2019-2023), Nhật Bản sẽ tiếp nhận 345.000 lao động nước ngoài cho các ngành đang thiếu hụt lao động như xây dựng, nông nghiệp, điều dưỡng, … Những lao động được chọn

sẽ là công dân Trung Quốc, Indonesia, Mongolia, Myanmar, Nepal, Thái Lan, Philippines

và Việt Nam (Thu Linh, 2019)

- Thứ hai, Nhật Bản có khoảng cách địa lý với Việt Nam không xa; khí hậu ôn hòa;

là quốc gia Đông Á có nhiều nét tương đồng và gần gũi về con người, văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán với Việt Nam;

ngày càng phát triển theo chiều sâu Nhật Bản đang là nhà đầu tư FDI lớn nhất nhì, nhà xuất nhập khẩu lớn thứ hai, ba, và luôn là nhà viện trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Ngoài

ra, quan hệ hợp tác về văn hóa, giáo dục và quân sự giữa hai nước ngày càng nâng cao cả

về quy mô lẫn chất lượng

- Thứ tư, người lao động Việt Nam thích lựa chọn thị trường Nhật Bản để làm việc

còn do tại đây có điều kiện làm việc, sinh hoạt và quan hệ chủ thợ tốt; có chế độ đãi ngộ tốt và thu nhập của người lao động cao Tùy theo ngành nghề và trình độ, mức lương trung bình trả cho người lao động xuất khẩu ở Nhật thường dao động trong khoảng 1.800- 2.500 USD/tháng, thậm chí 3.000 USD/tháng, cao hơn đáng kể so với các thị trường khác,

và với mức thu nhập trên, nhiều lao động sau khi về nước đã có cuộc sống tốt hơn (theo Vinacomvietnam.vn)

- Thứ năm, lao động xuất khẩu làm việc tại Nhật Bản sẽ có nhiều cơ hội học tập và

tiếp cận công nghệ hiện đại, tác phong làm việc chuyên nghiệp và có tính kỷ luật cao

- Thứ sáu, thị trường lao động Nhật Bản rất đa dạng ngành nghề, hơn hẳn so với các

thị trường Đài Loan, Hàn Quốc Và người lao động hoàn toàn có thể lựa chọn chủ xí nghiệp, lựa chọn ngành nghề tham gia mà mình ưa thích Từ năm 2020, Nhật Bản chính thức nới rộng từ 66 lên 77 ngành nghề được phép tiếp nhận thực tập sinh nước ngoài, việc gia tăng ngành nghề mở ra nhiều cơ việc làm cho các lao động Việt Cụ thể là các ngành nghề sau:

+ Nông nghiệp: 2 nghề, 6 công việc;

+ Ngư nghiệp: 2 nghề, 9 công việc;

+ Xây dựng: 22 nghề, 33 công việc;

+ Chế biến thực phẩm: 9 nghề, 14 công việc;

+ Dệt may: 13 nghề, 22 công việc;

+ Cơ khí, kim loại: 15 nghề, 27 công việc;

+ Ngành nghề khác: 13 nghề, 25 công việc [8]

Có thể nói, đó là nền tảng vững chắc giúp thúc đẩy mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Nhật Bản Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thì tuy các đơn đặt hàng khá nhiều và đang tăng mạnh, nhưng cũng không ít thách thức đối với người lao động Việt, bởi Nhật Bản là thị trường đòi hỏi khá cao với những điều kiện khắt khe và chính sách tuyển dụng và quản lý lao động ngày càng siết chặt Hiện nay, hầu hết các đơn đặt hàng của Nhật Bản đều không tiếp nhận lao động nước ngoài tay nghề thấp, lao động cơ bản, mà chỉ nhận dưới hình thức tu nghiệp sinh và thực tập sinh vào Nhật Bản nhằm nâng cao tay nghề, đào tạo nguồn nhân lực cho các nước đang phát triển, trong

đó có Việt Nam (theo Vinacomvietnam.vn)

Trang 32

3 Tại sao các doanh nghiệp Nhâ ̣t ưu tiên lựa chọn lao động Việt

Tại sao các doanh nghiệp Nhật thường không thích lao động Việt, nhưng chỉ có nguồn lao động Việt Nam mới đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của họ?

3.1 Một số hạn chế cốt lõi của lao động xuất khẩu Việt Nam

Các doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng, lao động Việt Nam tại Nhật:

- Tính kỷ luật kém, hay hành động tự phát, hay đòi hỏi, không thỏa mãn thì dễ phản ứng không tiêu cực

- Tác phong làm việc và sinh hoạt không nghiêm túc và thiếu chuyên nghiệp Sinh hoạt, ăn uống, chi tiêu, sử dụng thời gian rỗi một cách thiếu khoa học nên hay phát sinh vấn đề

- Nắm bắt và tuân thủ pháp luật kém Không nhanh chóng hòa nhập với môi trường làm việc, không hiểu và làm theo phong tục tập quán ở địa phương Hay vi phạm pháp luật, nhỏ là đi tàu xe không trả tiền, tự tiện lấy đồ hoặc vật phẩm thuộc về người khác dùng, lớn thì ăn cắp

- Dễ bị dụ dỗ và dễ dàng bỏ trốn khỏi xí nghiệp tiếp nhận

- Hết hạn hợp đồng, không chịu về nước, mà sẵn sàng ở lại bất hợp pháp

Các số liệu thống kê cho thấy, tội phạm hình sự và cư trú bất hợp pháp của người Việt Nam ở Nhật Bản ngày càng gia tăng, chỉ đứng thứ 2 sau Hàn Quốc

- Số vụ vi phạm hình sự lên tới 1.197 vụ (năm 2013), tăng gấp 3 lần tới 3.591 vụ (năm 2017), và đạt 2.993 vụ (năm 2018)

- Số người cư trú bất hợp pháp từ 1.110 người (tháng 1 năm 2013) đã tăng gấp 10 lần tới 11.131 người (tháng 1 năm 2019)

- Số thực tập sinh kỹ thuật bỏ trốn ra ngoài (làm chui, sống chui), cư trú bất hợp pháp, đã tăng tới gần tám lần sau năm năm, từ 496 người (năm 2012) lên 3.751 người

(năm 2017) (theo kokoro-vj.org, 2019) Với các công ty, doanh nghiệp Nhật thì tình trạng

này là điều không thể chấp nhận được

Nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực

- Một trong nhiều lý do làm phát sinh tiêu cực trong xuất khẩu lao động nói chung, sang Nhật Bản nói riêng, đó là việc lệ phí mà người lao động phải trả quá cao để có thể

đi lao động xuất khẩu Việc thu phí vô tội vạ, qua nhiều khâu trung gian, trục lợi, thậm chí lừa đảo, đã tạo ra gánh nặng cho người lao động và gia đình của họ Vì thế, để bù đắp chi phí đã bỏ ra, không ít người lao động đã bất chấp luật lệ của phía nước bạn và dẫn đến phạm pháp;

- Nền tảng văn hóa và kỹ năng lao động - kiến thức của lao động Việt Nam khá thấp (so với mặt bằng tại Nhật Bản) Việc đào tạo nghề, kỹ năng và nhất là thái độ và tác phong làm việc tập thể ở Việt Nam chưa thật sự nghiêm túc, còn khá qua loa, các cơ sở đào tạo cũng như các doanh nghiệp tổ chức xuất khẩu lao động chưa chú trọng đến chất lượng lao động để chuẩn bị tốt kiến thức, kỹ năng và đạo đức làm việc cho người lao động, và không quan tâm đến đòi hỏi của thị trường lao động, mà chỉ chú trọng đến số lượng và lợi nhuận;

- Việc giáo dục định hướng trước khi đi xuất khẩu lao động Nhật Bản chưa đạt hiệu quả, chưa được cả người lao động lẫn tổ chức phái cử lao động Việt Nam coi trọng Ngoài những hình ảnh nhiều khi bị “tô hồng” thái quá, người lao động chưa được thông tin đầy

đủ về những khó khăn, thách thức, rủi ro và những mặt trái của môi trường làm việc mới

Trang 33

ở Nhật Chính vì vậy, lao động Việt Nam trước khi qua Nhật đã không được chuẩn bị tâm thế tốt để hội nhập và thích nghi với môi trường lao động khắt khe, từ đó dẫn đến hệ lụy

là bị thất vọng và dễ bị sa ngã, tiêu cực

- Cuối cùng, có tình trạng không ít các doanh nghiệp và những người môi giới ở Nhật Bản đã trở thành những kẻ tòng phạm với việc chứa chấp, sử dụng và tiếp tay cho lao động bất hợp pháp và trục lợi trong hoạt động nhập khẩu lao động

3.2 Lý do các doanh nghiệp Nhâ ̣t Bản vẫn muốn nhâ ̣n lao động Việt Nam

Mặc dù có những hạn chế “chết người” như trên, song các doanh nghiệp tiếp nhận lao động xuất khẩu phía Nhật Bản thời gian gần đây vẫn tiếp tục tuyển dụng lao động đến

từ Việt Nam Tại sao?

- Lao động từ Trung Quốc - lâu nay vốn là nguồn cung chủ yếu cho thị trường lao động Nhật Bản - ngày càng khó tuyển dụng hơn Do kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển, nhu cầu tuyển dụng trong nước của các doanh nghiệp cũng ngày càng lớn, dẫn đến tiền lương và thu nhập trong nước ngày càng cao hơn, khiến lao động Trung Quốc không muốn đi xuất khẩu lao động như trước;

- Quan hệ hai nước Nhật - Trung gần đây đang không tốt, khiến lao động Trung Quốc không còn muốn sang Nhật Bản và doanh nghiệp Nhật Bản cũng “ngại” tuyển lao động Trung Quốc mà chuyển hướng sang lao động từ các nước Đông Nam Á và Nam Mỹ;

- Trong khi đó, quan hệ Nhật Bản - Việt Nam ngày càng mở rộng ra nhiều mặt và hiện đang tốt đẹp hơn, tạo đà cho cả nhu cầu lao động từ phía Nhật Bản lẫn nguồn cung

từ phía Việt Nam ngày một tăng cao;

- Lao động Việt Nam sẵn sàng nhận mức lương cơ bản thấp để được đi xuất khẩu lao động và sẵn sàng nhận tăng ca nếu có thu nhập cao hơn, nên rất được phía các doanh nghiệp Nhật Bản ưa chuộng;

- Lao động Việt Nam về văn hóa, ngoại hình có nhiều điểm tương đồng với người Nhật Bản, khả năng tiếp thu công việc tốt và nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam có xu hướng muốn tuyển lao động đã từng làm việc ở Nhật Bản hơn;

- Cơ cấu dân số Nhật Bản ngày càng già hóa, cung lao động trong nước ngày càng giảm, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài ngày càng tăng

4 Già hóa dân số Nhâ ̣t Bản và nhu cầu lao động nhâ ̣p cư ngày càng lớn

Nhật Bản là quốc gia đứng thứ 11 thế giới về quy mô dân số với 126.860.301 người năm 2019, giảm 0,27% so với năm 2018 Điều đáng lo ngại là dân số Nhật Bản ngày càng

có xu hướng già hóa và từ năm 2010, đã chính thức bước vào xã hội siêu già với tỉ lệ người già chiếm 23,0% Theo phân tích của Cơ quan Nghiên cứu dân số Nhật Bản, đến năm 2050, dân số Nhật Bản sẽ giảm xuống còn 90 triệu người, trong đó số người trên 65 tuổi dự kiến chiếm khoảng 40% và số người dưới 15 tuổi chỉ chiếm khoảng 8,5% (Nguyễn Tuyến, 2020a) Đồng thời, dự kiến đến năm 2030, số lao động Nhật Bản sẽ bị giảm 7,9 triệu và để duy trì dân số ở mức 100 triệu người, về mặt lý thuyết, Nhật Bản phải tiếp nhận 200.000 người nhập cư mỗi năm, nâng tỷ lệ sinh từ 1,43 lên 2,07 vào năm 2030 (Nguyễn Tuyến, 2020a) Tại thời điểm hiện tại, ước tính toàn nước Nhật thiếu tới 586.400 lao động và dự kiến số lao động thiếu hụt trong vòng năm năm sẽ tới lên đến 1.455.000 người Để bù lại, mỗi năm, Nhật Bản sẽ phải tiếp nhận từ 262.700 đến 341.150 lao động Trong đó, ngành điều dưỡng 60.000 người, dịch vụ ăn uống 53.000 người, và xây dựng 40.000 người (VTC1, 2020)

Trang 34

Để tháo gỡ vấn đề nan giải này, ngoài việc kêu gọi các doanh nghiệp nâng tuổi nghỉ hưu như là một trong những giải pháp tối ưu, chính phủ Nhật Bản đã xúc tiến nhiều biện pháp thu hút lao động nước ngoài để giải quyết tình trạng khan hiếm lao động ở một số ngành nghề cần nhiều sức khỏe mà người cao tuổi không đáp ứng được (Lâm Anh, 2020) Ngay từ năm 2019, Chính phủ Nhật Bản đã xem xét điều chỉnh và bổ sung nhiều chính sách, biện pháp mới nhằm mục đích xây dựng một đất nước Nhật Bản cởi mở và thân thiện với người nước ngoài để thu hút nhiều hơn nữa lao động nước ngoài đến với

“xứ sở Hoa Anh đào” Trước đó, năm 2018, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã công bố

kế hoạch đến năm 2025 thu hút 500.000 lao động nước ngoài đến Nhật Bản để bù đắp tình trạng khủng hoảng nhân lực nghiêm trọng trong một số ngành

Đặc biệt, việc Chính phủ Nhật Bản ban hành chế độ visa mới với hai loại visa gồm

Kỹ năng đặc định 1 và Kỹ năng đặc định 2 có hiệu lực từ ngày 1/4/2019, được cho là chủ yếu hướng tới nguồn lao động tại các nước Đông Nam Á

Song song với nỗ lực của chính phủ, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng đẩy mạnh hoạt động thu hút lao động tại Đông Nam Á Theo Nikkei Asian Review, nhiều doanh nghiệp và chuỗi nhà hàng Nhật Bản đã lập các công ty liên doanh tại các quốc gia Đông Nam Á để hỗ trợ những người muốn tham gia các kỳ thi kỹ năng của chương trình visa mới tại Nhật Bản Các công ty liên doanh này còn phối hợp với những trường dạy tiếng Nhật và các doanh nghiệp khác ở các nước láng giềng, không chỉ tìm kiếm lao động cho mình mà còn cung cấp lao động cho những hệ thống doanh nghiệp và nhà hàng khác tại Nhật Bản

Bằng việc nhanh chóng lập các cơ sở đào tạo ở khu vực, các doanh nghiệp và chuỗi các nhà hàng này hy vọng sẽ giành lợi thế trong nỗ lực thu hút lao động từ Đông Nam Á Các trung tâm này đào tạo tiếng Nhật, các nội dung công việc tại các cửa hàng tiện lợi và phong tục tập quán của người Nhật Bản cho những sinh viên đã được nhận vào học tại các trường ở Nhật Bản

Có thể nói, đây thực sự là một tin vui đối với lao động nước ngoài nói chung và Việt Nam nói riêng, vì những thay đổi trong việc tiếp nhận lao động nước ngoài này từ phía Nhật chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội lớn cho những ai và những tổ chức đã, đang

và dự kiến sang và đưa người sang Nhật Bản làm việc theo các hình thức khác nhau

5 Giải pháp nâng cao chất lượng lao động để xuất khẩu sang Nhâ ̣t Bản

Để có thể tận dụng được những lợi thế của thị trường lao động Nhật Bản, các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động sang Nhật Bản cần phải có những biện pháp và cung cách đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng lao động (cả về thể lực, trí lực lẫn tâm lực) trước khi sang Nhật Bản làm việc

5.1 Hoàn thiện quan điểm về xuất khẩu lao động

- Các nhà hoạch đinh chính sách, các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp và cả người lao động cần phải xác định rõ rằng, trong nhiều năm tới, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài luôn phải là một giải pháp lâu dài, phù hợp xu hướng nguồn cung trong nước cũng như nhu cầu tuyển dụng lao động của một số nước ngày càng lớn, nên cần có những chính sách, biện pháp đồng bộ, căn bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu, tránh tình trạng “ăn đong, bóc ngắn cắn dài”

- Do đòi hỏi của thị trường xuất khẩu lao động cũng như do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ nguồn lao động có chất lượng và chuyên nghiệp từ các nước trong khu

Trang 35

vực, nên đã đến lúc thị trường lao động của nước ta không chỉ dựa mãi vào lợi thế lao động phổ thông giá rẻ, mà cần phải coi trọng việc nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu; đề cao hình ảnh dân tộc, thương hiệu lao động Việt Nam

- Ngoài tiêu chuẩn về thể lực, cần chú ý đào tạo để nâng cao trình độ văn hóa, trình

độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề, và giáo dục người lao động có thái độ, tác phong làm việc chuyên nghiệp, tôn trọng kỷ luật, có lối sống lành mạnh, và biết ứng xử có văn hóa và văn minh

- Để nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu sang Nhật Bản, bên cạnh đòi hỏi ý thức bản thân người học còn phải có sự chung tay của cả nhà trường lẫn doanh nghiệp Theo đó, cần phải có sự kết nối, hợp tác với nhau để qua đó định hướng, bồi dưỡng kiến thức, thay đổi tư duy của học viên với suy nghĩ học để đi làm việc nước ngoài, khi trở về phải làm chủ, …

- Khi xây dựng chương trình đào tạo, phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của thị trường và doanh nghiệp, từ đó mới xác định dạy gì, kiến thức, thực hành ra sao Quá trình thiết kế đào tạo phải bài bản trên cơ sở chuyên môn của doanh nghiệp, từ đó sẽ nâng cao

cả hai mặt lượng và chất cho nhân sự xuất khẩu lao động tại Việt Nam

- Bên cạnh đó, cần gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp, xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục nghề nghiệp với thị trường lao động cả ở cấp độ vĩ mô và cấp cơ sở giáo dục nghề nghiệp,

5.2 Nâng cao chất lượng đào tạo lao động xuất khẩu sang Nhâ ̣t Bản của các doanh nghiệp phái cử

Trước hết, không phải ai có ý định đi xuất khẩu lao động Nhật Bản đều đã biết mình

nên đi làm gì, có thể làm gì, do đó, các cơ sở đào tạo cùng với các doanh nghiệp phái cử cần định hướng cho các học viên và người lao động lựa chọn ngành nghề đào tạo và làm

việc phù hợp trước khi đi xuất khẩu lao động sang Nhật để tránh lãng phí và bỡ ngỡ

Cần phải làm cho mỗi người lao động khi tham gia chương trình tuyển chọn đi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản hiểu rõ được bản thân đang có những gì, phù hợp với ngành nào, có thỏa mãn các tiêu chí mà phía Nhật Bản yêu cầu hay không?

Thứ hai, cần chuẩn bị tinh thần trước cho người lao động Trong quá trình chuẩn

bị sang Nhật làm việc, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động không nên chỉ hứa hẹn những điều tốt đẹp, một thế giới màu hồng với các ứng viên, mà cần thông tin khách quan, nói rõ cho họ biết cả những mặt trái, những tiêu cực, đầy khó khăn, rủi ro và thách thức của cái thế giới màu hồng đó

Thứ ba, tiếp tục đầu tư nghiên cứu thị trường lao động Nhật Bản và học tập kinh

nghiệm xuất khẩu lao động của các nước Nhật Bản là quốc gia phát triển cao, do đó mọi hoạt động đều tuân thủ theo pháp luật Đẩy mạnh xuất khẩu lao động vào Nhật Bản chỉ

có thể đạt kết quả tốt khi chúng ta hiểu rõ về thị trường này và đáp ứng tốt yêu cầu của bạn Vì thế, việc nghiên cứu đầy đủ để cung cấp thông tin nói chung, thị trường lao động Nhật Bản nói riêng, là hết sức cần thiết cho việc tư vấn, định hướng và bổ sung kiến thức

về Nhật Bản trong quá trình đào tạo chuyên sâu trước khi người lao động sang Nhật làm việc Trách nhiệm không những thuộc về các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp phái

cử mà cả của bản thân người lao động Ngoài ra, cần phải học tập kinh nghiệm của các nước, nhất là các nước Đông Nam Á trong lĩnh vực xuất khẩu lao động nói chung, mở rộng thị trường lao động Nhật Bản nói riêng Sớm hoàn thiện các chế tài về thưởng phạt

Trang 36

hoạt động xuất khẩu lao động, trong đó có xuất khẩu lao động sang Nhật Bản (Nguyễn Mạnh Tuân, 2014)

Thứ tư, nâng cao chất lượng lao động tu nghiệp và làm việc tại Nhật Bản - Chìa

khóa thành công của ổn định và mở rộng thị phần Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

- Tuyển chọn lao động kỹ lưỡng Thực tiễn cho thấy, dễ dãi hoặc thiếu cẩn trọng

trong lựa chọn đầu vào thì không thể có được một đội ngũ lao động có chất lượng tốt để đáp ứng yêu cầu của đối tác và thường dẫn đến nhiều hậu quả xấu, gây tổn thất cả về kinh

tế lẫn thương hiệu của doanh nghiệp Tuyển chọn kỹ lưỡng ở đây bao gồm cả tiêu chí tuyển chọn lẫn cách làm:

 Về tiêu chí tuyển chọn, những doanh nghiệp có chất lượng lao động tốt và thành công trong chiếm lĩnh thị trường này, thường phấn đấu nâng dần tiêu chí đầu vào

 Về cách tuyển chọn, các doanh nghiệp làm tốt đều phải có một quy trình tuyển chọn chặt chẽ và kiểm soát được, tránh khoán trắng cho các môi giới Quá trình tuyển chọn cũng không chỉ dừng ở thời điểm khi mà người lao động đã được đối tác Nhật đồng ý tuyển lựa, mà còn phải tiếp tục theo dõi, sàng lọc trong thời gian đào tạo, giáo dục định hướng cho đến khi xuất cảnh Theo dõi sát sao, kiên quyết loại bỏ những lao động phát hiện thấy có vi phạm hoặc có vấn đề có thể không đảm bảo hợp đồng lao động

Thứ năm, tăng cường thời lượng và chất lượng đào tạo cho người lao động trước

khi đi xuất khẩu lao động

- Về mặt thời lượng, ở các doanh nghiệp có chất lượng đầu ra tốt thường phải đào

tạo ít nhất 4 - 6 tháng, với mục tiêu tiếng Nhật đạt trình độ ba và giáo dục định hướng bổ túc nghề Đối với kỹ sư, cần tổ chức những lớp vừa đào tạo tiếng, vừa bổ túc nâng cao tay nghề chuyên môn, nên cần kéo dài tới 6 - 8 tháng

Đây là nền tảng tốt để các thực tập sinh hoàn thành tốt công việc và có thể dễ dàng học để đạt trình độ hai tiếng Nhật và kiếm được việc làm có thu nhập cao trong thời gian

ở Nhật cũng như sau khi về Việt Nam

hiện những giải pháp cụ thể sau:

 Có cơ sở đào tạo nội trú đủ điều kiện học ngoại ngữ, bổ túc nghề, nơi ăn ở sinh hoạt, rèn luyện sức khỏe cho người lao động;

 Có chuyên gia, giáo viên Nhật Bản giúp đào tạo ngoại ngữ, bổ túc nghề và giáo dục định hướng cho người lao động Các công ty HR, Batimex, Suleco, LOD, Traenco-Hiteco, ADC, AIC, Airseco, Tocontap Saigon, đều áp dụng biện pháp này và đạt hiệu quả cao

 Tổ chức nếp sống quân sự cho các thực tập sinh trong quá trình đào tạo Đây cũng là giải pháp được nhiều công ty áp dụng và đem lại hiệu quả rõ rệt như LOD, Batimex, ADC, AIC,

 Tâm lý phổ biến của người lao động là muốn học ngắn và được xuất cảnh nhanh,

vì vậy ngay từ đầu cần có những bài giảng tư vấn để tạo động lực cho người lao động, nếu họ tự giác và say sưa học tập rèn luyện có mục tiêu thì kết quả sẽ tốt

Thứ sáu, đến nay, Việt Nam có trên 60 doanh nghiệp tham gia cung ứng lao động

Trang 37

cho thị trường Nhật Bản, nhưng mới có khoảng 1/3 số doanh nghiệp này đầu tư cơ sở đào tạo tương đối tốt cho lao động trước khi đi Nhật, số còn lại hoặc đầu tư chưa đủ tầm, và tính chuyên nghiệp của bộ máy làm thị trường Nhật chưa cao hoặc mới tham gia thị trường Nhật nên kết quả còn hạn chế

Do đó, trong tương lai, cần tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp trong hoạt động của doanh nghiệp tham gia thị trường Nhật Bản Đây là nhóm giải pháp góp phần không nhỏ vào thành công của doanh nghiệp ở thị trường này

Một khi đã chọn Nhật Bản là một thị trường trọng điểm của mình, thì doanh nghiệp cần có chiến lược và tiến hành đầu tư cho phát triển bền vững thị trường

- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo bằng nguồn vốn của mình và tranh thủ hợp tác hỗ trợ của đối tác, việc đầu tư để có được một Trung tâm đào tạo tiếng Nhật và giáo dục định hướng tập trung, nội trú là yêu cầu tối thiểu

- Đầu tư nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, khai thác

sử dụng lực lượng giáo viên và chuyên gia từ Nhật Bản là một trong những giải pháp hữu ích cho sự thành công của mỗi doanh nghiệp

- Đầu tư để xây dựng quan hệ và có đối tác, bạn hàng tốt, tin cậy cũng là một giải pháp không thể thiếu cho phát triển thành công ở thị trường này

Thứ bảy, ngoài kiến thức chuyên môn, cần coi trọng bồi dưỡng kiến thức phổ thông

cho người đi xuất khẩu lao động

Cần coi việc bồi dưỡng kiến thức phổ thông cần thiết cho lao động trước khi đi xuất khẩu nói chung và sang Nhật Bản nói riêng là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu, vì những chương trình này cung cấp cho người lao động những thông tin cơ bản về pháp luật Việt Nam và Nhật Bản (lao động, giao thông, ứng

xử nơi công cộng, ), ý thức tuân thủ pháp luật cũng như phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, văn hóa để giúp họ hòa nhập nhanh hơn với cuộc sống ở nơi họ sẽ tới làm việc cũng như giúp họ biết cách bảo vệ bản thân và tối đa hóa lợi

Đây cần được coi là những nội dung bắt buộc đối với những cá nhân, tổ chức doanh nghiệp có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và cần được thể chế hóa thành luật pháp của Việt Nam

5.3 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước

Một là, xây dựng nội dung, chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp với

yêu cầu về kỹ năng nghề, ngoại ngữ của của đối tác nước ngoài Nội dung đào tạo tập trung huấn luyện kỹ năng nghề cho người lao động và an toàn vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn xảy ra Hướng dẫn doanh nghiệp và cơ sở đào tạo căn cứ vào đặc điểm thị trường tiếp nhận lao động để rèn luyện tác phong lao động công nghiệp cho người lao động Ví dụ, đối với lao động đi làm việc ở Nhật Bản, phải rèn cho người lao động bỏ

thói quen ngủ trưa, đi làm việc đúng giờ, tác nghiệp phải chính xác, chỉ được thực hiện công việc khi đã hiểu rõ yêu cầu của người quản lý,…

Hai là, thí điểm đặt hàng đào tạo nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế đặt hàng, nội dung chủ yếu của đề án là nhà nước hỗ trợ 70% chi phí học nghề cho người lao động, doanh nghiệp hoặc người lao động chịu chi phí 30% còn lại, nếu người lao động đạt trình độ nghề theo quy định và được đối tác nước ngoài tiếp nhận Mục tiêu của đề án là khuyến khích người lao động học nghề trước khi đi làm việc ở nước ngoài nhằm tăng tỷ lệ lao động có nghề đi làm việc ở nước ngoài, tạo khả năng cạnh tranh

Trang 38

và từng bước xây dựng thương hiệu lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế

Ba là, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành

để chủ động đào tạo nguồn lao động đáp ứng kịp thời yêu cầu về số lượng và chất lượng lao động của chủ sử dụng lao động ngoài nước

Bốn là, nhà nước cần đầu tư xây dựng số Trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu đặt

tại các vùng, miền,

Năm là, nhà nước cần kêu gọi các nước có nhu cầu tiếp nhận lao động có nghề của

Việt Nam đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành, giáo trình, tài liệu giảng dạy và học tập, đào tạo chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy

Sáu là, về lâu dài, nhà nước cần quy định tiêu chuẩn nghề theo từng thị trường và kiểm định chất lượng lao động có nghề trước khi đi làm việc ở nước ngoài Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo nghề, ngoại ngữ cho lao động xuất khẩu giữa các cơ

sở đào tạo, doanh nghiệp

Cuối cùng, nhưng rất quan trọng, Chính phủ, trước hết là Bộ LĐ-TBXH, cần ban

hành các biện pháp cụ thể để giảm thiểu đến mức tối đa tình trạng bỏ trốn và vi phạm pháp luật của các lao động xuất khẩu tại Nhật Bản nói riêng và các bạn hàng nói chung

khai về cơ chế, chính sách, danh sách các công ty xuất khẩu lao động uy tín, tiêu chuẩn tuyển dụng lao động, thị trường xuất khẩu, tiêu chuẩn tuyển lao động, các loại phí,… để lao động biết, thực hiện và kiểm tra, nhằm tránh tình trạng lao động bị lừa gạt

tăng cường biện pháp chế tài, mạnh tay xử lý hình sự đối với các trường hợp lao động bỏ trốn Theo đó, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần có đại diện tại nước sở tại, phối hợp chặt chẽ với Đại sứ quán, Ban quản lý Cục Quản

lý Lao động nước ngoài cần phối hợp với chính quyền địa phương, an ninh cửa khẩu để nắm được thông tin khi lao động bỏ trốn về nước

(iii) Cần chú trọng công tác thông tin tuyên truyền, lên án hành động bỏ trốn, làm

cho người lao động hiểu rõ tác hại của hành động này Cung cấp các thông tin liên quan về công tác quản lý việc đưa người đi làm việc ở nước ngoài như: chính sách, nhu cầu tuyển dụng, hình thức xử phạt nếu vi phạm hợp đồng, …

để hiểu rõ hơn quyền lợi và nghĩa vụ trong thời gian làm việc ở nước ngoài, từ

đó hạn chế tình trạng vi phạm hợp đồng

(iv) Giải pháp lâu dài là quan tâm đến việc làm cho người lao động khi họ trở về

nước Đây là giải pháp bền vững, vừa tránh lãng phí nguồn nhân lực, vừa làm cho người lao động an tâm về việc làm và thu nhập, không chịu áp lực nặng nề trong thời gian làm việc ở nước ngoài

nghiệp xuất khẩu lao động Nhật Bản Các doanh nghiệp phải xây dựng được đội ngũ các bộ giỏi, năng động, đồng thời phải xây dựng cơ sở nghề nhằm chủ động trong việc tuyển chọn và đào tạo lao động

Với những biện pháp chính sách này, hy vọng vấn nạn thực tập sinh bỏ trốn và vi phạm pháp luật Nhật Bản sẽ giảm dần và không còn (Bảo Minh, 2018)

5.4 Trách nhiệm của người lao động

Trang 39

Người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài nói chung, ở Nhật Bản nói riêng, cần phải chủ động tìm hiểu pháp luật có liên quan, tham gia tích cực và có trách nhiệm các khóa bồi dưỡng kiến thức cần thiết do doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư đưa lao động xuất khẩu ra nước ngoài

Tóm lại, nếu thực hiện triệt để những nhóm giải pháp trên, lao động Việt Nam không

những duy trì và mở rộng được thị phần của mình một cách vững chắc trên thị trường lao động Nhật Bản, mà còn cải thiện được thương hiệu của mình trên thị trường này khó tính

và có tính cạnh tranh này

T ài liệu tham khảo

Bảo Minh (26/01/2018) Biện pháp giảm thiểu tối đa thực tập sinh Nhật Bản bỏ trốn ở

Nhật Bản đến mức thấp nhất Truy cập tại: https://tuvanvieclam.com.vn/bien-phap-

Nguyễn Mạnh Tuân (12/8/2014), Xuất khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản trong bối

cảnh mới: Thực trạng và giải pháp, Truy cập tại: http://www.inas.gov.vn/674-xuat-

khau-lao-dong-sang-thi-truong-nhat-ban-trong-boi-canh-moi-thuc-trang-va-giai phap.html

Nguyễn Tuyến (26/08/2020a), Lao động châu Á tại Nhật Bản - Bài 1: Đông Nam Á–

Nguồn cung lao động quan trọng, Truy cập tại: https://bnews.vn/lao-dong-chau-a-

tai-nhat-ban-bai-1-dong-nam-a-nguon-cung-lao-dong-quan-trong/167537.html, cập nhật ngày 26/8

Nguyễn Tuyến (26/08/2020b), Lao động châu Á tại Nhật Bản - Bài 4: Lao động Việt Nam

– Nguồn nhân lực chất lượng, Truy cập tại: https://bnews.vn/lao-dong-chau-a-tai-

nhat-ban-bai-4-lao- dong-viet-nam-nguon-nhan-luc-chat-luong/167555.html Thu Linh (25/12/2019), Tỷ lệ sinh tại Nhật Bản thấp kỷ lục trong 120 năm, Truy cập tại:

https://vnexpress.net/ty-le-sinh-tai-nhat-ban-thap-ky-luc-trong-120-nam-

4032574.html, cập nhật ngày thứ Tư, 25/12

Vinacom (n.d) Thị trường XKLĐ Nhật Bản nhiều cơ hội cho lao động Việt Nam Truy

cập tại: https://vinacomvietnam.vn/vi/tin- tuc-khac/1418008700-thi-truong-xkld- nhat-ban-nhieu-co-hoi- cho-lao-dong-viet-nam.html

VTC1 (19/09/2020) Trong 5 năm tới, Nhật Bản mở cửa đón thêm 345.000 lao động nước ngoài Truy cập tại: http://xkldnhat.org/tin-tuc/trong-5-nam-toi-nhat-ban-mo-cua- don-them-345-000-lao-dong-nuoc-ngoai

Trang 40

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO - THÁCH THỨC VÀ

CÁC GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TẠI

TP HCM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

Technological innovation and innovation - challenges and solutions on labor issues for businesses in Ho Chi Minh City in the context of the covid 19

và các khu vực quốc gia Trong đó, yếu tố con người - lực lượng lao động là một trong những yếu tố được quan tâm hàng đầu, cần có các biện pháp bảo vệ lực lượng này trước tác động to lớn của đại dịch Covid 19 gây ra, đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo là giải pháp được đưa ra nhằm thúc đẩy người lao động phải đạt được trình độ cao hơn, tiến bộ hơn Bằng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: thu thập dữ liệu thứ cấp, quan

trước, bài viết nêu lên tầm quan trọng của các yếu tố đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo - yếu tố cốt lõi và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong thời đại công nghệ 4.0 Bài viết cũng gợi lên một số vấn đề về lao động trong quá trình đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid 19 với các giải pháp theo định hướng vừa đảm bảo sự an sinh và ổn định xã hội - đem lại giá trị phát triển bền vững cho các doanh nghiệp

Từ khóa: Covid-19, doanh nghiệp, người lao động, đổi mới công nghệ, đổi mới

sáng tạo

Abstract

The Covid-19 pandemic has seriously and deeply affected enterprises; causing difficulties and reducing the competitiveness of enterprises, weakening the global economy, especially small and medium enterprises from developing countries and regions, but it seems to a “challenges” to the resilience and adaptation of enterprises and national regions In which, the human factor - the labor force is one of the factors that are of primary concern, it is necessary to take measures to protect this force against the great impact of the Covid-19 pandemic, technological innovation and creative innovation are solutions given to motivate employees to achieve higher and more advanced qualifications By practical research methods: collecting secondary data, observations, expert methods, meta-analysis and referencing previous surveys and studies, this paper raises the importance of the following factors: technological innovation, creative innovation - the core and decisive factors to the existence and development of enterprises

in the 4.0 technology era The paper also raises a number of

1 Trường Đại học Văn Hiến

Ngày đăng: 22/09/2022, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm