1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngữ văn 11 XUẤT DƯƠNG lưu BIỆT (phan bội châu) một số NHẬN ĐỊNH, lời BÌNH và tư LIỆU

16 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 252,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHAN BỘI CHÂU – XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT Chân dung người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu qua bài “Xuất dương lưu biệt” Trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương,hình tượng nhân vật trữ tình hiện l

Trang 1

PHAN BỘI CHÂU – XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT Chân dung người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu qua bài “Xuất dương lưu biệt”

Trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương,hình tượng nhân vật trữ tình hiện lên thật đẹp đẽ, hùng vĩ gắn với lý tưởng tự khẳng định mình và lòng yêu nước thiết tha:

Làm trai phải lạ trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai

Non sông dã chết sống thêm nhục

Hiền thánh làm chi học cũng hoài

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Bài thơ nguyên văn làm bằng chữ Hán có tên Xuất dương lưu biệt.Như ta đã biết, sau khi vận động thành lập hội Duy tân (1905) Phan Bội Châu tranh thủ viện trợ nước ngoài đào tạo cốt cán cho phong trào yêu nước Bài thơ được làm trong buổi chia tay với các đồng chí của mình trước khi tác giả lên đường Trên đây là bản dịch thơ của Tòn Quang Phiệt

Nhân vật trữ tình trong bài thơ có một khát vọng lớn lao:

Làm trai phái lạ trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

Ý thức cá nhân của con người ấy thể hiện rất rõ ‘Làm trai’ tức là ý thức về trách nhiệm của thân phận ‘Chí nam nhi nam bắc đông tây’ ‘Làm trai phải lạ trên đời! ‘ ‘Phái lạ’ là sao? ‘Phải lạ’ là phải có điều gì khác hẳn, vượt lên hẳn mọi thứ tầm thường trên đời Nói như Nguyễn Công Trứ thì đó là ‘Phải có danh gì với núi sông’ Phan Bội Châu đã ghi dấu ấn với sông với núi bằng khát vọng xoay trời chuyển đất: ‘Há để càn khôn tự chuyển dời’ Không để đất trời tựvần xoay, phải chế ngựsự biến dối ày bằng những hành động, việc làm xứng đáng với thân nam nhi

Kháng định chí làm trai, tiến thêm một bước là khẳng định một cái ‘Tôi’ kỳvĩ:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ

San nảy muôn thuở há không ai

Lời nói hùng khí ấy chỉcó thể thốt lên từ một bậc anh hùng Trong khoảng trăm năm cứa cuộc đời cần có ta gánh vác Câu thơ khẳng định vai trò cá nhân đối với vận mệnh đất nước và cũng là thể hiện một cái ‘tôi’ đầy trách nhiệm sẵn sàng gánh vác kế trăm năm nghiệp vuông trên của cơ đồ xã tắc Trong thời cuộc rối ren đẩu thế kỷ XX, khi bao kẻ chỉ chăm chăm ‘nằm co’ cho khuôn vừa thòi thế, sự vùng vẫy của cái tôi kia thật đáng trân trọng

Tin ở bán thân cái ‘tôi’, nhân vật trữ tình còn tin ở tương lai ‘sau này muôn thuở há không ai’ Sau này nghìn năm lại không có ai lưu danh muôn thuởvì dân vì nước hay sao? Cau thơ có dáng dấp một câu hỏi nhưng cũng là một câu khẳng định ắt sau này có người làm nên nghiệp lớn, lưu danh muôn thuởcứu dân cứu nước Đó không là ta thì sẽ là một người hậu thế Lời thơ bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai, đó giống như sự trao 2Ú’i lịch sử vào tay hậu thế

Bàn về chí lam trai, bàn về cái ‘tôi’ ở đời, nhà thơ đặt nhân vật trữ tình hoàn cảnh cụ thê cùa đất nước:

Non sòng đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh lùm chi học cũng hoài

Luận vế lẽsống chết ở đời để khẳng định, đề cao tư tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình * ‘Non sông

đã chết sống thêm nhục’ Nếu như chí làm trai gắn số phận kẻ làm trai với trách nhiệm xoay trời chuyển đất thì nước nhà có sa cơ ‘đã chết’ cái nhục thuộc vềsựsống kẻ làm trai Nhận trách nhiệm chung về mình,

đó là biểu hiện cao độ cùa lòng tự trọng con người ở đây lòng tự trọng được thể hiện ở nỗi đau mất nước, nỗi nhục quốc thể

Đặc biệt, tư tướng nhàn vật trữ tình đối vói nghiệp bút nghiên là một tư tưởng vô cùng mới mé ‘Hiền thánh làm chi học cũng hoài’ Tư tưởng ấy khẳng định: đạo Nho, chữ Nho, quan điểm nhà Nho (hiền thánh)

đã không còn hợp thời hợp thế Chúng không còn tác dụng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc Vậy, trong thời đại mới cần xếp bút nghiên nắm lây vũ khí mà tranh đấu cho lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng cá

Trang 2

nhàn Tư tưởng ày hết sức mới mẻ, táo bạo thoát ra khỏi lề lối sáo mòn gò ép của tư tưởng Nho gia thúc giục con người lên đường tranh đấu

Vậy lên đường tranh đấu bằng cách nào?

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Hình tượng nhân vật trữ tình không còn hiện lên trong khuôn khổ những tư tưởng ý chí mà vụt hóa thành con người của hành động Càu thơ khắc họa một cuộc tiễn đưa hào hùng của lịch sử Hình ảnh tư thế người ra đi vô cùng lớn lao kỳvĩ ‘vượt bể Đông theo cánh gió’ để ‘Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi’ Phải là

‘bể Đông’ ‘cánh gió’ mới xứng đáng với sự kỳvĩ của ước mơ người anh hùng ‘Muôn trùng sóng bạc’ của quê hương tiễn đưa người anh hùng ra đi vì chí lớn Bài thơ khép lại nhưng mớ ra hy vọng cho tương lai đất nước dựa vào cuộc ra đi hào hùng cua bậc anh hùng hào kiệt

Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ hiện lên ỏ nhiều phương diện: tư tưởng khát vọng, hành động Qua đó bộc lộ những quan điểm mới mẻ, tiến bộ về nhân sinh quan Bài thơ kết thúc ớ hình ảnh người

ra đi đẹp hào hùng gieo vào lòng người những đợi chờ hy vọng

Hóa thân vào nhân vật trữ tình của bài thơ, Phan Bội Châu thể hiện khát vọng ý chí cá nhân làm nên nhiều biến động đổi thay trong lịch sử ở nhà thơ, thơ là người và người cũng như thơ Nhắc đến thư để ta thêm muôn phần ngưỡng mộ con người nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu

Lưu biệt khi xuất dương” khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân Đó là sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước

Cái chí làm trai mà nhà thơ nói đến trong bài thơ trước hết là “phải lạ ở trên đời” Đó là một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao Đấng nam nhi phải làm được những việc lớn lao, phi thường, phải chủ động xoay chuyển trời đất, không để cho trời đất tự chuyển vần Nhà thơ chuyển chữ ta thành chứ tớ Tớ phản ánh được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung Hai câu thơ trên dường như có chút ngông nghênh tự phụ nhưng thực ra là sự bộc lộ sâu sắc về cái tôi cá nhân tich cực Cái tôi này chẳng những khảng đinh trách nhiệm đối với hiện tại, với vận mệnh hôm nay của đất nước mà còn khảng đingh nghĩa vụ với lịch sử Đó là tư thế của người có chí khí lớn, muốn vươn tới những đỉnh cao của lịch sử

Cái chí làm trai mà cụ Phan nói trong bài thơ chắc chắn khiến chúng ta thấy cảm phục về những con người sống ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với lịch sử

Mỗi con người sống là phải gắn liền với đất nước, dân tộc, biết sống chết cùng dân tộc Rõ ràng nhân vật trữ tình tuy đang nói về mình nhưng thực chất là tiếng nói đại diện cho cả một tầng lớp, một thế

hệ và cao hơn là cả dân tộc Cách nhìn nhận, suy nghĩ của tác giả là hướng về tương lai phía trước chứ không phải là lối sống hoài niệm Đây cũng chính là một điểm rất tiến bộ mà thông qua bài thơ chúng ta không chỉ cảm nhận được ý nghĩa của chúng mà còn học tập được vào thực tế cuộc sống của mình

Lời thơ kết của bài thơ với hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn Con đại bàng đã tung cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán, với giọng thơ trang nghiêm hào hùng mạnh mẽ, lôi cuốn đã toát lên một chí lớn phi thường không cam tâm làm nô lệ, quyết đi tìm đường cứu nước Đó không còn là lời nói mà đã biến thành hành động vượt bể Đông của ông Bài thơ là một khúc anh hùng ca kêu gọi lên đường cứu nước mang giá trị khích lệ động viên, tuyên truyền cách mạng không chỉ đối với thế hệ thanh niên ở giai đoạn đó mà còn là lời nhắn nhủ chung đối với thanh niên các thế hệ sau

Phan Bội Châu (1867 – 1940) là lãnh tụ kiệt xuất của các phong trào Duy Tân, Đông *** Việt Nam quang phục hội đầu thế kiX Ông là “bậc anh hùng, vị thiên sứ, được 25 triệu đồng bào tôn kính” (Nguyễn Ái Quốc) Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng hết lời ca ngoại Phan Bội Châu: “Miệng giọng cuốc vạch trời kêu giật một – giữa tầng không mù cuốn mây tan – tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba – đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ.”

Năm 1905, mở đầu phong trào Đông *** Phan Bội Châu xuất dương sang Trung Quốc, Nhật Bản tìm đường cứu nước Trong không khí chia tay với các đồng chí trong Hội Duy Tân, Phan Bội Châu sáng tác bài

“Xuất dương lưu biệt” (Lời để lại khi chia tay để ra nước ngoài) bằng chữ Hán

Mở đầu bài thơ, tác giả nêu lên quan niệm về chí nam nhi: “Sinh vi nam tử yếu vi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di” Tôn Quang Phiệt dịch là:

Trang 3

“Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời”

Phan Bội Châu nêu lên quan niệm về chí làm trai mà các nhà nho trứ danh đều đồng tình Nguyễn Công Trứ, trong bài thơ “Chí nam nhi” cũng từng nói: “Thông minh nhất nam tử, Yếu vi thiên hạ kì” Làm đấng nam nhi trên đời này phải làm điều kì lạ, kì tích để giúp đời, giúp dân, giúp nước Làm trai là phải tung hoành ngang dọc, dời non lấp bể:

“Há để càn khôn tự chuyển dời”

Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn nhu vậy Nội lực mạnh mẽ phi thường Con người muốn tham gia vào sự vận động của vũ trụ “Há để còn khôn tự chuyển dời” là câu hỏi tu từ vừa khẳng định vừa muốn đối thoại với hết thảy các đấng mày râu trên đời này Nhận thức về mối quan hệ giữa con người

và vũ trụ về sự tác động của con người đối với vũ trụ như vậy thật là tích cực, thật là cách mạng Câu thơ làm thức dậy nội lực của mỗi con người để họ tham gia cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Sau khi tỏ bày quan niệm về chí nam nhi, về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, tác giả nói về trách nhiệm của chính mình với thời đại của mình: “Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy” Hai câu thơ đó được Tôn Quang Phiệt dịch là:

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?”

Trong một nền văn học phi ngã (tôi) mà hiện lên một chữ “ngã” sừng sững, phải nói là “kì” (lạ)!

“Ư bách niên trung tu hữu ngã”

Nhận thức về sự hiện hữu của cái “tôi”, trách nhiệm của cái “tôi” đối với thời đại như vậy chẳng khác nào một ngọn lửa giữa đêm đông, một cây tùng giữa băng tuyết Không phải là cái “tôi” hưởng lạc mà là cái “tôi” hành động, cái “tôi” tham gia vào sự “chuyển dời” của “càn khôn” “Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được một ý thức về cái “tôi” như thể, quả là cứng cỏi, là đẹp vô cùng, cũng như có được một

ý thức lưu danh thiên cổ bằng sự cứu nước quả là cần thiết, là cao cả vô cùng” (Nguyễn Đình Chú)

Còn mối quan hệ giữa con người với muôn thuở thì tác giả lại đặt ra câu hỏi “Khởi thiên tài hậu cánh

vô thùy?” (Sau này muôn thuở há không ai?) Hỏi nhưng thật ra là để khẳng định Tác giả có niềm tin vào chính mình, lại càng có niềm tin vào cộng đồng, vào dân tộc Thơ Phan Bội Châu xói vào tâm can người ta, kích thích vào ý thức trách nhiệm của mỗi con người, giục giã con người hành động, chuyển dời tự nhiên, chuyển dời xã hội Đấy chính là thơ của một nhà cách mạng

Sang hai câu luận, tác giả càng riết róng hơn về mối quan hệ giữa con người với non sông đất nước, giữa cuộc sống thực tại với sách vở của thánh hiền:

“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”

(Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.)

Tác giả sử dụng thủ pháp nhân hóa “non sông đã chết” khiến ta cảm thấy “giang sơn” (non sông) như một sinh mệnh, thật đau lòng

“Non sông đã chết sống thêm nhục”

Nhiều nhà Nho thức thời cũng đã nói lên nỗi nhục mất nước, nhưng chưa có nhà Nho nào nói một cách triệt để, thống thiết như vậy Đem sự sống chết của cá nhân mà gắn liền với sự vinh nhục của non sông đất nước thì không còn nghi ngờ gì nữa, Phan Bội Châu là nhà ái quốc vĩ đại

Sách vở của thánh hiền cũng chẳng rửa được vết nhơ nô lệ:

“Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”

Câu thơ nguyên tác trực cảm mãnh liệt hơn “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”, (Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi) Viết như vậy thì đúng như cụ Huỳnh Thúc Kháng nói “đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ” Không nên hiểu là cụ Phan phủ định sách của thánh hiền, mà nên hiểu cụ Phan đã hành cái đạo của thánh hiền một cách sáng suốt, cái sáng suốt của một nhà cách mạng Mà có ông Khổng, ông Mạnh, ông Lão nào dạy các đệ tử ngồi “tụng” sách của quý vị trong khi nước mất dân nô lệ đâu?

Tóm lại, từ quan niệm sống “ư bách niên trung tu hữu ngã”, trong hai câu luận, tác giả tự dồn mình vào cái thế phải xuất dương cứu nước

Hai câu kết, tác giả thể hiện trọn vẹn chủ đề “xuất dương lưu biệt”

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Trang 4

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”,

(Muốn vượt biển Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)

Hình ảnh đẹp, lãng mạn “Muốn vượt biển Đông theo cánh gió”, không gian rộng lớn của biển Đông sánh với chí lớn của nhà cách mạng Câu thơ dịch hay, xứng với tinh thần của nguyên tác Nhưng câu kết “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” thì được cái tình của non nước đối với người ra đi, chứ không sát với nguyên tác

“Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

(Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên)

Hình tượng thơ làm hiển hiện trước mắt ta hàng ngàn đợt sóng sôi réo trắng xóa, lạ là không vỗ vào bở mà “nhất tề phi” (cũng bay lên) Hình tượng vừa kì vĩ vừa thơ mộng thể hiện được tinh thần phơi phới, nhiệt huyết, thăn hoa của nhà thơ mà cũng là nhà cách mạng

Muốn hiểu được nhà ái quốc vĩ đại Phan Bội Châu mà chưa đọc được hàng ngàn trang trước tác của cụ thì tốt hơn hết là đọc bài thơ “Xuất dương lưu biệt” Một bài thơ nhỏ cũng cho ta thấy được chí nam nhi của người anh hùng, thấy được chí lớn muốn dời non lấp bể, thấy được ý thức trách nhiệm của cái “tôi” đối với lịch sử, với dân tộc, thấy được quan niệm sống chết, vinh nhục, thấy được hoài bão lớn lao của một nhà chi sĩ muốn cứu dân cứu nước

“Mượn Đông du thăm hỏi bạn đồng tâm, Hương Cảng, Hoành Tân, lỏi len đường mới

Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trông gió cũng gai ghê

Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói.”

Đấy là mấy dòng Phan Bội Châu viết về Phan Châu Trinh, nhưng ta thấy hình ảnh của cả hai cụ Phan, hai tâm hồn yêu nước lừng danh trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, giai đoạn đầu của thế kỉ này Hoàn cảnh ra đời của bài thơ này là những năm đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã mất chủ quyền, hoàn toàn lọt vào tay thực dân Pháp Tiếng trống, tiếng mõ Cần Vương đã tắt, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo Phan Bội Châu lúc này mới ba mươi tám tuổi, là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, quyết tâm vượt mình, bỏ qua mớ giáo lý đã quá lỗi thời của đạo Khổng để đón nhận tư tưởng tiên phong trong giai đoạn, mong tìm ra bước đi mới cho dân tộc, nhằm tự giải phóng mình Phong trào Đông du được nhóm lên cùng với bao nhiêu hy vọng

Bài thơ đã thể hiện rất sinh động tư thế, ý nghĩ của Phan Bội Châu trong buổi xuất dương tìm đường cứu nước Hai câu đề nói rõ nhận thức của nhà thơ về chí làm trai - một nhận thức làm cơ sở cho mọi hành động:

Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời

Thực ra chí làm trai chẳng phải đến bây giờ mới được Phan Bội Châu khẳng định Trước đó, trong thơ trung đại, ta vẫn thấy Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ nhắc đến (ở các bài Thuật hoài, Chí nam nhi) Nhưng điều đó không có nghĩa là ở bài thơ của Phan Bội Châu, lý tưởng nhân sinh kia đã mất đi sự mới lạ, thôi thúc Nó chính là điều nung nấu bao năm của tác giả bây giờ được nói ra, trước hết như lời tự vấn, tự nhủ, tự mình nâng cao tinh thần mình: đã làm trai là phải làm nên chuyện lạ, đó là trời đất không để "tự chuyển dời" Đây là một tư tưởng táo bạo, cách mạng đối với người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình trong thời điểm ấy Với hai câu thực, nhà thơ tiếp tục khẳng định tư thế của kẻ làm trai giữa vũ trụ và trong cuộc đời:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ,

Sau này muôn thuở, há không ai ?

Ý thức về cái "tôi" đã hiện lên rõ ràng, không rụt rè, dè dặt Đó là nhân vật trữ tình đang tự đứng giữa cuộc đời một cách can đảm, do ý thức được sứ mệnh của mình trong lịch sử và cũng do sự thôi thúc của khát vọng lập công danh Hai câu luận nói về sự thực nhức nhối:

Non sông đã chết sống thêm nhục,

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

Đến hai câu này, ta cũng thấy nổi lên ý chí làm trai với khát vọng lưu danh theo một nội dung mới,

đó là ý thức về non sông đã mất chủ quyền, "hiền thánh" thần tượng một thuở giờ còn đâu nữa Hai câu thơ nhận định thực trạng lịch sử bằng một cái nhìn dứt khoát "Hiền thánh còn đâu học cũng hoài" - đây quả là một câu thơ thể hiện khí thế sục sôi của Phan Bội Châu, cho thấy cái nhìn tỉnh táo của ông về thời cuộc

Trang 5

Hai câu kết của bài thơ có cái khí thế gân guốc và ý thức được sự ra đi một cách sôi trào, đầy dũng khí:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

"Vượt biển Đông" là cách nói có vẻ khoa trương nhưng đó là hành động sắp diễn ra Người ra đi trong niềm hứng khởi vô biên "muôn trùng sóng bạc" tiễn chân như một yếu tố kích thích Đó chính là bạn đồng hành trong cuộc ra đi hùng tráng này

Xuất dương lưu biệt là một khúc hát lên đường Đề tài có tính chất truyền thống, nhưng tư tưởng lại rất mới mẻ Bài thơ mang âm hưởng lạc quan nên đã khiến cho cảm xúc thể hiện trong bài thơ có chiều sâu, có sức gợi cảm mạnh mẽ Đây là tráng ca của một vị anh hùng mà suốt đời không hề biết mệt mỏi trong hành động cứu nước thương dân

Tố Hữu đã từng viết trong bài thơ “Theo chân Bác” của mình:

“Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng

Bạn cùng ai đất khách dãi dầu”

Nhắc đến PBC là nhắc đến một nhà cách mạng yêu nước với hướng đi mới về độc lập dân tộc Với nhiều nhà văn, nhà thơ, sáng tác văn học là cuộc đời Nhưng PBC thì khác, ông dùng ngòi bút của mình như một công cụ để phục vụ cách mạng, thể hiện lòng yêu nước và cái “tôi” của người chí sĩ cách mạng Trong một bộ sưu tập đồ sộ những tác phẩm gắn liền với tinh thần dân tộc, nổi bật bài thơ “Xuất dương lưu biệt” – một sáng tác bộc lộ ước mơ lớn của ông ở nơi đất khách quê người Qua tác phẩm, ta còn thấy hình tượng nhân vật trữ tình được khắc họa rõ nét, phản ánh cả cuộc đời của một nhà Nho dám dũng cảm không đi theo lối mòn xưa cũ

Nhân vật trữ tình được hiểu là một cách bộc lộ tình cảm cảm xúc trong tác phẩm văn học, trực tiếp chính là tác giả, hay gián tiếp bằng cách tác giả hóa thân vào nhân vật trong thơ để thể hiện Đôi khi, nhân vật trữ tình chỉ biểu hiện qua câu thơ, ý chữ chứ không có đối tượng biểu đạt cụ thể Nhưng dù bằng cách này hay cách khác, đây cũng là một nét đẹp nghệ thuật trong thơ ca, được các nhà thơ thường sử dụng để diễn tả tâm trạng Với “Xuất dương lưu biệt”, nhân vật trữ tình không ai ngoài tác giả Nỗi niềm “dân là dân nước, nước là nước dân” của Phan Bội Châu qua từng ý thơ, nhịp điệu, biện pháp tu từ đều rõ ràng hơn bao giờ hết Là người khơi nguồn cho văn chương trữ tình cách mạng, sáng tác của ông – đặc biệt trong bài thơ này mang đến vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa hào hùng với tấm lòng sôi trào hi vọng cứu nước

Tấm lòng ấy thể hiện qua hai câu thơ đầu một quan niệm mới về chí làm trai và tầm vóc con người trong vũ trụ Là một đấng nam nhi “đầu đội trời, chân đạp đất”, người thanh niên phải sống sao cho phi thường, hiển hách Khó khăn, thử thách, gian nan cuộc đời đâu dễ làm chùng bước những con người nắm giữ vận mệnh núi sông Việc cần làm là đối mặt với chúng, xoay chuyển càng khôn, đổi dời thời thế, biến không thể thành có thể, chứ lẽ nào họ đi an phận, nhàn hạ ở quê nhà, ngày ngày trôi qua một cách tẻ nhạt, chán chường, buông xuôi số phận Điều đó được khẳng định qua cuộc đời của Phan Bội Châu – “vị anh hùng,

vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được mấy mươi triệu con người yêu quý” Vốn tài năng văn chương của ông quá đủ để ông ghi tên mình trong tiếng tăm lịch sử, nhưng ông tâm niệm việc cần làm nhất lúc bấy giờ chính là tìm ra con đường cứu nước mới, giải phóng dân tộc khỏi vòng nô lệ, khỏi khổ đau dưới ách thống trị đế quốc Ông cầm bút do yêu cầu cách mạng, xem đó như một việc phụ trợ cho công cuộc tuyên truyền, vận động, khơi dậy lòng yêu nước sâu thẳm chất chứa trog tim mỗi người, bởi một bài thơ luôn có sức thu hút hơn vạn lời kêu gọi Đó chẳng phải nhà thơ đã trực tiếp lấy bản thân mình làm minh chứng hùng hồn cho quan niệm mới về chí làm trai phải phục vụ Tổ quốc, nhân dân hay sao?

“Sinh vi nam tử yếu hi kì

Khẳng khứa càng khôn tự chuyển di”

Hai câu thơ trên với giọng thơ ngang tàng, khỏe khoắn, từ ngữ mạnh mẽ, bộc lộ bản lĩnh thách thức cuộc đời của người thanh niên trong thời đại mới

Là con người tồn tại, ai cũng gánh trên vai ít nhiều những trách nhiệm khác nhau Với người thanh niên cũng vậy Trách nhiệm của họ trước hết là phải luôn kết nối giữa con đường của mình và hướng đi của

Trang 6

quê hương, dẫn dắt Tổ quốc này đến một tương lai tươi sáng, thoát khỏi chuỗi ngày bị trị đau đớn, lầm than Đó cũng là vẻ đẹp của nhân vật trữ tình được thể hiện qua hai câu thực:

“U bách niên trung tư hữu ngã

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”

Bằng cách sử dụng phép đối “Ư bách niên trung” – “Khởi thiên tải hậu” và “hữu” – “vô”, tác giả vừa khẳng định vai trò của bản thân giữa cuộc thế, vừa nương theo một khát vọng chính đáng về sự tín nhiệm thế hệ mai sau Trong một trăm năm có ông tồn tại, cống hiến và giúp ích cho đời, đất nước đã có những bước chuyển quan trọng, tuy không hoàn toàn thoát khỏi ách đô hộ của thực dân nhưng phần nào làm cháy lên ngọn lửa hi vọng độc lập của nhân dân Rồi đây, khi con người không thể vượt qua cái gọi là “sinh, lão, bệnh, tử”, đất nước mất đi một nhân tài như ông thì liệu tương lai còn được trông đợi? Câu hỏi tu từ là

sự phân vân của tác giả, ông như cổ vũ tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ, đồng thời cũng gợi một chút lo lắng của mình cho quê hương Ở bản dịch thơ, chữ “ta” của bài thơ gốc được dịch thoát nghĩa thành “tớ” Từ

“tớ” này mang chút hóm hỉnh, lạc quan, có nét trẻ trung của thanh niên, nhưng lại thiếu đi sự nghiêm túc, mạnh mẽ, quan trọng khi khẳng định tư thế hiên ngang vào đời của câu thơ chữ Hán Đoạn thơ nói về ước

mơ cao cả và niềm tin của một con người sống với trách nhiệm lớn – cái “tôi” cá nhân vĩ đại sẵn sàng chịu trách nhiệm với bản thân và với non sông, đất nước

Vẻ đẹp của nhân vật trữ tình ở hai câu luận tiếp tục được diễn tả qua thái độ của tác giả trước hoàn cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ Phan Bội Châu sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan Dù không phải chứng kiến hằng ngày những trận chiến đẫm máu, tàn khốc hiện lên trước mắt, nhưng đối mặt với kiếp sống nghèo nàn của nhân dân, tiếng than, tiếng oán, tiếng hận như cứa vào tâm can nhà thơ Cũng như Trần Hưng Đạo từng viết: “ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa Chỉ căm tức chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.” Có lẽ, tác giả cũng từng đau rất nhiều vì hiện thực phũ phàng, xót xa:

“Giang sơn tử sĩ sinh đồ nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!”

Nỗi nhục này, ai sẽ thấu hiểu cho ông? Vinh và nhục – sống và chết, ranh giới mỏng manh đặt ra thử thách làm sao khôi dậy sự độc lập và hưng thịnh của nước nhà Sự tồn vong dân tộc như tảng đá đè nặng trong lòng, ngày nào chưa giành lại tự do, nhà thơ vẫn còn cảm thấy khổ sở Tấm lòng đó làm thổi bùng lên ý chí sắt thép của con người không cam chịu sống nô lệ, đúng với truyền thống đạo lí ngàn đời của ông cha ta Lúc bấy giờ, sách vở thánh hiền đã chẳng còn giúp ích được gì trong thời loạn lạc Nhà thơ bàn về việc học bằng cách tự giãi bày, bộc bạch, thẳng thắn đối diện với quan niệm đã lạc hậu rồi Phải thay đổi, vì chỉ có thế mới có được tư tưởng sáng suốt nhất, làm cương lĩnh cho sự nghiệp cứu nước khẩn cấp, cần thiết tức thì Bám vào học hành chỉ có lối mòn duy nhất, nay đã thành ngõ cụt, cũng sẽ không tránh khỏi lạc đường Tất nhiên, hướng đi mới chính là ánh sáng, là tương lai, là bộ mặt mới của quốc gia này

Cuối bài, tác giả kết thúc bằng hai câu thơ diễn tả tư thế và khát vọng hành động buổi lên đường

“xuất dương” sang xứ sở lạ:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

Các hình ảnh khoa trương, phóng đại được tác giả sử dụng làm thiên nhiên như hòa nhập vào con người, cùng đồng hành thực hiện lí tưởng lớn lao Các hình ảnh này trong bản dịch thơ là “bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc”, mang đầy vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, êm ả, bình lặng, giảm đi khí thế hùng mạnh, vĩ đại Ngược lại ở bài thơ chữ Hán, cụm từ “nhất tề phi” vẽ nên biểu tượng con người được chắp đôi cánh lớn bay lên vượt tầm thực tại, xuyên qua bầu trời thẳng đến vũ trụ bao la Qua đó, đọc giả cảm nhận được hai tầng nghĩa của cùng một câu thơ, vừa đẹp lãng mạn vừa mang tính sử thi Nếu như tính sử thi trong văn học trung đại gắn với vua, mang tính “trung quân ái quốc”, thì ở bài thơ này, tác giả đã kế thừa truyền thống văn học và nâng khuynh hướng này lên với văn học hiện đại, gắn với yếu tố cá nhân và cộng đồng Nét hiện đại này tạo hiệu quả tích cực, làm cho bài thơ thêm hấp dẫn và phát huy mục đích cổ vũ lẽ sống tích cực ở thế hệ trẻ: sống để phục vụ Tổ quốc, nhân đân

Vào những năm đầu thế kỉ XX, khi nước nhà lâm vào chế độ thực dân nửa phong kiến, có một nhà chí sĩ cách mạng đã lãnh tụ nhiều phong trào cứu nước mới Bài thơ “lưu biệt khi xuất dương” là lời giã từ của người trước khi lên thuyền đến nơi chân trời mới Bài thơ mang tư tưởng tiếp nối truyền thống yêu nước

Trang 7

trong văn học trung đại, lại mở ra nhiều ý độc đáo, đặc biệt mà văn học hiện đại đang trong quá trình khai thác Sự hòa quyện, tổng hợp ấy làm nổi bật lên vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình trong bài Tác phẩm đã hoàn thành tốt vai trò, mục đích của nó khi khích lệ những thanh niên tran đầy nhiệt huyết tham gia con đường giải phóng dân tộc, đi theo tiếng gọc quê hương và thực hiện trách nhiệm “làm trai” giữa đời như Nguyễn Công Trứ từng nói:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

-

Trong lí luận văn học, người ta thường quan niệm nhân vật trữ tình là hình tượng văn học trực tiếp thổ lộ những cảm xúc, tình cảm, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, ngôn ngữ, hành động cụ thể, chi tiết như nhân vật tự sự Trong một bài thơ trữ tình, nhân vật trữ tình có thể là chính tác giả, cũng có thể là nhà thơ hóa thân vào nhân vật khác, tạo thành nhân vật trữ tình nhập vai Ở bài Lưu biệt khi xuất dương, nhân vật trữ tình chính là nhà thơ - nhà chiến sĩ cách mạng Phan Bội Châu Bởi vậy, nói đến vẻ đẹp của nhân vật trữ tình trong bài thơ này cũng tức là nói đến vẻ đẹp tâm hồn của tác giả

Sinh thời, Phan Bội Châu rất tâm đắc câu thơ của Viên Mai (Trung Quốc):

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương

Có thể tạm dịch là:

Mỗi bữa không quên ghi sử sách, Lập thân hèn nhất ấy văn chương

Như thế cũng có nghĩa là Phan Bội Châu không muốn lấy văn chương làm lẽ sống Nhưng do yêu cầu của cách mạng, trong hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã sử dụng cả chữHán lẫn chữ Nôm, sáng tác một khối lượng tác phẩm đồ sộ, gồm hàng trăm bài thơ, bài văn và hàng chục cuốn sách, bằng nhiều thể loại khác nhau Trong đó, bài thơ Lưu biệt khi xuất dương là một trong những tác phẩm tiêu biểu, vẻ đẹp của bài thơ này trước hết là vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình - tác giả

Thơ Phan Bội Châu phản ánh cuộc đời cách mạng của nhà chí sĩ lúc lạc quan đắc ý, lúc thất bại đau buồn Bởi vậy, khi phân tích thơ văn của ông không thể không tìm hiểu kĩ hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm Nói ở phạm vi hẹp hơn, ta chỉ có thể hiểu được vẻ đẹp của nhân vật trữ tình trong bài Lưu biệt khi xuất dương nếu hiểu được kĩ lưỡng hoàn cảnh ra đời của bài thơ này

Vào cuối thế kỉ XIX, sau cái chết oanh liệt của Cao Thắng và của Phan Đình Phùng, phong trào cần Vương đã thất bại Dẫu trên rừng Yên Thế (thuộc địa phạn tỉnh Bắc Giang) vẫn còn đì đoàng tiếng súng của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, nhưng thực chất, giặc đã làm chủ tình thế Dần dần, chúng đặt ách đô

hộ lên cả ba kì Đất nước ta lúc này thật là tăm tối "Câu chuyện "Bình Tây phục quốc" tưởng chỉ là một mớ

kí ức tê tái" (Đặng Thai Mai) của người Việt Nam Nhưng rồi, nhờ truyền thống quật cường của dân tộc, nhờ ảnh hưởng của "tân thư" từ nước ngoài , đến những năm đầu thế kỉ XX, cả một lớp nhà nho đầy nhiệt huyết

đã thức tỉnh với những phong trào: Duy Tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, chống thuế ở Trung Kì Họ tập hợp nhau lại, bất liên lạc với những lực lượng chống Pháp ở trong nước Nhiều cậu học sinh cắt nghiến búi tóc trên đầu, quyết tâm đoạn tuyệt với lối học cử tử để đi tìm lí tưởng mới Họ thoát li gia đình và xuất dương, đi Tàu, đi Nhật, đi Xiêm — "tất cả chí hướng của thế hệ trí thức yêu nước đã nhằm vào một mục tiêu

vĩ đại: "khôi phục nước nhà" (Đặng Thai Mai) Trong bối cảnh ấy, năm 1905, Phan Bội Châu cùng với Tiểu La Nguyễn Thành lập tổ chức Duy Tân hội Sau đó, theo chủ trương của hội, Phan Bội Châu chia tay bè bạn sang Trung Quốc và Nhật Bản, tranh thủ sự giúp đỡ của những nước này đối với phong trào cách mạng Việt Nam

Trước khi lên đường, vào lúc chia tay, Phan Bội Châu đã sáng tác bài Xuất dương lưu biệt (có nghĩa là: Để lại lúc từ biệt ra nước ngoài) bằng chữ Hán theo thể thất ngôn bát cú Đường luật Bài thơ này đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi và được dịch ra tiếng Việt Bản dịch của Tôn Quang Phiệt là bản dịch khá thành công, tuy có một vài chỗ chưa lột tả hết tinh thần nguyên tắc

Bài Lưu biệt khi xuất dương thể hiện rõ tư thế hào hùng, sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới

mẻ của nhân vật trữ tình - nhà cách mạng Phan Bội Ghâu buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước

Mở đầu bài thơ, nhân vật trữ tình trực tiếp thể hiện một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao Là đấng nam nhi sinh ra ở đời thì phải làm được những việc lớn lao phi thường (điều lạ) phải chủ động xoay chuyến

Trang 8

đất trời, không thể để cho trời đất tự chuyển vần (Há để càn khôn tự chuyển vần) lấy sao? Ý tưởng táo bạo này có lần đã được họ Phan nhắc đên với thái độ đầy lạc quan trong bài Chơi xuân:

Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi, Sinh thời thế phải xoay nên thời thế

Đúng là làm trai, khát vọng được làm những việc to lớn vốn được Phan Bội Châu tâm niệm từ rất sớm Sau này, ông đã kể lại trọng một tác phẩm tự thuật: "Từ lúc bé đọc sách hiểu được ít nhiều nghĩa lí vẫn không thiết gì sống theo thói thường như người xung quanh" (Phan Bội Châu niên biểu) Nhưng cũng phải đến những năm đầu thế kỉXX, khi họ Phan có điều kiện xuất dương cứu nước, khát vọng làm trai trong con người này mới được thể hiện đầy đủ Thực ra, từ xa xưa, chí làm trai đã thường được nói đến trong văn học Phạm Ngũ Lão — một viên tướng lừng danh thời Trần đã từng đánh đông dẹp bắc, vẫn thấy chưa trả xong "món nợ" của kẻ làm trai và cảm thấy thẹn thùng khi nghe chiến tích của Khổng Minh Gia Cát Lượng:

Công danh nam tử còn vương nạ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu

(Thuật hoài) Trong buổi "giã nhà" cùng ba quân ra chiến trường, hình ảnh người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn dường như đẹp hơn, hùng dũng hơn:

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

Và Nguyễn Công Trứ cũng đã không chỉ một lần tâm niệm:

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông

(Đi thi tự vịnh)

"Chí làm trai" là tư tưởng rất đáng trân trọng, là sức mạnh tinh thần giúp cho nhiều người lập nên những công tích vang dội, có ích cho đất nước, cho xã hội Đối với Phan Bội Châu, thực hiện chí nam nhi chính là chủ động tiến hành sự nghiệp cứu nước Trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ như đã trình bày ở trên, việc khẳng định chí nam nhi càng có ý nghĩa cao cả

Đến hai câu thực, ý tưởng của nhân vật trữ tình được triển khai rõ hơn: "Giữa khoảng trăm năm này cần phải có ta chứ, chẳng nhẽ ngàn năm sau lại không có ai (để lại tên tuổi) ư?" Người xưa quan niệm một kiếp người là một trăm tuổi Do đó, "giữa khoảng trăm năm" có nghĩa là cuộc sống một cá nhân trong thực tại Còn ngàn năm sau là nói đến lịch sử, nói đến tương lai Câu đầu của phần thực, người dịch chuyển chữ

ta thành chữ tớ Tớ nói được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung, nhưng lại làm mất đi sự trịnh trọng đường hoàng không thật phù hợp với nội dung của đoạn thơ: long trọng tuyên bố về một lẽ sống, một tư thế vào đời của đấng tu mi nam tử Hơn nữa, câu thơ dịch thanh thoát đọc êm tai, nhưng lại làm mất đi âm điệu chắc nịch, nói như "đinh đóng cột" của tác giả Hai câu thơ trên thoạt xem dường như có chút ngông nghênh

tự phụ, thực ra là bộc lộ ý thức sâu sắc về cái "tôi" cá nhân tích cực Cái "tôi" này chẳng những khẳng định trách nhiệm đối với hiện tại, tức là đối với vận mệnh hôm nay của đất nước, mà còn khẳng định nghĩa vụ đối với lịch sử muôn đời Thật là tư thế của con người có chí khí lớn, muốn vươn tới đỉnh cao của lịch sử, phóng tầm mắt tới nghìn đời sau Tư thế ấy càng được khẳng định hiên ngang hơn nữa ở hai câu luận:

Non sông đã chết, sống chí nhục Hiền thánh đã vắng thì đọc sách cũng ngu thôi

Ở con người này, số phận gắn làm một với số phận đất nước, sống chết cùng non sông, vinh nhục cùng Tổ quốc, ở con người này dường như không có chút băn khoăn về quan hệ cá nhân, quan hệ đời tư Một tư thế sử thi hùng vĩ biết bao!

Ở đây, nhân vật trữ tình tuy nói về mình nhưng cũng là nói cho cả một thế hệ, cả một dân tộc đang chuyển mình theo một lí tưởng cứu nước mới, phù hợp với thời đại

mới Hiền thánh đã chết, kinh sử mất thiêng, nhà thơ dứt khoát hướng thẳng về tương lai, đầy lạc quan tin tưởng

Bài thơ kết bằng hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn:

Muốn vượt, biển Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Đúng là con đại bàng cất cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại Hình ảnh thơ, nếu hiểu đúng như nguyên tắc, còn lãng mạn và hào hùng hơn nữa:

Trang 9

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

(Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên)

Lưu biệt khi xuất dươnglà bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách Phan Bội Châu ở giai đoạn đầu của cuộc đời cách mạng, khi ông xuất dương ra đi cứu nước theo đường lối cách mạng mới mà ông xiết bao tin tưởng Bài thơ mang khẩu khí của bậc trượng phu đội trời đạp đất Cái hay của bài thơ xuất phát từ vẻ đẹp của nhân vật trữ tình với khát vọng làm nên sự nghiệp lớn lao, với khí thế hăm hở và "một

dự cảm mới mẻ" (Nguyền Huệ Chi) Bởi vậy, bài thơ có giá trị khích lệ, động viên, tuyên truyền cách mạng mạnh mẽ, nhất là đối với thế hệ thanh niên yêu nước hồi đầu thế kỉ XX

Từ xưa đến nay, văn học luôn là tấm gương phản ánh khách quan bộ mặt đất nước và hiện thực

xã hội Trong xã hội phong kiến, văn học trung đại với những tác giả và tác phẩm tiêu biểu đã thổi bùng lên những tình cảm, ý thức, tư tưởng của con dân Việt Nam để xua tan màn đêm tăm tối Với hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”, nhà thơ Phan Bội Châu đã mang đến một luồng gió mới mẻ trong nhận thức của những con người yêu nước

Phan Bội Châu, nhà thơ, nhà cách mạng lớn của dân tộc thường được gọi với cái tên trìu mến “ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu là người khơi dòng chảy cho loại văn chương trữ tình chính trị Thơ văn của ông có sức chiến đấu mạnh mẽ, "đọc thơ văn Phan Bội Châu, lí trí chưa kịp nhận thức và tán thành thì ngó lại, trái tim đã bị nó hoàn toàn chinh phục rồi" Giá trị của thơ văn Phan Bội Châu chính là ở cảm xúc cách mạng chân thành, sôi nổi Ông nói thẳng và cổ vũ trực tiếp cho cách mạng Bài thơ Xuất dương lưu biệt thể hiện những nét đặc sắc của phong cách thơ tuyên truyền vận động cách mạng của Phan Bội Châu Năm 1905, sau khi Duy tân hội được thành lập, Phan Bội Châu nhận nhiệm vụ xuất dương sang Nhật để đặt cơ sở đào tạo cốt cán cho phong trào cách mạng trong nước Xuất dương lưu biệt được sáng tác trong buổi chia tay lên đường Bài thơ đăng lần đầu trên tạp chí Binh sự Hàng Châu số 34 tháng 2 năm

1917 Bài thơ đã gây xúc động trong lòng bạn đọc bởi ý thức trách nhiệm giải phóng đất nước ra khỏi ách thực dân của tác giả Và đặc biệt hơn cả, hình tượng nhân vật trữ tình đầy mới mẻ trong bài thơ đã giúp bài thơ tỏa sáng rực rỡ,:

Sinh vi nam tử yếu hi kì

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di

Ư bách niên trung tu hữu ngã

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ trung đại là phương thức bộc lộ ý thức nhà thơ Nhân vật trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả Nhân vật trữ tình là hình tượng khái quát như một tính cách văn học được xây dựng trên cơ sở lấy sự thật của tiểu sử tác giả làm nguyên mẫu, là hình tượng để nhà thơ thổ lộ tình cảm chân thành của mình trong những tình huống trữ tình Tuy nhiên, nhân vật trữ tình trong thơ thống nhất nhưng không đồng nhất với cái tôi nhà thơ, là hình tượng trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, tình cảm Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” đã khắc họa được hình tượng nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp riêng, thể hiện tư tưởng, tình cảm cũng như ý thức cá nhân của Phan Bội Châu

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ ràng quan niệm của mình về chí làm trai của nhân vật trữ tình Cái chí làm trai mà nhà thơ nói đến trong bài thơ trước hết là “phải lạ ở trên đời” Đó

là một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao Đấng nam nhi phải làm được những việc lớn lao, phi thường, phải chủ động xoay chuyển trời đất, không để cho trời đất tự chuyển vần Chí làm trai cũng đã được đề cập trong rất nhiều bài thơ cùng thời kì :

Chí làm trai nam bắc đông tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

(Nguyễn Công Trứ - Chí khí làm trai)

Hay trong bài thơ “Tỏ lòng” của nhà thơ Phạm Ngũ Lão:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Trang 10

Vẫn tiếp tục thể hiện chí làm trai của văn học truyền thống nhưng Phan Bội Châu đã mang đến cho chí khí ấy một sắc màu, một khí thế mới, hiện đại hơn.Làm đấng nam nhi trên đời này phải làm điều kì

lạ, kì tích để giúp đời, giúp dân, giúp nước Làm trai là phải tung hoành ngang dọc, dời non lấp bể: Ở câu thứ hai, Phan Bội Châu viết “Há để càn khôn tự chuyển dời” Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới phát ngôn như vậy Nội lực mạnh mẽ phi thường Con người muốn tham gia vào sự vận động của vũ trụ “Há để càn khôn tự chuyển dời” là câu hỏi tu từ vừa khẳng định vừa muốn đối thoại với hết thảy các đấng mày râu trên đời này Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ về sự tác động của con người đối với

vũ trụ như vậy thật là tích cực, thật là cách mạng Câu thơ làm thức dậy nội lực của mỗi con người để họ tham gia cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Nhà thơ chuyển chữ “ta” thành chữ “tớ” ở câu thơ thứ ba “Tớ” phản ánh được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung Hai câu thơ trên dường như có chút ngông nghênh tự phụ nhưng thực ra là sự bộc lộ sâu sắc về cái tôi cá nhân tích cực Cái tôi này chẳng những khẳng đinh trách nhiệm đối với hiện tại, với vận mệnh của đất nước mà còn khẳng định nghĩa vụ với lịch sử Đó là tư thế của người có chí khí lớn, muốn vươn tới những đỉnh cao của lịch sử Cái chí làm trai mà cụ Phan nói trong bài thơ chắc chắn khiến chúng ta thấy cảm phục về những con người sống ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với lịch sử Mỗi con người sống là phải gắn liền với đất nước, dân tộc, biết sống chết cùng dân tộc Rõ ràng nhân vật trữ tình tuy đang nói về mình nhưng thực chất là tiếng nói đại diện cho cả một tầng lớp, một thế hệ và cao hơn là

cả dân tộc Cách nhìn nhận, suy nghĩ của tác giả là hướng về tương lai phía trước chứ không phải là lối sống hoài niệm Đây cũng chính là một điểm rất tiến bộ mà thông qua bài thơ chúng ta không chỉ cảm nhận được ý nghĩa của chúng mà còn học tập được vào thực tế cuộc sống của mình

Dầu sao trong bốn câu đầu này chỉ mới nói đến điều phải “lạ”, mà chưa nói rõ “việc lạ” cần làm là gì? Bốn câu tiếp theo sẽ dần dần làm sáng lên điều đó Hai câu luận là một sự nhìn nhận phi thường:

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si

Câu trên đã gợi ra một thực tại đau lòng của nước ta: Khi chủ quyền đã về tay kẻ ngoại bang, thì non sông xem như đã chết Sống mà không có quyền làm chủ là sống nhục Bốn chữ “giang sơn tử hĩ” chất đầy đau đớn và phẫn uất Phan Bội Châu không phủ nhận nho học, đạo lí Khổng Mạnh nhưng cần phải biết rằng : Hiền thánh đã vắng bóng thì có đọc sách cũng ngu thôi! Người con trai sống mà không làm gì cho đất nước thì chỉ thêm nhục Bởi đó là nhắm mắt quay lưng cho “càn khôn tự chuyển đi”, là phó mặt mình cho đời xoay vần Tất cả những gì thiêng liêng xứng đáng với một bậc nam tử coi như đã chết Nhà thơ chối bỏ phương pháp học cũ, lối học từ chương, một nền học cũ còn thiếu về khoa học, nặng lí thuyết, nhẹ thực hành Chối bỏ nền học vấn cũ đầy tinh thần cách mạng Đọc hai câu thơ của Phan Sào nam mà ngỡ như nghe đâu đây giọng thơ của Nguyễn Khuyến :

Sách vở ích gì cho buổi ấy

Nhưng vẫn rất khác Thơ Nguyễn Khuyến ngậm ngùi mà hoài nghi, hoài nghi ích lợi của sách vở, hoài nghi cái học của ngày xưa Còn thơ Phan Bội Châu phủ định “tụng diệc si” Phan Bội Châu không phủ nhận đạo lí thánh hiền, không hoài nghi tư tưởng Khổng Mạnh vì bối cảnh của nhà thơ khác với Nguyễn Khuyến lúc ấy Với Tam nguyên Yên Đỗ, ông chọn con đường về ở ẩn nên bị giằng xé, vì thế dẫn đến hoài nghi Phan Bội Châu lại chọn con đường khác, ông là con người cách mạng đầy nhiệt huyết, khao khát cách tân đất nước, phủ nhận những cái cũ đầy triệt để và mạnh mẽ Ông đưa ra một lí lẽ vô cùng xác đáng : cái học cũ không mang đến cho thế hệ mới cách nhìn đầy đủ để xây dựng đất nước Vì thế, kẽ sĩ hiện đại phải có hành động xứng đáng Hành động kiệt xuất phi thường ấy bây giờ chính là: Xuất dương tìm đường cứu nước

Đứng trước thực tại của xã hội như thế, Phan Bội Châu đã quyết tâm nói lên tiếng nói của mình:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Câu thơ gợi ta nhớ đến tư thế của con chim lớn trong thơ Quận He:

Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán,

Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu không còn là một hình ảnh ước lệ nữa Phong trào Đông Du mà ông là người chủ trương và việc xuất dương mà ông là người khởi sự chính là những hành động phi

Ngày đăng: 22/09/2022, 10:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w