Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ “cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình
Trang 1Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành) MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH, LỜI BÌNH VÀ TƯ LIỆU
1 Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn
Nguyễn Trung Thành là nhà văn có duyên nợ gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên Qua hai cuộc kháng chiến cùng vào sinh ra tử với những người dân nơi đây đã cung cấp cho Nguyễn Trung Thành một vốn hiểu biết vô cùng sâu rộng về mảnh đất âm vang rộn tiếng cồng chiêng trong mùa lễ hội, nơi có những người con trung dũng, kiên cường Nếu trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Trung Thành - bút danh Nguyên Ngọc nổi tiếng cùng “Đất nước đứng lên”; thì trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là những năm 1965 khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam đang diễn ra gay go ác liệt thì Nguyễn Trung Thành cho ra mắt người đọc truyện ngắn “Rừng xà nu” Tác phẩm này đã là một bản hùng ca, ca ngợi cuộc sống và con người Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh vĩ đại Và nổi bật hơn cả trong tác phẩm chính là hình tượng cây xà nu
Cây xà nu là một hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành Xuyên suốt trong tác phẩm ta bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời Cây xà nu là một loài cây quen thuộc, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Tây Nguyên
“Củi xà nu cháy trong mỗi bếp lửa gia đình, khói xà nu nhuộm bảng đen cho con trẻ học chữ, đuốc xà
nu rọi sáng sân nhà Ưng trong những đêm lễ hội ” Tất cả mọi hoạt động dù lớn dù nhỏ của người dân Tây Nguyên đều có sự góp mặt của cây xà nu Sự sống của dân làng Xô Man đều gắn liền với những cánh rừng xà nu Khi Nguyễn Trung Thành viết : “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở
gà gáy Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn”, nhà văn đã phản ảnh không khí căng thẳng của thời đại, gợi lên sự đối mặt quyết liệt giữa sự sống và cái chết Nổi bật trên nền bối cảnh ấy, Nguyễn Trung Thành đã đi sâu miêu tả những đặc điểm nổi bật của câu xà nu Cũng như bao loài cây khác, cây xà nu là một loài cây ham ánh sáng và khí trời “trong rừng
ít có loài cây nào sinh sôi nảy nở khoẻ đến vậy ít có loài cây nào ham ánh sáng đến thế” cũng có nghĩa
là ham sống, khao khát muốn được vươn lên giữa bầu trời cao rộng
Thế nhưng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, cũng như bao cánh rừng khác của Việt Nam, rừng xà nu đã bị tàn phá rất dữ dội “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm lại đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn” Tuy vậy, bất chấp mọi sự tàn phá huỷ diệt của chiến tranh, cây xà nu vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt “cạnh cây mới ngã gục đã có bốn, năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” Tư thế vươn lên mạnh mẽ ấy của cây xà nu như để thách thức với bom đạn của chiến tranh “đố chúng nó giết được cây xà nu đất ta” Sức sống mãnh liệt đã giúp những cánh rừng xà nu vươn lên trong một màu xanh, hiện lên hiên ngang, kiêu dũng như một tráng sĩ
“cứ thế hai ba năm sau, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng Xô man”
Bằng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, Nguyễn Trung Thành đã dựng lên thật thành công và
rõ nét, ấn tượng về hình tượng cây xà nu Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trung Thành còn đặt hình tượng cây xà nu vào trong quan hệ đối chiếu sóng đôi với con người mảnh đất Tây Nguyên Nếu cây xà nu là một loại cây ham ánh sáng và khí trời, thì người dân Tây Nguyên yêu tự do, tin vào Đảng, đi theo bước chân cách mạng như muôn cây vẫn hướng vào ánh sáng mặt trời Nếu cây xà nu bị tàn phá, huỷ diệt bởi đạn bom, khói lửa thì những người dân Tây Nguyên phải chịu bao đau thương mất mát do chính kẻ thù gây ra Bao nhiêu người bị giặc giết chết như những cây xà nu bị chặt đứt ngang nửa thân mình, bao nhiêu người còn sống mà phải mang trong mình bao nỗi thương đau Bằng cách miêu tả hình ảnh cây
và người trong quan hệ sóng đôi như thế, Nguyễn Trung Thành đã khắc sâu tội ác dã man của kẻ thù để qua đó tác giả giúp ta hình dung rõ hơn những thảm cảnh dân ta phải chịu do bọn giặc gây ra
Trang 2Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Cũng giống như những cánh rừng quê hương, như những con người Việt Nam vẫn ý thức được rằng:
“Gươm nào chia được dòng Bến Hải
Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn
Căm hờn lại giục căm hờn
Máu kêu trả máu đầu van trả đầu”
Các thế hệ nhân dân Tây Nguyên đã thay nhau tiếp nối đứng lên ánh sáng của niềm tin “Đảng còn thì núi nước này còn” đã soi đường chỉ lối cho những bước chân đến với cách mạng Thế hệ này ngã xuống, thế hệ sau tiếp nối đứng lên; anh Sút bà Nhan bị giặc giết, đi thay họ tiếp tế nuôi quân đã có T Nú
và Mai Cứ như thế, các thế hệ người Tây Nguyên đã thay nhau giữ vững ngọn lửa truyền thống, thay nhau giữ vững ý chí đánh giặc kiên cường, để giữ làng, giữ nước của dân làng Xô man nói riêng và của người Tây Nguyên nói chung
Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trung Thành, cây xà nu hiện lên sừng sững, đồng hành với những bước đi, cuộc sống của dân làng Xô man Gắn bó với cánh rừng anh dũng, kiêu hùng, những người dân Tây Nguyên như được tiếp thêm sức mạnh để đứng lên chiến đấu Và gắn bó với con người Tây Nguyên ân tình, thuỷ chung, trung dũng như thế Cây xà nu cũng luôn luôn sánh bước cùng họ để họ có cuộc sống bình yên hơn; để “hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào những ngọn đồi xà nu, cạnh con nước lớn” chứ không nhằm vào những người dân vô tội lầm than
Cây xà nu là hình tượng mang đậm chất lý tưởng, tiêu biểu cho phẩm chất, số phận của người dân Tây Nguyên Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm mang đậm chất sử thi, tính hào hùng, nó làm rõ chủ đề tư tưởng của truyện ngắn “Rừng xà nu” Để xây dựng một hình tượng xà nu như thế, Nguyễn Trung Thành đã sử dụng những câu văn miêu tả, những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc đặc sắc, cùng nghệ thuật so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, giọng văn miêu tả trong tác phẩm rất linh hoạt
Có đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp hình tượng cây xà nu Hình tượng này đã góp phần tạo nên một “Rừng xà nu” trọn vẹn, mang đậm giá trị văn học Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc./
2 Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu đều là những truyện ngắn hay đã khám phá, ca ngợi
vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên!
Hình ảnh những con người Việt Nam ấy đã đi vào thơ ca như một niềm thơ lớn và trở thành phầm hồn của mỗi người con đất Việt Yêu biết mấy hình ảnh những người dân quê tôi: cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu Văn thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ đã dựng lại cả một thời kì máu lửa, đi sâu tìm tòi, khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người Tôi nhớ mãi một Tnú, cụ Mết trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành; chị Chiến, anh bộ đội tên Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
; và cô Nguyệt - người con gái trẻ tuổi, dũng cảm trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Họ
là hiện thân của vẻ đẹp con người Việt Nam, của sức sống dân tộc Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên, nhắc nhở ta về một quảng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước mình đã đi qua Để rồi mỗi lần đọc lại, tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân mình đẹp quá, dũng cảm quá ; và lòng tôi tưởng như được sống lại những ngày còn chiến tranh, bom đạn ấy
Đọc Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, hiện lên một tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến đấu với kẻ thù để giữ từng tất đất, ngôi nhà cho quê hương đất nước Viết về đề tài chiến
Trang 3Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
tranh, cả ba nhà văn không đi sâu vào miêu tả những đau thương, mất mát của mình hay tội ác tày trời của giặc Mĩ mà đi vào khám phá, ca ngợi vẻ đẹp con người Việt Nam trong chiến tranh Tôi còn nhớ một câu nói của nhà văn nổi tiếng : Con người, tất cả ở con người Có thể huỷ diệt được cuộc sống của con người nhưng không thể chiến thắng được nó Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu viết về con người phải chăng cũng có một lòng tin như thế ? Hình ảnh cụ Mết, anh Tnú, Việt, chị Chiến, Nguyệt và còn biết bao người nữa hiện ra trong cảnh sống chết từng giây, mưa bom bão đạn mà vẫn hiên ngang, sáng lên một vẻ đẹp phẩm chất lạ thường Họ là kết tinh của vẻ đẹp dân tộc, sức sống dân tộc Những con người yêu nước thiết tha, chiến đấu dũng cảm quên mình vì Tổ quốc ấy lại rất đỗi giản
dị, sáng trong, gắn bó với từng làng bản, thôn xóm Bên cạnh phẩm chất anh hùng Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng còn sáng ngời lên một tình yêu chung thuỷ, sắt son đầy màu sắc lãng mạn Các tác phẩm thời kì này đều đi vào khắc hoạ phẩm chất đẹp đẽ của con người Việt Nam với giọng điệu ca ngợi, hào hùng vang vọng không khí của sử thi hoành tráng Ba tác phẩm đã dựng nên một tác phẩm anh hùng, nhiều thế hệ giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, trong đó mỗi nhân vật đều có một vẻ đẹp riêng, một tâm hồn riêng, một cái “tôi” riêng hoà chung với cái ta rộng lớn
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một truyện ngắn xúc động, hào hùng về cuộc đấu tranh anh dũng của dan làng Xôman nhà văn đã đi sâu khám phá những con người Tây Nguyên, những con người cả đời gắn bó với cây xà nu như gắn bó với Đảng với cách mạng Con người hiện lên trong trang văn của Nguyễn Trung Thành là hình ảnh của một tập thể anh hùng nhiều thế hệ Trang sử hào hùng của Tây Nguyên không chỉ một người viết mà là sự nối tiếp, kế tục từ đời này sang đời khác, từ thế
hệ này sang thế hệ khác Họ đã cùng nhau dựng xây làng bản, dựng xây lịch sử của một đất nước đứng lên Nguyễn Trung Thành tìm đến miền đất núi rừng đầy đau thương Nhà văn dã lắng nghe họ sống
để ghi lại cái nhịp sống hào hùng, ghi lại vẽ đẹp tâm hồn, bản chất anh hùng của những người giản dị, mộc mạc mà thiêng liêng, cao quý Nguyễn Trung Thành như đã trở thành người con của Tây Nguyên, của dân làng Xôman Khi viết Rừng xà nu tựa hồ ông ngợi ca, tự hào về làng mình, về quê hương của mình
Nói đến phong trào đấu tranh của dân làng Xôman, ta không quên hình ảnh anh Quyết, anh
là cán bộ của Đảng, là người đã nhen nhóm phong trào cách mạng cho cộng đồng dân làng Xôman Tnú còn nhớ như in lời của anh; “sau này, nếu Mĩ-Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh” anh đã chính
là người đã truyền sức mạnh, niềm tin cho Tnú, cho Mai, …Anh là một người chiến sĩ dũng cảm, anh hùng
Nếu như anh Quyết là hiện thân của lớp trẻ, của Đảng thì hình ảnh cụ Mết lại sáng lên trong truyện ngắn như một trụ cột của dân làng Xôman Chẳng những vậy mà sau này, Nguyễn Trung Thành
đã ghi lại hồi kí, đại ý : Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay Ông như lịch sử bao trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn Mỗi lời nói của cụ Mết như lời nói của sông núi, là lời nói của dân tộc Ông
cụ là cuội nguồn của dân làng Xôman, là người đã lãnh đạo dân làng Xôman đánh giặc: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” Cụ hiện thân cho truyền thống, cho nét đẹp từ ngàn xưa của dân làng Cụ rất ít khen tốt giỏi mà chỉ nói “được”, cụ truyền lại sức mạnh, răn dạy con cháu : “Nhớ lấy ghi lấy Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại với con cháu” Hình ảnh của cụ Mết là hình ảnh của một già làng suốt đời đã gắn bó với Tây Nguyên, chiến đấu bảo vệ buôn làng Cụ tự hào về cây xà nu, đố bọn nó giết hết Rừng xà nu đất này Đẹp thay hình ảnh của một ông cụ “râu bây giờ đã dài tới ngực đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược” hiển hiện giữa núi rừng Tây Nguyên Và hình ảnh của cùng lớp thanh niên trong làng cầm giáo mà cứu Tnú cho thấy cụ là hiện thân của sức sống dân tộc, tâm hồn dân tộc Nguyễn Trung Thành ngợi ca cụ Mết như ca ngợi cội nguồn, ngợi ca Tây Nguyên bởi vẻ đẹp tâm hồn
cụ là vẻ đẹp của ngày xưa, trường tồn và mãnh liệt cho đến hôm nay
Viết về Rừng xà nu viết về những con người anh hùng quả cảm, nhà văn đã khắc hoạ hình tượng nhân vật trung tâm: Tnú Tnú là một thanh niên trẻ, anh dũng, gan dạ với cuộc đầy bi kịch, đau
Trang 4Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
thương nhưng anh đã vượt lên trên tất cả để sống, đẻ chiến đấu và vẻ đẹp của Tnú là vẻ đẹp của một con người chiến thắng, của một chiến sĩ anh hùng
Phẩm chất anh hùng của Tnú được bộc lộ từ khi còn là một cậu bé cùng Mai đưa thư, tiếp tế cho cán bộ Tnú yêu cách mạng, yêu Đảng Một lần bị giặc bắt, anh Quyết không khai mặc dù bị tra tấn
dã man Lòng căm thù giặc đã trở thành dòng máu chảy trong lòng anh từ lúc làng Xôman còn chưa biết vùng dậy đánh giặc Tnú lớn lên trong sự yêu thương của dân làng, trong mối hận của trả thù và
ao ước được làm cán bộ Anh trở thành anh thanh niên xung phong của dân làng Xôman Cuộc đời của Tnú là cuộc đời đầy đắng cay bất hạnh Một lần quân giặc đã bắt mẹ con Mai (vợ của Tnú )để buột anh phải ra hàng Không kìm được lòng khi nhìn thấy Mai cùng đứa con bị đánh Anh lao ra nhưng không cứu được hai mẹ con Mai Rồi Mai chết, đứa con cũng chết Tnú chắc cũng sắp chết, Tnú sẽ nghĩ “Ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xôman đánh giặc”? Và chỉ tiếc mình không được sống đến ngày cùng dân làng nổi dậy Chao ôi! Đến lúc cái chết cận kề mà anh cũng chẳng nghĩ gì cho riêng mình Tnú chỉ đau đáu một nỗi niềm với cách mạng, với Đảng Và khi mười đầu ngón tay của anh cháy như mười ngọn đuốc anh cũng không kêu van, anh thấy lửa cháy trong bụng, thấy máu đã mặn chát nơi đầu lưỡi “răng anh đã cắn nát môi anh rồi” Tnú hi sinh tất cả, quên mình vì đồng loại, bàn tay của anh là bàn tay của người anh hùng, bàn tay ấy kể với ta về số phận một con người đau thương mà không hề chùn bước Tnú chẳng gục ngã cũng như cây xà nu kia : “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mới mọc lên” Anh đem theo hình ảnh của Mai, của những tháng ngày đã qua, của hồi ức buồn để bước tiếp trên con đường cách mạng Tnú là một con người anh hùng, quả cảm, giàu yêu thương rồi bé Heng, Dít -tất cả đều mang cái hồn của dân làng Xôman Nguyễn Trung Thành đã ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước với bản chất anh hùng, quả cảm của cả một cộng đồng vừa anh dũng lại vừa nhân ái trong công cuộc bảo vệ quê hương Tôi còn nhớ những câu thơ :
Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm hay mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang và nhân ái chan hoà
Và nếu như Nguyễn Trung Thành khám phá vẻ đẹp ở những con người ở miền rừng núi Tây Nguyên thì Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình lại phát hiện vẻ đẹp con người ở vùng nông thôn Nam bộ Nếu như phẩm chất anh hùng trong Rừng xà nu bộc lộ qua hình ảnh tập thể của dân làng Xôman thì bản chất anh hùng trong truyện ngắn Nguyễn Thi lại chỉ bộc lộ trong bối cảnh một gia đình Nhân vật chính trong truyện là Việt và Chiến Cả hai chị em điều phải sống trong cảnh thiếu thốn tình thương khi ba và má đã bị giặc sát hại Việt và Chiến tranh nhau đi bộ đội, nỗi đau sự thiếu hụt tình cảm gia đình đã hun đúc cho cả hai chị em lòng căm thù giặc sâu sắc Việt là một anh bộ đội gan dạ, dũng cảm, tuy bị thương nhưng vẫn cố tìm và quyết đi theo cùng đồng đội Trên mặt trận chiến đấu, Việt là một anh lính Cụ Hồ anh hùng quả cảm lập chiến công mà vẫn khiêm tốn không muốn báo cho chị biết Chị Chiến cũng là một người gan dạ, dũng cảm, chị mong mỏi, khát khao được đánh giặc để trả thù cho ba má Nguyễn Thi đã ca ngợi phẩm chất anh hùng của “những đứa con trong gia đình” tuy nhỏ tuổi mà nặng lòng với cách mạng sẵn sàng hi sinh thân mình vì sự nghiệp cứu nước Bản chất anh hùng của con người Việt Nam có ở mọi thế hệ, mọi dân tộc tựa như đã trở thành dòng máu chảy ngầm ở mỗi người con đất Việt Chiến và Việt là hình ảnh của lớp trẻ hăng hái, dũng cảm trên bước đường chiến đấu gian khổ, khốc liệt của quê hương Họ tiêu biểu cho sức trẻ có thể làm đổi thay sức lịch sử là ghi thêm trang mới
Nguyễn Thi đã phát hiện vẻ đẹp anh dũng của con người Việt Nam nhưng chưa đủ, nhà văn còn tìm thấy ẩn sâu bên trong những con người gan góc, quả cảm ấy là một tình yêu thương lớn lao, tình yêu thương gia đình Việt tuy đã là anh bộ đội song vẫn ngây thơ, trẻ con như cậu bé thuở nào Đoạn hai chi em Việt khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm gửi để đi bộ đội thật cảm động, nó để lại trong lòng ta biết bao rung động, tình cảm ngọt ngào: “Nào, đưa ba má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi
Trang 5Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
đánh giặc trả thù cho ba má” Câu văn như nghẹn ngào mà lại chứa chan biết bao nhiêu sự quyết tâm của hai chị em Chiến và Việt Việt cảm nhận được gánh nặng đang đè lên vai mình Lần đầu tiên Việt cảm nhận rõ lòng mình như thế Và Việt thấy thương chị Con người Việt Nam trong chiến tranh đâu chỉ biết chiến đấu mà còn biết yêu thương Họ đã vượt lên trên nỗi đau của cá nhân để chiến đấu vì nỗi đau đồng loại Hình ảnh của Chiến và Việt hiện lên trong trang viết Nguyễn Thi thật xúc động, neo lại trong tâm hồn ta vừa ngạc nhiên vừa như ngỡ ngàng vì vẻ đẹp của con người Việt Nam một thuở Không đi sâu vào đề tài chiến tranh, không miêu tả nhiều về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu đã tìm những hạt ngọc còn ẩn sâu trong cuộc sống Nhà văn đã viết về đề tài tình yêu trên nền của chiến tranh bom đạn Đọc Mảnh trăng cuối rừng, ta bồi hồi tự hỏi :
Và nơi đâu? Trên trái đất này
Người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay
Sống chết từng ngày, mưa bom bão đạn
Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tươi tình bạn
Có nơi nào đẹp như nơi này chăng ? Và có người dân nơi đâu vừa anh hùng trong chiến đấu, vừa nóng bỏng căm thù lại vẫn mát tươi một tình bạn, một tình yêu, tình đồng đội và tất cả gom lại thành tình yêu quê hương đất nước? Hiện lên trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là hình ảnh của Nguyệt Vẻ đẹp ngoại hình và phẩm chất của Nguyệt được khắc hoạ miêu tả thông qua cái nhìn của Lãm Nguyệt sống giữa bom đạn mà niềm tin vào cuộc sống – “cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá nổi ư ?” Nguyệt có một niềm tin của cuộc sống
Hình ảnh Nguyệt hiện lên với “đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ” Ở đầu tác phẩm đã gây cho người đọc biết bao yêu mến Nguyệt có vẻ đẹp dịu dàng, “mát mẻ như sương núi” toả ra từ nét mặt, dáng người mảnh dẻ Nguyệt còn là một cô gái dũng cảm, giúp Lãm vượt qua quãng đường khó Lời nói cứng cỏi “anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó” cùng hình ảnh “Nguyệt nhìn vết thương, cười Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn tươi tỉnh và xinh đẹp” đã làm Lãm
“dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục” và còn in đọng mãi trong lòng độc giả hình ảnh một cô gái trẻ tuổi, gan góc, thông minh được Nguyễn Minh Châu khắc hoạ với giọng điệu ngợi
ca, trân trọng Nhà văn đã tìm thấy ở Nguyệt - hiện thân của sức trẻ - một sức sống, sức chống chọi phi thường Nguyệt hiện lên trong trang viết, giữa khung cảnh chiến tranh như một mảnh trăng non đầu tháng, sáng trong, dịu hiền và luôn ẩn giấu một vẻ đẹp khiến ta phải tìm kiếm
Thế nhưng, Nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả phẩm chất anh hùng của Nguyệt mà còn khắc hoạ được vẻ đẹp lãng mạn của tình yêu, sức sống mãnh liệt và niềm tin bất diệt của cô vào cuộc sống Nguyệt yêu Lãm khi chưa hề biết mặt, chưa hề thư từ mà chỉ qua lời của chị Tính Cô Nguyệt chờ Lãm, mặc cho đôi khi Lãm đã quên lời hẹn ước nhưng Nguyệt vẫn tin tưởng vào tình yêu tưởng chừng như mong manh mà dẻo dai ấy Hơn một lần Lãm phải ngạc nhiên vì “cái sợi chỉ xanh óng ánh” Phải thầm thán phục khi biết Nguyệt phải một lòng chờ mình Không khí truyện đầy lãng mạn, thơ mộng và
vẽ đẹp của Nguyệt dần dần khám phá, soi tỏ Trong chiến tranh, người ta không chỉ biết chiến đấu mà còn sáng lên một tình yêu chung thuỷ, son sắt Nếu Nguyệt chỉ thông minh, gan dạ, dũng cảm thì chị cũng biết như bao cô gái thanh nên xung phong khác Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm
ẩn, tưởng như mỏng manh giữa chiến tranh bom đạn của người con gái ấy Nguyệt sáng lên trong trang viết của ông hoà cùng với ánh trăng, và văn của Nguyễn Minh Châu cũng sáng lên trong lòng chúng ta bởi sức sống, niềm tin mãnh liệt của con người Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyệt khiến ta tin yêu con người Kì vọng vào tương lai Nguyễn Minh Châu đã tìm thấy hạt ngọc nơi cuối rừng, hạt ngọc của thời rực lửa và cất lên khúc ca ngợi ca về con người Về vẻ đẹp con người Việt Nam hoà chung với khúc ca bất diệt, đầy tự hào của văn học thời kì chống Mĩ cứu nước
Trang 6Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu là những tượng đài rộng lẫy về vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đầy gian khổ, thử thách mà rất đỗi anh hùng của dân tộc Các nhà văn viết về tác phẩm anh hùng, sức sống mãnh liệt và những vẻ đẹp của con người trong thời chiến với giọng điệu ngợi ca, hào hùng nhưng ở mỗi tác phẩm ta đều bắt gặp một cách khám phá, sáng tạo riêng Nếu như Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành đã dựng nên tập thể anh hùng với hình ảnh cây xà
nu ham ánh sáng, có sức sống dẻo dai thì Nguyễn Minh Châu lại khắc hoạ hình ảnh mảnh trăng non cuối rừng để làm sáng lên vẻ đẹp của Nguyệt Nếu như Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình đậm không khí sử thi, âm vang trầm hùng, bút pháp hùng tráng, đồ sộ thì Mảnh trăng cuối rừng lại đến với lòng ta bằng giọng điệu thiết tha, ngọt ngào, giàu màu sắc lãng mạn Ba tác phẩm đi vào những khía cạnh khác nhau của đời sống kháng chiến, nhân vật hiện lên từ những khung cảnh, hoàn cảnh khác nhau và bút pháp khắc hoạ cũng mang tính độc đáo, cá biệt nhưng đều góp vào tiếng nói chung của dân tộc, tiếng nói khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước
Những năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biến động nhưng Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, Mảnh trăng cuối rừng mãi là những bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng đã ghi lại quá khứ hào hùng, sôi động của đất nước mình một thuở Vẻ đẹp con người Việt Nam đã làm nên cái hồn của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm còn sống mãi với thời gian Văn học thời
kì chống Mĩ cứu nước đã bắt được nhịp sống của dân tộc, đã ngợi ca sức sống và vẻ đẹp của con người Việt Nam Giờ lật lại, chúng ta không khỏi tự hào, xúc động về những năm tháng đất nước nước mình đã
đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của người con đất Việt Và ta mãi cất lên những bài ca không quên – bài ca viết về quê hương, viết về con người bởi tự hào biết mấy hai tiếng :Việt Nam
3 Nguyên Ngọc – Rừng Xà Nu:
"Tôi được biết ông cụ Mết (nhân vật sau này của Rừng xà nu) cùng thời gian tôi quen biết anh Núp, nghĩa là từ hồi chiến tranh chống Pháp Hồi bấy giờ ở Tây Nguyên có hai làng kháng chiến nổi tiếng: làng Xi Tơ (tức là Kông Hoa) của anh Núp ở Gia Lai, và làng Xóp Dùi của ông Mết ở bắc Kon Tum Tôi nhớ hồi ấy người ta cũng đã có tính đến chuyện tuyên dương cho ông Mết, cũng như ông Núp Nhưng rồi do một quan niệm giai cấp cứng nhắc ấu trĩ hồi bấy giờ , người ta đã thôi việc phong tặng danh hiệu cho ông Mết vì ông là "già làng", mà "già làng" hồi ấy được coi là đồng nghĩa với "tầng lớp trên", tức là một thứ giai cấp bóc lột ở Tây Nguyên
Tôi ra Bắc, và viết Đất nước đứng lên Ở Đất nước đứng lên, trong các hình tượng Núp, Bok Pak, Bok Sung kì thực đã có một phần ông Mết " của tôi" trong đó và tôi yên trí như thế là tôi đã "dùng" hết ông Mết của tôi rồi Tôi không hề ngờ hề nghĩ rằng còn có một ngày nào đó tôi còn trở lại với cái
"vốn" ông Mết của tôi nữa Suốt gần chục năm tôi không hề ngờ ở một nơi nào đó rất sâu trong tôi vẫn còn một ông Mết
Sau 7 năm ở miền Bắc, năm 1962 tôi trở về miền Nam, trở về Tây Nguyên Trở về và chưa hề nghĩ đến chuyện viết lách gì cả Làm rẫy, đi phát động quần chúng đánh giặc Đâu khoảng 1963, một chuyến đi công tác gặp giặc càn, bị lạc đường bị bỏ đói, tôi tìm vào làng đồng bào Xê Đăng kiếm ăn Rất tình cờ, đó chính là làng anh Đề Anh Đề, lúc bấy giờ là một thanh niên khoảng gần 30 tuổi, là người đứng đầu làng này Suốt mấy đêm liền, bên bếp lửa nhà sàn đốt suốt đêm để chống rét bằng củi xà nu, anh Đề
kể cho tôi nghe chuyện hồi 1959, chính anh đã cùng 10 trai tráng làng này dùng dao rựa, giáo mác giết sạch một tiểu đội lính Diệm, bắt đầu cuộc chiến đấu vũ trang ở đây ( )
Cho đến đầu năm 1965, trên đường từ chiến trường ngoại ô thị xã Quy Nhơn (thuộc tỉnh Bình Định) trở về cơ quan bộ tư lệnh quân khu 5 bấy giờ đóng ở rặng núi Răng Cưa, giáp ranh hai huyện Trà
Mi (Quảng Nam) và Trà Bồng (Quảng Ngãi), tình cờ tôi được chứng kiến cuộc đổ quân ồ ạt hung dữ chưa từng thấy của mấy vạn thuỷ quân lục chiến Mĩ vào bãi biển về sau này sẽ được gọi là bãi biển Chu Lai Tôi còn nhớ rất rõ ngày hôm ấy: ngày 8 tháng 3 năm 1965 Số phận đã cho tôi cái may mắn chứng kiến
Trang 7Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
một sự kiện lịch sử: cuộc đổ quân đầu tiên của Mĩ, ngaỳ bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam nước ta
Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán mất còn trực tiếp với đế quốc Mĩ
Chúng tôi làm việc ngày đêm Tôi không nhớ thật rõ anh bạn nào của tôi, anh Nguyễn Chí Trung hay anh Thu Bồn bảo tôi:
- Viết đi ! Viết một bài "Hịch tướng sĩ" của thời đánh Mĩ !
Chúng tôi lao vào viết Mỗi người một góc lều trong rừng, ngồi trên võng đốt đuốc lên mà viết (không có dầu thắp, ban ngày thì còn bận đi làm rẫy) Thu Bồn và Phan Đình Côn (hi sinh cuối năm 1965) làm thơ Nguyễn Chí Trung viết truyện ngắn Còn tôi, theo gợi ý của bạn, tôi viết "hịch" của tôi - tuỳ bút Đường chúng ta đi - chỉ trong một đêm
Viết xong, tự mình cầm chạy đi mà in (ở rừng, tất nhiên), hì hục quay máy (lúc bấy giờ tôi đã xin được từ miền Bắc một máy in năm Osaka nặng trịch) Chúng tôi viết và in số tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ như vậy đó
In xong, tung đi ngay, phát ngay cho bộ đội đang lao lên đánh Mĩ Đó là những ngày Núi Thành, Vạn Tường, Bình Đông sôi sục
Làm xong tạp chí số 1, chúng tôi bắt tay làm tiếp số 2 Anh Nguyễn Chí Trung bảo:
- Số 1 cậu viết tuỳ bút rồi, số này phải viết truyện ngắn
Ừ thì truyện ngắn
Tôi vừa đi một chuyến phát động quần chúng và đánh nhau ở Tuy Phước, Quy Nhơn, Bình Định
về, còn đầy ấn tượng đồng bằng (Phải nói để các bạn biết rằng ngày ấy sau mấy năm lẩn quẩn tù túng
ở rừng, toàn núi cao, được lao xuống giải phóng đồng bằng, vui như hội) Tôi lại treo võng, đốt đuốc ngồi nhất định viết một truyện ngắn về đồng bằng Bao nhiêu cảm xúc, ấn tượng còn nóng hổi Thật không ngờ, chong đuốc ngồi suốt mấy đêm ròng, bí rị, viết không nổi một dòng ! Chữ viết ra cứ nằm bẹp trên trang giấy, nhất định không chiụ đứng dậy Chỉ có mặt phẳng bẹt không sao tạo được không gian, không gian ba chiều
Buồn quá, xấu hổ nữa, tôi nói với Nguyễn Chí Trung:
- Không viết nổi truyện ngắn đồng bằng ông ạ Hay là mình viết một truyện miền núi nhé
- Miền núi à? Miền núi thì chán chết Bây giờ đang cần đồng bằng nhưng mà, thôi, thì tạm một cái miền núi cũng được
Và tôi viết Rừng xà nu
Bắt đầu như thế nào?
Không, quả thật bắt đầu tôi chưa hề có câu chuyện, cốt truyện nào cả Bắt đầu đến dưới ngòi bút, gần như không hề tính trước, là một khu rừng xà nu, những cây xà nu
Hồi tháng 5 năm 1962, hành quân từ miền Bắc vào, tôi cùng đi với anh Nguyễn Thi, Nguyễn Thi
về Nam Bộ (bấy giờ mật danh gọi là "Ông Cụ"), tôi rẽ xuống khu 5 (mật danh gọi " Bác Ân") Cùng đi dọc Trường Sơn từ Bắc vào, đến đêm chia tay mỗi người về chiến trường của mình là khu rừng bát ngát phía tây Thừa Thiên giáp Lào Đó là một khu rừng xà nu tít tắp tận chân trời
Tôi yêu say mê cây rừng xà nu từ ngày đó Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch, mỗi cây cao vút, vạm vỡ, ứ nhựa, tán lá vừa thanh nhã vừa rắn rỏi mênh mông, tưởng như đã sống
tự ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau, từng cây, hàng vạn, hàng triệu cây vô tận Không khí ở đây thơm lừng Nệm lá dưới mặt đất ngả lưng êm ru Nguyễn Thi và tôi đã sống với nhau một ngày một đêm chia tay cuối cùng trong khu rừng tuyệt vời ấy Cùng nhau ôn lại cả cuộc đời mình, và nói với nhau về cuộc chiến đấu đang chờ mình trong kia
Tại sao cái đêm giữa năm 1965 ấy, ngồi viết, rừng xà nu lại bỗng đột ngột đến với tôi, chảy ngay
ra dưới ngòi bút tôi?
Trang 8Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Vì nhớ Nguyễn Thi chăng? Từ ngày vào chiến trường chúng tôi bặt tin nhau Vì bấy giờ, bước vào cuộc đời mình - mà tôi đã cùng Nguyễn Thi ôn lại, điểm lại ngày nọ dưới rừng xà nu tây Thừa Thiên - chợt sống dậy chăng? Hay vì cái không khí "hịch tướng sĩ" đánh Mĩ hừng hực bấy giờ rất tráng ca, rất
"xà nu' chăng? Tôi không nhớ và biết rõ
Nhưng vậy đấy, rừng xà nu chợt đến Và lập tức tôi biết tôi đã tạo được không khí, đã có không gian ba chiều Và cũng lập tức đã nhập được vào không khí của không gian ấy
Theo tôi viết, đặc biệt truyện ngắn, tạo và nhập ngay được vào không khí và không gian ba chiều ngay từ đầu là quan trọng nhất Bởi vì truyện ngắn ngắn quá, không cho phép dông dài cà kê lòng vòng Ngay câu đầu không tạo được cái ấy coi như vứt đi Mọi sự sau đó sẽ cứ rời rạc, nhạt phèo
Có được câu đầu rồi: Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc bỗng tất cả như bật dậy, mở ra Và thật lạ đối với chính tôi, tôi biết rất rõ rằng, chắc chắn rằng "làng" - cái "làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc" ấy - chính là cái làng anh Đề ! Tôi biết và thấy rõ
Và tôi bỗng biết luôn, cũng rõ ràng như vậy, tôi sẽ viết chuyện về cuộc khởi nghĩa của anh Đề, cuộc đời, số phận anh Đề
Tôi có ngay cảm giác phải tìm một tên khác cho anh Đề Tên Đề nó Kinh quá, người Kinh quá Tnú, tôi gọi anh bằng tên ấy Nó "không khí" hơn nhiều
Khi đã biết tôi sẽ viết chuyện anh Đề - Tnú - tôi thấy yên tâm và bình tĩnh Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ diễn biến cụ thể ra sao, nhưng tôi đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu - (mà tôi sẽ ra sức tả một cách hết sức tạo hình, như chạm nổi lên như vậy, có không gian như tượng tròn và có cả mùi vị có thể ngửi thấy được) - và truyện sẽ kết thúc cũng bằng một cảnh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận, nghĩa là "bố cục" cơ bản đã thấy được rồi Sau đấy mọi sự bỗng trở nên rõ ràng, dễ dàng đến kì lạ Chị Dít "đến" - như là tất yếu vậy (tôi muốn giữ nguyên tên thật của chị - nó rất tạo không khí, đối với tôi) Nhưng tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú, một mối tình sẽ lờ mờ mà chắc chắn hiện lên ở cuối truyện Vậy thì có phải Mai, chị của Dít Mai đối với tôi chẳng khó khăn gì Tôi đã "có" hàng trăm cô gái Tây Nguyên (và không chỉ Tây Nguyên) để hình dung và dựng lên một cô Mai Và cái gì để dẫn đến cuộc bùng dậy ghê gớm như vậy của Tnú (diệt sạch cả một tiểu đội giặc gần như bằng tay không, những năm tháng chưa hề có tiếng súng cách mạng
ấy )? Tức phải có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của làng xóm, dân tộc: đứa con bị đánh chết tàn bạo, Mai gục xuống, ngay trước mắt Tnú Chi tiết ấy đến một cách tất yếu
Và ông cụ Mết của tôi cũng tất yếu phải đến Ông là cội nguồn Là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên trường tồn đến hôm nay Ông như lịch sử bao trùm, nhưng không che lấp sự đi tới nối tiếp và mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn, sành sỏi và tự giác hơn của các thế hệ sau
Có lẽ cũng từ đó mà thằng bé Heng Nó sẽ còn đi tới đâu, chưa ai lường được
Tất cả trở nên dễ dàng đến ngạc nhiên đối với tôi Tôi hình dung ra, thấy hiển hiện ra tất cả Các chi tiết tự nó đến: các bà cụ già lụm cụm bò từ trên thang nhà sàn xuống, các cô gái lấy nước ở vòi nước đầu làng thân yêu và thẹn thùng vác ống bươm đứng tránh ra một bên cho Tnú rửa mặt, tắm mình trong vòi nước làng quê cả đến tiếng nước lanh tanh trong đêm khuya, cả đến lùm khói quyện lên từ chiếc ống điếu vồ của cụ Mết, cả cái lối Dít xem xét kiểm tra nghiêm khắc và thương yêu từ giấy phép của Tnú,
cả mười ngọn lửa xà nu cháy giần giật trên mười đầu ngón tay đau đớn của Tnú Tất cả, tôi không phải
"bịa" thêm gì cả, tôi thấy rõ hết Mặc dầu tất cả đây hoàn toàn là một câu chuyện bịa Mà như thật Với tôi, nó hoàn toàn có thật
Cách sắp xếp các lớp thời gian trong truyện, xen kẽ, đan quyện, những mạch nối cũng đến dễ dàng và tự nhiên, như tất nó phải vậy
Rừng xà nu là truyện của một đời, và được kể trong một đêm Đó là cái đêm dài như cả một đời Nhưng nó cũng ngắn, cũng chỉ là một đêm trong sự sống vất vả, đau khổ và hạnh phúc trường tồn ở đây, bởi "nhà ra xa, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời "
Trang 9Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
(Nguyên Ngọc, ‘Về truyện ngắn Rừng xà nu', Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn, Nxb Gíao dục, 2000)
4 Rừng Xà Nu dưới góc nhìn văn hóa:
Đã trở thành thói quen, người giáo viên dạy văn luôn đứng dưới góc nhìn xã hội học để tìm hiểu tác phẩm nên bỏ qua một khía cạnh vô cùng quan trọng: góc nhìn văn hoá Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thể văn hoá Tác phẩm không chỉ là tư tưởng, nó còn là văn hoá Bởi vậy chỉ có thể hiểu đúng và đầy đủ tác phẩm khi biết đặt vào cái nôi văn hoá, nơi nó sinh thành
Từ bao nhiêu năm nay, khi dạy tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người ta chỉ mặc
nó vào cái áo may sẵn: "cảm hứng sử thi, cách mạng" và xem tác phẩm như là một biểu trưng tinh thần bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung Điều này là đúng và cần thiết Thế nhưng, nếu chỉ thế thôi thì chẳng khác gì đem "chặt to kho mặn" (như lời nhà văn nói về thực trạng dạy Rừng xà nu hiện nay) tác phẩm vốn chứa đựng rất nhiều những giá trị văn hoá độc đáo
và kỳ lạ của người Tây Nguyên Không chỉ là văn hoá, Rừng xà nu còn thấm đẫm thâm tình thuỷ chung vốn là đặc trưng làm nên tính cách cũng như sức mạnh của con người Tây Nguyên
Rừng xà nu là một truyện ngắn hoàn hảo ở hình thức nghệ thuật với một kết cấu hết sức chặt chẽ
Đó là sự đan xen giữa không gian hiện thực và không gian hồi ức được bao bọc trong một cánh rừng xà
nu Trong cái không gian đan cài ấy nổi lên hai nhân vật: cụ Mết và Tnú Từ hai nhân vật chính ấy nổi lên hai biểu tượng: truyền thống và hiện đại Từ hai biểu tượng ấy nổi lên hai chủ đề: chiến tranh cách mạng và văn hoá truyền thống làm nên tình người cao đẹp và sự cố kết cộng đồng Chủ đề chiến tranh cách mạng xin không đề cập trong bài viết này, bởi nó đã được khai thác một cách triệt để đến độ có cảm giác như là sự khai thác rừng ở Tây Nguyên hiện nay: trần trụi và tàn nhẫn
Ở Rừng xà nu, bên cạnh ngọn lửa xà nu hừng hực nóng còn có ngọn gió mát dịu từ con suổi và máng nước đầu làng, từ không khí nhà rông Rất tiếc rằng "ngọn gió mát" ấy lâu nay không được tìm hiểu một cách thấu đáo nên đã làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp của truyện ngắn được cho là thành công nhất của nhà văn Nguyên Ngọc sau "Đất nước đứng lên" Ngọn gió mát ấy chính là cái tình người sâu nặng của cộng đồng Xô-man Sự kiện Tnú trở về sau ba năm đi lực lượng đã làm cho không khí thâm trầm của làng bỗng nhiên rạo rực hẳn lên: "Ở mỗi cửa nhà ló ra bốn, năm cái đầu ngơ ngác Những cặp mắt tròn xoe, rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo cả làng đã vây chặt quanh Tnú" Hơn ở đâu hết, không gian làng ở Tây Nguyên là một không gian luôn đầy ắp tình người Tính cộng đồng và lẽ công bằng
đã làm nên đặc điểm đó của người Tây Nguyên Đối với họ, chuyện của một gia đình cũng là chuyện của làng, một nhà có khách là cả làng đến chia vui, không cần phải mời mọc Thật hạnh phúc biết bao! Đêm Tnú trở về, cả làng tụ họp ở nhà cụ Mết để không phải chỉ nghe những lời giáo huấn của truyền thống
mà quan trọng hơn là để thể hiện niềm ân tình đối với một thành viên của cộng đồng Đó là tình cảm thiêng liêng mà người Tây Nguyên hằng tôn thờ như là sự tôn thờ Giàng tốt của họ Vốn là người rất am hiểu đời sống Tây Nguyên, tác giả đã dành rất nhiều chi tiết để nói về tình cảm này mà trong khuôn khổ bài viết, không thể dẫn hết ra được
Nguyễn Trung Thành cũng đã dành một mảnh đất rất lớn ở phần đầu tác phẩm để đón bước chân Tnú trở về Nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy rõ điều này: bé Heng đón Tnú ở chỗ "con nước lớn", rồi đến chỗ "con suối nhỏ dẫn nước từ trong lòng đá ra" bé Heng bảo Tnú "rửa chân đi" Tại sao phải rửa chân? Ở Xô-man, ranh giới giữa làng và rừng là một dòng nước Bên kia là rừng, bên này là làng Rừng
là tự nhiên, làng là văn hoá (theo định nghĩa những gì không phải tự nhiên là văn hoá) Chỉ là dòng nước thôi nên ranh giới ấy là hết sức mong manh, rừng có thể chiếm lại làng bất cứ lúc nào Người Tây Nguyên quan niệm rừng là nơi ngự trị của thần linh và cả ma quỉ (rừng phía tây) cho nên bước chân ra khỏi làng vào rừng là con người dễ trở thành "cái tự nhiên", trở thành "người rừng" đầy mê hoặc Bởi vậy khi Tnú bước chân vào làng là phải "rửa chân", tức phải gột rửa "bụi bặm" của "người rừng" để trở về tinh khiết của "người làng"- một thực thể đã được văn hoá làng thanh lọc
Trang 10Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa Năm học: 2018-2019
Văn hoá làng Tây Nguyên được nhà văn thể hiện rất đặc sắc qua hình ảnh máng nước đầu làng Khi đến suối nước nhỏ đầu làng, Tnú "bỏ mũ, cởi mấy khuy áo trên ngực, rồi khom lưng xuống, ngửa hai bàn tay vả nước lên mặt, lên đầu Nước mát lạnh đến tê người Máu trong đầu anh phản ứng, giần giật ở hai bên má" Hành động của Tnú rất nhẹ nhàng, cẩn thận và có cái gì đó thành kính Thành kính bới bến nước là không gian thiêng liêng bậc nhất trong làng (cùng với không gian nhà rông) Hàng năm cứ đến mùa "ăn năm uống tháng" dân làng đều tổ chức lễ cúng bến nước rất trang trọng để tạ ơn thần nước Bên nước không chỉ đem lại nguồn nước sinh hoạt cho làng, nó còn là nơi gặp gỡ tâm tình của dân làng sau mỗi buổi đi rẫy về (điểm này giống với bến nước của làng Bắc bộ) Bởi vậy bến nước là nỗi nhớ, là niềm thương da diết của những người đi xa làng Ta hiểu vì sao sau khi vả nước lên đầu, Tnú "không lau khô đầu tóc", Tnú để cho tình làng mơn man da thịt anh
Bến nước cũng là thước đo cho tình cảm thuỷ chung với làng Gặp Tnú, cụ Mết hỏi: "Mày có nhớ cái máng nước ở chỗ nào không? Nhớ à, được! Tưởng quên rồi thì tau đuổi ra rừng, không cho ở làng nữa đâu" Ở Tây Nguyên, hình phạt khủng khiếp nhất là bị tách ra khỏi cộng đồng, tức bị đuổi ra rừng Khi
ấy con người chỉ biết trở về với bản nguyên rừng, tức phải chọn cái chết Nếu Tnú mà quên cái máng nước của làng (mà quên bến nước của làng cũng tức là không thuỷ chung với làng) thì sẽ nhận hình phạt nặng nhất, cũng có nghĩa là con người ấy đáng khinh bỉ nhất
Tuy vậy, vẫn có một khía cạnh thú vị khác, đó là việc cụ Mết "thân hành dẫn anh ra tới máng nước đầu làng" Điều này cho thấy được vai trò to lớn của người già làng ở Tây Nguyên trong việc tổ chức đời sống tinh thần và giữ gìn văn hoá làng Nếu bé Heng nhắc anh "rửa chân" thì cụ Mết lại đưa anh ra máng nước, tức dắt anh trở về với cội nguồn làng, với cộng đồng đã nuôi anh khôn lớn cả thể xác lẫn tâm hồn Hành động của cụ Mết cho chúng ta thấy được lòng nhân ái và sự hiền minh của một tộc người nhỏ bé sống heo hút trên sườn núi Ngok Linh
Dù Tnú đã rửa sạch ở con suối nhỏ rồi nhưng khi được cụ Mết dẫn ra máng nước đầu làng, anh vẫn rửa lại "Anh cởi áo ra để cho vòi nước lạnh ngắt của làng mình giội lên đầu, lên lưng, lên ngực như những ngày xưa " Khác với câu chữ cuồn cuộn khí thế trong trận quyết chiến với bọn thằng Dục, giọng văn ở đây nhẹ nhàng và sâu lắng như chính tình cảm của cộng đồng làng Ở chỗ máng nước, Tnú đã được đắm mình trong mảnh hồn làng thân thương nhất, không phải chỉ một lần mà hai lần mới thoả nỗi nhớ mong
Có một chi tiết rất đáng chú ý mà chắc chắn Nguyễn Trung Thành gửi gắm rất nhiều ý tưởng của mình, đó là tiếng chày giã gạo của dân làng Cái âm thanh mà Tnú "nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm" Cũng như tiếng mái chèo đuổi cá ở những làng đánh cá ven sông miền xuôi, tiếng chày giã gạo của làng miền núi đã trở thành âm thanh của ký ức mà những lúc đi xa, người ta nhớ đến nao lòng Tnú cũng vậy, cái âm thanh được tạo nên bởi bàn tay của mẹ, của Mai, của Dít, của những người phụ nữ Strá đã đi vào tâm thức của anh Đó cũng là một mảnh hồn làng mà anh luôn theo bên mình để nhắc nhở anh, để thôi thúc anh, để đưa anh trở về nguồn cội Cho nên khi Tnú nghe lại âm thanh ấy thì
"ngực anh đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rế cây ở chỗ ngã quẹo vào làng" Anh đã xúc động thật
sự, yêu thương thật sự Điều này cho thấy đời sống tâm hồn phong phú của Tnú, bên cạnh phẩm chất anh hùng của anh Có thể nói sức sống của văn hoá làng đã tạo nên sức mạnh của những con người như
cụ Mết, Tnú, Mai, Dít Đó là sức sống Tây Nguyên
Dưới góc nhìn văn hoá, ta thấy Rừng xà nu có nội dung rất quan trọng: văn hoá làng và những tình cảm thâm trầm, cao đẹp Và đó là cơ sở của nội dung thứ hai: tinh thần bất khuất của người Tây Nguyên Tinh thần ấy lớn mạnh được là nhờ nó bám rễ sâu chặt vào "đất làng"
Vẫn biết rằng trong thời lượng ít ỏi, người thầy khó mà chuyển tải được hết cái hay cái đẹp của một tác phẩm Tuy nhiên hoàn toàn chúng ta có thể gợi ý cho học sinh những giá trị khác ngoài cái giá trị đã quá quen thuộc đến nỗi trở nên nhàm chán Ở Rừng xà nu, chính những mảng màu văn hoá sẽ kích thích "thị giác" của các em, đem đến những điều mới lạ và rất có thể sẽ làm cho giờ dạy hấp dẫn hơn