1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT

49 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Tự Học Môn Lịch Sử Cho Học Sinh THPT
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 852 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù trong thời gian qua, nhiều giáo viên đã có những nỗ lực để đổi mớiphương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng môn Lịch sử, để thay đổi tinh thầnthái độ của học sinh trong các g

Trang 1

PHẦN 1: Đặt vấn đề 1.1 Lí do chọn đề tài

Trong thời đại bùng nổ tri thức, khối lượng thông tin kiến thức đang ngày mộtgia tăng nhanh chóng, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin Do khối lượngkiến thức tăng như vũ bão nhưng quỹ thời gian học tập ở nhà trường lại có hạn nênkhông thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng caocủa đời sống xã hội Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là một công việc

có vị trí cực kì quan trọng trong các nhà trường Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thứcbằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau mỗi học sinh mới có thể bù đắpđược những thiếu khuyết về tri thức khoa học, về đời sống xã hội Từ đó các em cóđược sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình

Môn Lịch sử trong chương trình THPT giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dụclòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, củng

cố các giá trị nhân văn, lòng khoan dung, nhân ái, tinh thần cộng đồng và hình thànhnhững phẩm chất của công dân Việt Nam, công dân toàn cầu trong xu thế phát triểncủa thời đại Nhưng thực tế hiện nay kết quả điểm thi môn Lịch sử trong kỳ thi tốtnghiệp phổ thông quốc gia trong những năm gần đây tiếp tục rơi vào tình trạng báođộng Nguyên nhân tình trạng này như thế nào? Có phải thế hệ trẻ hôm nay quay lưnglại với quá khứ?

Mặc dù trong thời gian qua, nhiều giáo viên đã có những nỗ lực để đổi mớiphương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng môn Lịch sử, để thay đổi tinh thầnthái độ của học sinh trong các giờ học lịch sử, để tránh tình trạng ì cho các em, tránhtình trạng học sinh thờ ơ với bài giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, khó cókhả năng chủ động, sáng tạo tiếp nhận kiến thức cho riêng mình Hơn nữa, với khốilượng kiến thức trong sách giáo khoa, giáo viên không thể truyền đạt hết tất cả chohọc sinh trong các buổi học trên lớp mà cần định hướng cho các em tự động não, suynghĩ tìm hiểu khám phá kiến thức trong sách giáo khoa, tự đọc sách, tự tra cứu tài liệu

mở rộng kiến thức Đây là cơ hội tốt nhất cho sự phát triển năng lực tự học ở học sinh

Từ đó chúng ta thấy được việc nâng cao năng lực tự học môn học Lịch sử chohọc sinh THPT là vấn đề cần thiết, sát thực, đúng với xu thế đổi mới phương pháp,phù hợp mục tiêu giáo dục Đặc biệt là trong tình hình dịch bệnh Covit 19 đang diễnbiến phức tạp như hiện nay

Nhiệm vụ của giáo viên hiện nay không chỉ dạy kiến thức mà điều quan trọng

là dạy phương pháp, rèn luyện khả năng tự làm việc, tự tìm hiểu để nắm bắt tri thức,đáp ứng mục tiêu giáo dục như Nghị quyết Trung Ương khóa VIII đã khẳng định:

“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện hình thành nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mãnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân ”

Trang 2

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, thực tế giảng dạy ở trường THPT,trong quá trình dạy bộ môn của mình, tôi luôn tìm tòi, suy nghĩ và hình thành conđường, phương pháp cụ thể để nâng cao năng lực tự học cho học sinh Vì những lí do

trên, tôi đã lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT” làm đề tài sáng kiến của mình.

1.2 Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của giải pháp nângcao năng lực tự học thực chất là hình thành và sử dụng tốt các kĩ năng tự học cho họcsinh

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử ở trường THPT của học sinh

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về khái niệm, vai trò của tự học và đặc điểm của dạy học lịch sử

+ Nghiên cứu các giải pháp hình thành kĩ năng tự học cho học sinh ở bộ mônlịch sử

+ Đánh giá kết quả nghiên cứu dựa trên kết quả học tập của học sinh

1.3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học của học sinh trong quá trình dạy học

lịch sử ở trường THPT

- Phạm vi nghiên cứu

+ Nghiên cứu trên cơ sở lí luận chung

+ Nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn dạy học ở trường chúng tôi trong hai

năm học: 2019 – 2020; 2020 – 2021

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan dạy học lịch sử trong nhà trường THPT;các tài liệu liên quan đến năng lực tự học, các phương pháp và hình thức dạyhọc theo hướng phát triển năng lực tự học

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra, khảo sát: Xây dựng phiếu điều tra lấy ý kiến của họcsinh về việc tổ chức dạy học lịch sử trong nhà trường

Trang 3

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng các biện pháp rèn luyện nănglực tự học môn lịch sử, tiến hành dạy thực nghiệm và rút ra kết luận kiểm nghiệm tínhkhả thi của đề tài.

1.5 Tính mới của đề tài:

Sáng kiến đã đưa ra được một số kỹ năng, biện pháp góp phần nâng cao nănglực tự học môn Lịch sử cho học sinh THPT Từ đó góp phần nâng cao kỹ năng, nănglực tự học tự học, đảm bảo mục tiêu giáo dục đề ra, đáp ứng nhu cầu của thời đại

Sáng kiến chưa được công bố ở bất cứ cuộc thi hay tạp chí nào

PHẦN 2: NỘI DUNG 2.1 Cơ sở của đề tài

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về khái

niệm tự học:“Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp,…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng

11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình

kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.

Như vậy từ những quan điểm về tự học ở trên, chúng ta có thể xác định được tựhọc luôn gắn liền với hoạt động tích cực, chủ động của từng chủ thể học sinh mà chúng

ta có thể gọi là “tự mình , có nghĩa là các em phải tự mình phát hiện kiến thức, tự mình

nắm bắt kiến thức và tự mình vận dụng kiến thức Điều đó không chỉ có giá trị đối vớibản thân các em mà còn giá trị đối với xã hội, đối với nhân loại Ngoài ra, năng lực tự

Trang 4

học đối với học sinh THPT còn tạo ra sự biến đổi về mặt nhận thức, đem lại một ýnghĩa lớn hơn là hình thành thói quen tự học với những suy nghĩ tìm tòi để đặt vấn đề,

tự giải quyết vấn đề Đó là những hoạt động có tác dụng rèn luyện, phát triển tư duylogic đồng thời cũng là một dấu hiệu biểu đạt mức độ của sự phát triển trí tuệ

2.1.1.2 Vị trí, vai trò của tự học

Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học.

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học.Trong quá trình hoạt động dạy học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ nhữngtri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu học sinh ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng,

tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đềkhoa học, giúp các em không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến nhữngtri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng họclên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính

là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Muốnthành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tựgiải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra

Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh

mẽ cho quá trình học tập.

Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủđộng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và một trong những nhiệm vụ quan trọng củagiáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mongđào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường laođộng, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực

tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hộihiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặtcủa từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tíchcực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thúngười học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú làđộng lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở

sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tínhđộc lập trong học tập

Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời

Học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp conngười thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tựhọc mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịpnhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những

Trang 5

thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có đượcphương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễnthì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.

Từ vị trí, vai trò quan trọng nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng đượcphương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơidậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học

2.1.1.3 Sự cần thiết của việc rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử.

Sự bùng nổ của tri thức, sự phát triển của thời đại đặt ra một yêu cầu hết sứccấp bách cho nền giáo dục nước nhà là phải hiện đại hóa nội dung và phương phápdạy học, trong đó chú trọng phát triển năng lực tự học của học sinh Bộ môn Lịch sửcũng không nằm ngoài quy luật đó Thực tế cho thấy phân môn Lịch sử giữ một vị tríquan trọng trong các môn học ở trường phổ thông, có nhiều điều kiện thuận lợi trongviệc rèn luyện và phát triển các kỹ năng tự chiếm lĩnh, khám phá tri thức của ngườihọc Thế nhưng, giờ học lịch sử đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với cả giáoviên và học sinh khi sách giáo khoa đưa vào lượng kiến thức khá nhiều, (nhất làchương trình lịch sử lớp 12) trong khi thời gian học tập trên lớp có hạn Đặc biệt trongthực tế hiện nay, khi cả xã hội đang phải đối phó với đại dịch Covit 19, dịch bệnhCovit 19 cũng đã làm thay đổi nhiều yếu tố của ngành giáo dục Vì vậy việc rèn luyệnnăng lực tự học cho học sinh trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng làđiều vô cùng cần thiết dù học trực tiếp hay dạy học trực tuyến

Thực tế trong dạy học, kênh, nguồn tài liệu tham khảo cho học sinh quá rộng

mà hiểu biết của học sinh còn nhiều hạn chế Điều này đòi hỏi người giáo viên cầnphải thay đổi phương pháp dạy học tốt nhất để giúp kích thích khả năng ham học hỏi,say mê nghiên cứu, hình thành ở học sinh những kỹ năng tự học nhằm rút ngắn thờigian học tập trên lớp mà vẫn đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của giáo dục và thời đại

Vì thế việc nâng cao năng lực tự học cho học sinh là một sự lựa chọn tối ưu nhất trong hành trình nâng cao hiệu quả dạy học mà người giáo viên đang kiếm tìm

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong những năm gần đây dạy học lịch sử ở trường THPT đã có nhiều chuyểnbiến tích cực và đã đạt được nhiều thành tích Tuy nhiên, trong dạy học nhìn chungnhiều giáo viên vẫn chưa chú trọng nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng và phát triểnnăng lực tự học cho học sinh Giáo viên có tâm lí trình bày trọn vẹn kiến thức sáchgiáo khoa, ít chú trọng đến việc liên hệ, mở rộng tri thức, rèn luyện các kỹ năng tựhọc cho học sinh Vì thế việc học sinh chuẩn bị bài chu đáo ở nhà, chủ động nắm bắttri thức khoa học bằng con đường tự nghiên cứu, tự học ít khi xảy ra Chính vì thế cho

Trang 6

nên nhiều giờ học lịch sử thường trầm lắng, tạo cảm giác mệt mỏi, không có hứng thúhọc tập, các em có thái độ dửng dưng, thờ ơ.

Qua tiến hành thăm dò khảo sát ngẫu nhiên 100 học sinh cả ba khối lớp (bằngtrao đổi trực tiếp lẫn thăm dò qua phiếu trắc nghiệm (ở phụ lục 1), tôi nhận thấy cóđến 77% học sinh thừa nhận rất lười đọc sách giáo khoa Hầu như các em chỉ đọc lướtqua các đề mục mà chưa có sự suy luận, ghi chép, soạn bài, làm bài tập Các hình thứchọc tập mang tính tích cực ít được sử dụng, kỹ năng hệ thống kiến thức, sơ đồhóa còn thấp, chưa được hình thành Rất nhiều học sinh soạn bài mang tính chất đốiphó bằng cách chép lại từ sách giáo khoa, hoặc từ sách bài tập, mà không hiểu bài.Khi đã được giáo viên hỏi bài cũ rồi thì không học bài nữa, bỏ qua việc soạn bài,chuẩn bị bài trước khi lên lớp

Việc chưa chú trọng chuẩn bị bài trước ở nhà đã quyết định rất lớn đến các hoạtđộng tự học chủ yếu của các em trong giờ học trên lớp Trong giờ học, các em chủyếu nghe giáo viên giảng và ghi chép vào vở một cách máy móc, rập khuôn Học sinh

ít tham gia thảo luận, bày tỏ quan niệm, ý kiến riêng của cá nhân Khi giáo viên đặtcâu hỏi các em cũng ngại xung phong xây dựng bài, chỉ trả lời khi được cộng điểmhoặc bị chỉ định Những yếu tố này đã làm triệt tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của ngườihọc Vì thế, khả năng phát hiện vấn đề của học sinh rất chậm Hầu hết các câu trả lờicủa học sinh chỉ dừng lại ở việc đọc nội dung tương ứng trong sách giáo khoa Do đó,học sinh nắm kiến thức chưa có tính hệ thống, dễ dàng quên ngay sau khi tiết học kếtthúc Điều đó cho thấy phương pháp, hình thức trong dạy học lịch sử mặc dầu đã cónhiều thay đổi tích cực, tuy nhiên chưa thực sự đồng bộ trong tất cả các giáo viên.Vậy nên chưa tạo sự hứng thú, chưa kích hoạt được tính chủ động, tích cực của họcsinh cũng như chưa được hình thành và phát triển năng lực tự học

Trước tình hình thực tế trên, mỗi giáo viên cần mạnh dạn tìm tòi, đổi mớiphương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú học tập cho học sinh để từ đó các emtích cực, chủ động, sáng tạo tự mình chiếm lĩnh kiến thức Điều này đặt ra vấn đề cầnrèn luyện năng lực tự học cho học sinh trong nhà trường THPT là điều rất cần thiết

2.2 Vai trò của giáo viên khi tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng tự học cho học sinh

Tổ chức tự học cho học sinh là một bộ phận của hoạt động học tập, để hoạtđộng tự học của học sinh diễn ra một cách có hiệu quả thì hoạt động đó phải được tổchức, sắp xếp một cách khoa học Nói cách khác, giáo viên phải là người thiết kế,hoạch định và tổ chức để hướng dẫn học sinh thực hiện việc học của mỗi cá nhân mộtcách chủ động và hiệu quả Tổ chức tự học cho học sinh là quá trình giáo viên thiết

Trang 7

kế, sử dụng các biện pháp và tổ chức hoạt động học tập có mục đích nhằm phát huytối ưu năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.

Để tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng tự học cho học sinh đạt hiệu quả thì người giáo viên phải thực hiện đúng vai trò của mình như sau:

Thứ nhất, giáo viên định hướng hoạt động học tập cho học sinh thông qua việc

xác định mục đích, mục tiêu học tập và chuyển giao mục đích, mục tiêu ấy cho họcsinh qua yêu cầu của bài tập, bài học để hình thành kỹ năng cần thiết

Thứ hai, giáo viên lựa chọn và áp dụng phương pháp dạy học tương ứng để

hình thành tri thức, kỹ năng và phương pháp tiếp cận tri thức ở học sinh Giáo viên làngười tổ chức, điều khiển và giám sát việc tự học của học sinh khi giao nhiệm vụ họctập cho các em, qua đó giáo viên giúp học sinh một số việc như xây dựng nội dung tựhọc, hướng dẫn phương pháp tự kiểm tra, tự giám sát quá trình thực hiện để thúc đẩy

tự học của học sinh có hiệu quả Mặt khác học sinh khi xác định vấn đề tự học là các

em biết cách lựa chọn nội dung học tập, các em coi việc giải quyết vấn đề đặt ra làmột nhu cầu của bản thân, trong đó giáo viên chỉ là người đưa ra tình huống có vấn

đề Khi học sinh có nhu cầu tiếp nhận và biết cách giải quyết có hiệu quả những vấn

đề đặt ra, trên cơ sở đó học sinh từng bước phân tích vấn đề nhận thức theo đơn vịkiến thức để có phương án giải quyết vấn đề, nghĩa là học sinh hình thành kỹ năng lập

kế hoạch tự học

Thứ ba, giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập đã chiếm lĩnh kiến

thức ở trên lớp, thông qua đó hình thành kỹ năng tự học, năng lực tư duy, và tự giảiquyết vấn đề Hoạt động tự học của học sinh được xác định bởi mức độ hoàn thànhcác bài tập mà giáo viên giao cho Bài tập không những là sự tiếp nối các vấn đề cầnphải giải quyết sau khi đã học trên lớp mà còn là sự khởi đầu cho việc lĩnh hội tri thức

ở bài học tiếp theo Một số dạng bài tập giáo viên có thể giao cho học sinh như: bàitập củng cố hay mở rộng tri thức đã học; bài tập phát hiện vấn đề mới; bài tập lĩnh hộitri thức mới; bài tập tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học Mỗi dạng bài tập sẽ tạo điềukiện để học sinh hình thành và phát huy được một số kỹ năng tự học tương ứng

Thứ tư, giáo viên kiểm tra quá trình lĩnh hội của học sinh, điều chỉnh sự tác

động của mình đối với học sinh và xác nhận kết quả học tập của học sinh, từ đó mở raquy trình dạy học mới, giao cho học sinh nhiệm vụ học tập mới

Trang 8

Thứ năm, giáo viên cần phát hiện ra những khó khăn mà học sinh gặp phải

trong quá trình học tập, tìm tòi, nghiên cứu để can thiệp hợp lý, khuyến khích tính chủđộng tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh Trong các yếu tố khách quan ảnhhưởng tới sự tự học của học sinh Ngoài yếu tố môi trường, yếu tố xã hội thì yếu tốngười giáo viên được xem là ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tự học của học sinh

Vì trong quá trình dạy học giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp cận trithức khoa học và hình thành những nhóm kỹ năng tự học cho học sinh

Tóm lại, biện pháp tổ chức tự học cho học sinh là một bộ phận của quá trìnhdạy học, giáo viên cần sử dụng một cách khoa học phối hợp các yếu tố của quá trìnhdạy học như phương pháp, phương tiện, công cụ, tài liệu, môi trường, thời gian, côngnghệ dạy học để tổ chức, điều khiển hoạt động tự học cho học sinh đạt mục tiêu củabài học

2.3 Các hình thức tự học trong dạy học

Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp hay không trực tiếp của giáoviên, tự học thực hiện qua nhiều bước khác nhau như: tiếp nhận thông tin từ nhiềukênh khác nhau, xử lý thông tin đã tiếp nhận dựa vào kinh nghiệm hiểu biết của bảnthân, tự kiểm tra, đánh giá thông tin thu được và giải quyết các vấn đề do nhiệm vụnhận thức và thực tiễn đạt ra, tự học diễn ra với các hình thức sau:

2.3.1 Tự học hoàn toàn

Là hình thức mà người học hoàn toàn độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tậpcủa mình, vai trò của người học là nhân tố trọng yếu nhất trong quá trình chiếm lĩnhtri thức Hình thức tự học này còn gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học

2.3.2 Tự học có sự hướng dẫn của thầy nhưng không giáp mặt

Hình thức này hiện nay đang được các trường học và các cấp học thực hiện kháphổ biến Trước tình hình dịch bệnh Covit 19 đang diễn ra phức tạp Nhiều nơi trên cảnước, các trường học đang chuyển từ hình thức dạy học trực tiếp sang dạy học trựctuyến hoặc kết hợp cả dạy học trực tiếp với dạy học trực tuyến Vì vậy hình thức tựhọc có sự hướng dẫn của thầy nhưng không giáp mặt được giáo viên sử dụng trongtiết học là điều không thể thiếu, đặc biệt là trong các tiết học online Hình thức tự họcnày đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tính tự lực cao, phải tuân thủ theo chỉdẫn của thầy Hiệu quả của hình thức tự học này phụ thuộc vào vai trò của người

Trang 9

hướng dẫn, và vai trò tích cực, chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học tập của ngườihọc.

2.3.3 Tự học dưới sự tổ chức, chỉ đạo, điều khiển trực tiếp của thầy

Thông qua biện pháp tổ chức, định hướng, thiết kế chỉ đạo của người thầynhằm giúp cho người học tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học tập củamình bằng hoạt động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh nhằm hoànthành nhiệm vụ học tập Kết quả tự học của học sinh trong hình thức này phụ thuộcvào mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa người dạy và người học, yếu tố đóng vaitrò quan trọng là sự tổ chức, chỉ đạo của thầy, yếu tố đóng vai trò quyết định là sự tíchcực, tính tự giác, năng lực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của học sinh Vìvậy nhiệm vụ quan trọng của người thầy trong hình thức tự học này là phải phát huyđược tính chủ động tích cực, tính tự giác, tính độc lập hoàn thành các nhiệm vụ họctập của học sinh, hình thành phương pháp tự học cho học sinh để các em có khả năng

tự học, tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình

2.4 Một số kỹ năng và biện pháp nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh môn lịch sử.

2.4.1 Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh để hình thành năng lực tự học môn lịch sử.

2.4.1.1 Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa

Sách giáo khoa là một trong những công cụ không thể thiếu để phục vụ cho quátrình tự học Đó là phương tiện trực quan có giá trị nhất mà học sinh có thể sử dụng đểnắm bắt tri thức một cách chủ động, sâu rộng và bước đầu hình thành năng lực tự học.Việc đọc sách giáo khoa như là một hoạt động cơ bản đầu tiên của năng lực tự học để

tránh tình trạng “thiếu kiến thức nhưng lại thừa giáo khoa”.

Kỹ năng đọc hiểu nội dung sách giáo khoa là một quá trình vận dụng những trithức, kinh nghiệm đã có để tiến hành một cách thành thạo các thao tác, hành động, trítuệ nhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức, kinh nghiệm chứa đựng trong sách, biến nộidung tri thức đó thành kinh nghiệm của bản thân

Khác với sách giáo khoa lịch sử trung học cơ sở, sách giáo khoa trung học phổthông được biên soạn (có thay đổi ít nhiều) nhằm phát huy tính tích cực của học sinhtrong học tập và soạn bài Về mặt nội dung, cũng giống như sách giáo khoa của cácmôn học khác, sách giáo khoa môn lịch sử cấu thành hai phần: Phần bài viết- kênhchữ- và phần kênh hình Mỗi bài trong sách đều có phần mở đầu rất ngắn gọn ở từngtiết, từng bài, đó là những vấn đề học sinh cần lưu ý để tập trung theo dõi khi học tập,đồng thời là vấn đề mà giáo viên phải thực hiện qua việc hướng dẫn học sinh tự học

Trang 10

* Vai trò của giáo viên khi hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng sách giáo khoa khi học môn lịch sử

Đối với học sinh, sách giáo khoa là tài liệu cơ bản để tự học tập Nó có ý nghĩalớn đối với học sinh về các mặt như cung cấp kiến thức, giáo dưỡng và phát triển, chonên có thể nói, sách giáo khoa là người thầy thứ hai của học sinh Vì vậy biết sử dungsách giáo khoa trong học tập trên lớp và ở nhà là rất cần thiết Giáo viên cần có kỹnăng hướng dẫn học sinh biết sử dụng sách giáo khoa

* Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa trong giờ học trên lớp

Sách giáo khoa là người bạn đồng hành, thân thuộc với học sinh trong quãngđời đi học của mình, vì vậy biết sử dụng và sử dung như thế nào là vấn đề đặt ra đốivới giáo viên Muốn vậy, giáo viên cần:

- Yêu cầu học sinh chăm chú nghe giảng, tích cực suy nghĩ tìm ra câu trả lờicho câu hỏi mà giáo viên đặt ra, nắm vững nội dung chính và ghi theo ý hiểu củamình vào vở ghi

- Rèn luyện cho học sinh thao tác nhanh nhẹn khi sử dụng sách giáo khoa trongcác trường hợp:

+ Nghiên cứu sách giáo khoa để trao đổi, thảo luận trong nhóm nhằm giải quyếtvấn đề mà giáo viên đặt ra

+ Quan sát kênh hình trong sách, đi theo gợi ý của giáo viên để tìm ra nội

dung chính trong kênh hình

+ Nghiên cứu nội dung kênh chữ kết hợp sơ đồ, lược đồ và các ký hiệu tronglược đồ để trình bày diễn biến của sự kiện lịch sử

+ Tự đọc các đoạn có nội dung ít phức tạp trong sách, theo hướng dẫn của giáoviên để rút ra kiến thức

- Hướng dẫn học sinh hiểu sự thống nhất giữa bài giảng của giáo viên và nội dung của sách giáo khoa, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học ở nhà

- Hướng dẫn học sinh nắm vững các mối liên hệ giữa các mục bài, các bài, cácchương trong sách giáo khoa để giúp các em thấy được tính hệ thống của kiến thứclịch sử

* Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa trong học tập ở nhà để học

bài cũ và chuẩn bị bài mới.

Muốn giúp học sinh làm tốt việc này, giáo viên cần:

- Hướng dẫn học sinh biết học bài cũ trên cơ sở nắm vững nội dung sách giáokhoa và vở ghi để nắm vững nội dung cơ bản trong sách, hiểu rõ những điều phântích, bổ sung làm sâu sắc hơn kiến thức trong sách của giáo viên

Ví dụ: khi học mục 2.IV, Bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)”, chương trình lịch sử 12- ban cơ bản THPT: Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950, học sinh bổ sung những hiểu biết đã được học và

nhớ lại lời dạy của giáo viên về các vấn đề: Tại sao mở màn chiến dịch

Trang 11

quân ta lại đánh Đông Khê? Tại sao ta chủ động mở chiến dịch? Tại sao ta thắng lợi ởchiến dịch Biên giới?

- Biết tự trả lời các câu hỏi, làm được bài tập trong sách giáo khoa Để rènluyện cho học sinh kỹ năng này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện: Xácđịnh yêu cầu câu hỏi (bài tập), xác định nội dung câu trả lời có trang sách giáo khoa

và tài liệu tham khảo, dự kiến câu trả lời dưới dạng dàn ý, tái hiện lại kiến thức, viếtchi tiết câu trả lời và tự trình bày vấn đề

- Đọc trước sách giáo khoa bài tiếp theo để chuẩn bị cho bài mới (đọc và ghitóm tắt bài viết trong sách giáo khoa, ghi những nội dung khó hiểu, các thuật ngữ vàkhái niệm khó )

khoa Lịch sử 12, ban cơ bản)

- Xác định mục đích đọc sách: Vì đây là bài đầu tiên phần lịch sử Việt Nam củachương trình sách giáo khoa Lịch sử 12 THPT nên giáo viên cần giúp học sinh thấy được nội dung, tính logic, hệ thống của chương trình Giáo viên đặt ra các câu hỏi định hướng giúp học sinh xác định được mục đích của việc đọc nội dung bài: Nêu được khái quát lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 gồm mấy chương?, VớiBài 12- bài mở đầu chương và cũng là bài đầu tiên của chương trình lịch sử 12 phần lịch sử Việt Nam- Với bài này, giáo viên yêu cầu học sinh trình bày được những thay đổi của tình hình thế giới và tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã tạo ra những chuyển biến mới về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục

ở Việt Nam Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam trong những năm 1919- 1925cũng có bước phát triển mới…? Giáo viên gợi dẫn một số vấn đề ban đầu và rèn luyệncho học sinh thói quen tự đặt ra những câu hỏi hay vấn đề còn thắc mắc để học sinh

có hứng thú và phương pháp đọc sách hiệu quả

- Khảo sát: Đọc lướt nội dung bài để xác định các vấn đề chính bằng cách đọctên các mục của bài, nắm sơ qua nội dung của từng mục

Trang 12

- Đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá: Để thực hiện bước này cần đọc kĩ nộidung bài học và hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, luyện tập cuối bài để xác định

nội dung trọng tâm Nội dung trọng tâm của Bài 12: “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925” là tìm hiểu về chương trình khai thác thuộc địa

lần thứ hai của thực dân Pháp, những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đến năm 1924

- Chốt lại: học sinh ghi chép lại những ý chính trong mỗi mục (ghi theo cáchhiểu của mình)

- Kiểm tra: Trong khâu này giáo viên có thể yêu cầu học sinh trình bày lời nộidung các em đã đọc hoặc đưa ra hệ thống câu hỏi kiểm tra mức độ thu nhận kiến thứccủa học sinh

+ Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp: Hoàn cảnh,nội dung và tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai đến Việt Nam

+ Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam Thái độchính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp

+ Hoạt động tiêu biểu của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 1919 – 1924+ Cống hiến của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam (giai đoạn

1919 – 1924)

Như vậy, việc đọc sách giáo khoa không còn là hoạt động đọc bình thường mà

là một hoạt động hoàn toàn mang tính tư duy độc lập có mục đích của học sinh, mangtính định hướng nhằm phát huy cao độ tính tự giác của các em Đọc trước nội dungbài học trong sách giáo khoa vừa thoả mãn tính tò mò, khao khát tìm tòi, hiểu biếtkhám phá vừa phát huy được tính chủ động độc lập sáng tạo của học sinh Đây chính

là bước đầu tiên trong quá trình rèn luyện cho học sinh cách đọc sách, thói quen đọcsách, tự nghiên cứu chiếm lĩnh tài liệu

Tóm lại, hướng dẫn học sinh sử dụng tốt sách giáo khoa để học lịch sử là một

kỹ năng nghiệp vụ sư phạm bộ môn góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Để rèn luyện kỹ năng này nhằm hình thành và phát huy ở học sinh năng lực tự học,giáo viên cần phải nắm vững nội dung công việc của kỹ năng, nắm vững lý luận dạyhọc bộ môn và thường xuyên vận dụng trong chuẩn bị, giảng bài để biến những kiếnthức đã học, hiểu được trở thành hoạt động thực tiễn và dần dần thành thạo

2.4.1.2 Kỹ năng nắm bắt hệ thống kiến thức sách giáo khoa

Sau khi đọc sách giáo khoa, học sinh phải thể hiện những gì mình đã đọc thông qua việc nắm bắt hệ thống kiến thức Kiến thức các bài học rất phong phú, là những

Trang 13

sự kiện, hiện tượng, những nhận định vừa khái quát vừa cụ thể, là hệ thống kiến thức

cơ bản chủ yếu của bài học Vì vậy, việc phát hiện hệ thống kiến thức, đánh giá, nhậnxét đòi hỏi sự căng thẳng về tư duy và các hiểu biết cơ bản về logic học,

Để làm việc có hiệu quả với bài học trong sách giáo khoa, học sinh có thể tómtắt vấn đề, lập bảng thống kê, bảng biểu về một vấn đề, một sự kiện, hiện tượng lịch

sử nào đó trong bài học dưới dạng tóm tắt, giúp nắm chắc hệ thống kiến thức, logicbài học Như vậy, các em tự làm việc với sách giáo khoa, tiến hành một loạt thao tác:thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá, nhận xét, liên hệ, khái quát hóa, hình thànhnhững kết luận, thấy được sự liên quan giữa quá khứ với hiện tại, giữa lịch sử với vănhóa, chính trị, Có như vậy, các em mới phát huy được tính chủ động trong học tập,thu nhận kiến thức được một cách vững vàng và sâu sắc

* Các bước tiến hành:

- Đọc lướt SGK để nắm bắt hệ thống các đề mục trong bài học

- Tìm hệ thống kiến thức cho từng mục, yêu cầu cần giải quyết cho từng mục bài, các

em có thể tự đặt câu hỏi: Nội dung này đề cập đến vấn đề gì? Học sinh có thể đi tìmcâu chủ đề cho từng mục bài hoặc tập trung vào các từ khóa quan trọng để trả lời chocâu hỏi trên

- Hoàn thiện sơ đồ, bảng hệ thống hóa kiến thức

Ví dụ minh chứng: Với bài 12: “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm

1919 đến năm 1925”, chương trình lịch sử 12 THPT, ban cơ bản, phần hai, lịch sử

Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc sáchgiáo khoa, xác định hệ thống kiến thức và dàn ý hóa sơ đồ kiến thức bài học Từ đó,học sinh biết cách rèn luyện cho mình kỹ năng đọc sách giáo khoa, đạt được mục tiêucủa bài học ở những bài tiếp theo trong chương trình

+ Đọc lướt SGK, xác định bài học có 2 mục lớn với nhiều các đề mục nhỏ.+ Tìm hệ thống kiến thức trọng tâm cho từng đề mục

Mục I: Những chuyển biến mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở

Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất

Khái quát được hoàn cảnh, nội dung và đặc điểm của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ở Đông Dương (1919 – 1929)

Hiểu được tác động của chương trình khai thác đối với nền kinh tế và xã hộiViệt Nam: Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội Việt Nam

Thái độ chính trị và khả năng cách mạng của các giai cấp, tầng lớp trong xãhội Việt Nam

Mục II: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925

Trang 14

Nét chính hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1919-1925: thời gian, nội dunghoạt động và ý nghĩa

+ Hoàn thiện sơ đồ, hệ thống hóa kiến thức: Học sinh có thể ghi chép lại hệthống các kiến thức đã khái quát được thành bảng biểu, sơ đồ kiến thức theo cáchriêng của mình

Như vậy, việc phát hiện hệ thống kiến thức trọng tâm, liên kết các vấn đề theoquan hệ logic là một năng lực rất quan trọng trong việc tiếp nhận kiến thức văn học

sử Do vậy, một mặt các em nắm bắt kiến thức nhanh hơn, dễ nhớ hơn mặt khác rènluyện được khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, chủ động trong học tập

Ví dụ ,ở mục 1.I: Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp,

học sinh có thể biểu thị bằng sơ đồ hóa kiến thức như sau:

Việc rèn luyện cho học sinh nhóm kỹ năng làm việc với sách giáo khoa theohướng hình thành năng lực tự học cho người học từ việc đọc hiểu nội dung đến nắmbắt hệ thống kiến thức sách giáo khoa ở bộ môn Lịch sử nhằm mục tiêu lĩnh hội trithức một cách đầy đủ nhất, nhanh nhất Người học hoàn toàn chủ động, tự khám phásách giáo khoa chiếm lĩnh tri thức Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ nắmlấy những khái niệm khoa học dưới dạng vừa tầm với độ tuổi, dần dần đạt tới kỹ năng

tự mình phân tích đánh giá các sự kiện lịch sử

2.4.1.3 Kỹ năng thực hiện các câu hỏi sau mỗi mục bài và phần câu hỏi (bài tập) ở cuối bài học

Trang 15

Sau khi đọc, nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, các em cần có kỹ năng soạnbài ở nhà theo các câu hỏi sau mỗi mục bài hoặc câu hỏi và bài tập ở cuối bài học,phần luyện tập nhằm mục đích củng cố lại nội dung, kiểm tra lại kiến thức mà mình tựhọc được Thực tế việc học sinh soạn bài, chuẩn bị bài ở nhà lại đặc biệt có ý nghĩađối với những tiết học Nếu các em không có sự chuẩn bị, hoặc chuẩn bị bài đối phó,qua loa thì tiết dạy dễ rơi vào tình trạng độc diễn của giáo viên, tạo cảm giác nhàmchán, học sinh sẽ lúng túng, quá trình nắm bắt tri thức chậm chạp, khó khăn và chắcchắn hiệu quả tiết sẽ không cao Ngược lại, một học sinh chuẩn bị bài kỹ lưỡng ở nhà

sẽ tự tin và hăng hái hoạt động, phát biểu, nắm bắt vấn đề nhanh, sâu sắc Điều này cóđược là bởi quá trình trả lời câu hỏi chính là quá trình bước đầu học sinh tự mìnhkhám phá, phân tích, cắt nghĩa, chiếm lĩnh kiến thức bài học cả về mặt nội dung lẫnhình thức Hệ thống câu hỏi sẽ có tác dụng dẫn dắt các em từng bước khám phá, địnhhướng tiếp cận bài học Tổ chức cho học sinh hoạt động làm việc trong giờ học chính

là cách giáo viên kiểm soát, rèn luyện cho các em kỹ năng soạn bài ở nhà hiệu quả

* Các bước tiến hành:

- Xác định yêu cầu các câu hỏi trong sách giáo khoa

- Quan sát, tìm ý chính, giải thích, phân tích, trình bày, trả lời cho câu hỏi

- Đọc thêm sách tham khảo, các tài liệu trên trang web bổ sung cho vấn đề (nếu có)

Ví dụ minh chứng: Trong sách giáo khoa Lịch sử 12 ; Bài 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc( 1953-1954), trang 156, phần câu hỏi và tập bài có câu hỏi: Chứng minh chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi quân sự lớn nhất của ta trong kháng chiến chống Pháp và là thắng lợi quyết định buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ năm 1954, chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Đông Dương? Học

sinh phân tích và thực hiện câu hỏi:

Xác định yêu cầu: Làm rõ chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi quân sự lớnnhất của ta trong kháng chiến chống Pháp và là thắng lợi quyết định buộc thực dânPháp phải kí Hiệp định Giơnevơ năm 1954 Như vậy yêu cầu của bài tập là đòi hỏihọc sinh phải động não suy nghĩ để chứng minh vấn đề Phải suy nghĩ về từ khóa củacâu hỏi đến việc lấy các dẫn chứng để minh chứng cho nhận định đó

Quan sát, tìm ý chính, giải thích, phân tích, trình bày trả lời cho câu hỏi: yêucầu làm nổi bật các ý sau:

+ Chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm thất bại hòan toàn kế hoạch Nava Đây làquân bài cuối cùng của Pháp, Mĩ trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương

+ Phá vỡ được tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, “pháo đài bất khảxâm phạm” của Pháp

1

Trang 16

+ Đây là trận đánh được quân và dân ta chuẩn bị chu đáo với tinh thần: tất cảcho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng.

+ Thắng lợi quân sự lớn nhất trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết địnhđến thắng lợi ngoại giao trên bàn đàm phán, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ.Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lợi quân sự lớn nhất trong cuộc khángchiến chống Pháp của dân tộc ta, góp phần quyết định vào thắng lợi trên bàn đàmphán ở Hội nghị Giơnevơ

Như vậy, kỹ năng thực hiện các câu hỏi trong sách giáo khoa phần câu hỏi vàbài tập hoặc phần câu hỏi sau các mục trong bài học là một hoạt động hoàn toàn mangtính tư duy độc lập có mục đích nhằm phát huy cao độ tính tự giác của học sinh Việcthành thạo kỹ năng này chính là một mắt xích quan trọng giúp các em tiếp thu nộidung bài học tốt nhất

2.4.1.4 Kỹ năng thu thập và xử lí thông tin liên quan đến bài học

Một đặc điểm dễ nhận thấy của kiến thức lịch sử chính là có tính hệ thống,logic về mặt kiến thức Mỗi một chương là xâu chuỗi hệ thống kiến thức Do đó,muốn hiểu được bản chất vấn đề, học sinh cần phải nắm vững các kiến thức về lịch sửcủa từng bài Mặt khác, phải biết thu thập và xử lí thông tin liên quan đến bài học.Bên cạnh đó, hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, tài liệu để phục vụ cho bài học vôcùng phong phú Ngoài sách giáo khoa bắt buộc, sách tham khảo, học sinh có thể dễdàng tìm kiếm thông tin trên mạng xã hội Nếu học sinh không biết thu thập và xử lícác thông tin sẽ dễ dẫn đến tình trạng lệch hướng, xa rời trọng tâm bài học, thậm chícác em bị rối trong một số lượng kiến thức lớn liên quan bài học

Có thể khẳng định, để học tốt bài học lịch sử, học sinh phải biết cách thu thập

và xử lí những tư liệu có liên quan đến bài học để phục vụ cho bài học lịch sử thêmsâu và rộng

* Các bước tiến hành:

- Tìm kiếm tài liệu

- Lưu trữ, xâu chuỗi kiến thức, sắp xếp trật tự, rõ ràng, ghi chú thông tin tham

khảo đầy đủ để tiện cho bài học

- Đọc tài liệu và ghi chép những vấn đề có liên quan đến nội dung bài học

- Giáo viên kiểm tra, kích thích hoạt động thu thập, chọn lọc, sắp xếp tài liệu phục

vụ cho việc nắm bắt tri thức

Ví dụ minh chứng: Trong sách giáo khoa Lịch sử 12 THPT, Bài 20: Cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp kết thúc( 1953-1954), trang 156, sau tiểu mục IV.2

Trang 17

có câu hỏi: Phân tích nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945- 1954? Để trả lời câu hỏi này, nếu chỉ dừng lại ở kiến thức

trong bài 20 thì chưa đủ Do đó, đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng thu thập, lựa chọn,sắp xếp kiến thức liên quan đến câu hỏi này Đó chính là nhận thức được về quá trìnhdiễn tiến của lịch sử Việt Nam kể từ Đảng ra đời, đặc biệt là giai đoạn lịch sử ViệtNam 1945 - 1954

+ Tìm kiếm tài liệu: Học sinh có thể đọc SGK Lịch sử lớp 12 THPT, Tiến trình lịch sử Việt Nam, Tư liệu lịch sử lớp 12, hoặc tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet

+ Sau khi tìm kiếm các tài liệu liên quan đến câu hỏi, các em sắp xếp, ghi chú thông tin đầy đủ

+ Đọc tài liệu và ghi chép những vấn đề có liên quan đến nội dung bài học.+ Giáo viên kiểm tra, kích thích hoạt động thu thập, chọn lọc, sắp xếp tài liệu

phục vụ cho việc nắm bắt tri thức Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi: Vai trò của Đảng, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào đối với cách mạng Việt kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1954? Tại sao nói: toàn dân, toàn quân ta đoàn kết dũng cảm trong chiến đấu, lao động, sản xuất Có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, có mặt trận dân tộc thống nhất,

có lực lượng vũ trang sớm xây dựng và không ngừng lớn mạnh Có hậu phương rộng lớn, vững chắc về mọi mặt cũng là những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp? Đối với Việt Nam và đối với thế giới, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 -1954 thắng lợi có ý nghĩa gì? Nếu học sinh trình

bày đầy đủ, giáo viên có thể tuyên dương và khuyến khích cho điểm các em để tạođộng lực, sự ham thích trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan bài học và sự chuẩn bị ởnhà

Việc biết sưu tầm những tài liệu, xâu chuỗi kiến thức có liên quan đến bài học

là cách để học sinh vừa hiểu sâu vừa hiểu rộng vấn đề được học một cách bền vững

và chắc chắn nhất, góp phần nâng cao nhận thức, phát triển tư duy, năng lực tự họccho các em Từ đó học sinh rút ra cho mình những bài học bổ ích về cách học, cáchsưu tầm tài liệu, cách chiếm lĩnh và sử dụng kiến thức, có nghĩa là học sinh đang đượcrèn luyện một kỹ năng tự học, một thói quen tự học tốt nhất

2.4.1.5 Kỹ năng tranh luận trong giờ học lịch sử

Giờ học hiệu quả là tạo ra được không khí tự do dân chủ, thoải mái để cho họcsinh có điều kiện phát huy hết khả năng của mình Vì vậy giờ học không còn mangtính chất độc thoại như trước đây mà trở thành một giờ học đối thoại Học sinh được

tự do tranh luận, đưa ra vấn đề phản bác và bảo vệ ý kiến của mình Rèn luyện chohọc sinh kỹ năng tranh luận là một cách học mang tính tư duy vừa có tác dụng hoàn

Trang 18

thiện tri thức vừa rèn luyện khả năng tư duy độc lập và khả năng tự học Đây chính làphép biện chứng của học - hỏi - hiểu Với việc tranh luận để bảo vệ ý kiến của mìnhhay phản bác lại ý kiến của người khác, học sinh trải qua một quá trình suy nghĩ,nghiền ngẫm, cân nhắc, đánh giá vấn đề, kết hợp với việc thuyết phục người nghebằng hệ thống lý luận phù hợp Các em trao đổi và lập luận trong hoạt động học vàchia sẻ với nhau những ý tưởng của mình Như vậy các em biết nghe người khác, hiểungười khác và biết bảo vệ ý kiến của mình.

Khác với bộ môn văn, kiến thức của bộ môn lịch sử đã được khẳng định vàtường minh trên các tiêu đề, các nhận định của bài học Vì thế, trong giờ học lịch sử,

giáo viên cần chuyển các nhận định đó thành“vấn đề” khi nó có “tình huống” Những

tình huống này có chứa mâu thuẫn và kích thích học sinh vận dụng hiểu biết một cáchlinh hoạt, sáng tạo trong tình huống mới để giải quyết vấn đề Học sinh tự tư duy độclập suy nghĩ, phán đoán, lập luận và bảo vệ ý kiến của mình mà không chịu ảnhhưởng của người khác, đồng thời huy động được vốn kiến thức để giải quyết vấn đề.Hình thành cho học sinh một thói tranh luận cũng đồng thời chúng ta hình thành chohọc sinh khả năng thẩm định đánh giá các vấn đề, và chỉ khi đó, các em mới thật sự làmột chủ thể có ý thức, một chủ thể sáng tạo

- Giáo viên định hướng cách lí giải đúng, hợp lí, củng cố, mở rộng vấn đề

Ví dụ minh chứng: Giáo viên đưa ra được các tình huống học tập: Khi giảng dạy bài 16 – lịch sử lớp 12: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng 8( 1939 -1945) Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ở hoạt động luyện tập, giáo viên có thể đưa ra một vấn đề cho học sinh tranh luận: Có ý kiến cho rằng cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng ăn may?” Bày tỏ quan điểm của em về vấn đề này như thế nào?.

+ Học sinh huy động vốn kiến thức vừa nhận thức được qua bài học cũng như

sự hiểu biết, khả năng phân tích, tổng hợp, giải quyết tình huống: trên thực tế, Cáchmạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam có phải là “một sự ăn may” không? Đứngtrước vấn đề này, học sinh hoàn toàn bị lôi cuốn và kích thích với ham muốn tìm hiểu,vận dụng kiến thức để lý giải Các em sẽ có cách lý giải riêng của mình dựa vào sựhiểu biết và khả năng phân tích, tổng hợp

Trang 19

+ Giáo viên định hướng cách lí giải đúng, hợp lí, củng cố, mở rộng vấn đề:Giáo viên hướng dẫn để các em có được một cách lý giải đúng, hợp lý, giáo viên cóthể củng cố và mở rộng Qua đó các em có thể tự mình rút ra được kết luận: Thực tếlịch sử cho thấy không bao giờ có sự ăn may nào cả, thắng lợi của Cách mạng thángTám là kết quả tất yếu từ sự chủ động, sáng tạo của Đảng cộng sản Việt Nam và lãnh

tụ Hồ Chí Minh

Rèn luyện kỹ năng tranh luận trong giờ học sử sẽ phát huy tối đa năng lực họctập tự giác tích cực của học sinh Qua tranh luận các em mới vỡ ra nhiều điều, hiểusâu sắc hơn vấn đề Mặt khác các em sẽ thu nhận được rất nhiều những tri thức mới

bổ ích từ thầy giáo, bạn bè Những tri thức học hỏi được từ các cuộc tranh luận này sẽ

vô cùng bền vững và phong phú Nó vừa có tác dụng khai sáng, hé mở nhiều điều bổích và sáng tạo vừa bồi dưỡng được phương pháp học tập để tự học suốt đời

2.4.2 Các biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh trong môn lịch sử.

2.4.2.1 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà

Để chuẩn bị bài mới, trong phần củng cố dặn dò của tiết học trước, giáo viênthường hướng dẫn học sinh về nhà đọc trước sách giáo khoa, tài liệu tham khảo vàsoạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài Đồng thời giáo viên cũng nêu ranhững vấn đề mà học sinh cần chuẩn bị trước khi lên lớp thông qua các câu hỏi gợi

mở hay các bài tập Với kiến thức đã học, các em không trả lời được hoặc chỉ trả lờiđược một phần, kích thích các em mày mò đọc sách để trả lời, tạo cho học sinh sự kếtnối, kế thừa giữa vốn kiến thức cũ với việc tìm hiểu kiến thức mới Câu hỏi có tínhđịnh hướng làm cho học sinh dễ hiểu, dễ tìm dựa vào sách giáo khoa hoặc các tài liệu

có liên quan mới kích thích được học sinh Nếu câu hỏi quá dễ hoặc quá khó sẽ làmcho học sinh chán nản, không hứng thú khi được yêu cầu chuẩn bị bài trước ở nhà

Một bài học lịch sử thường có dung lượng kiến thức nhiều với các câu hỏi bàitập mang tính khái quát, tổng hợp Nếu học sinh không có sự chuẩn bị bài tốt ở nhà,

giờ dạy rất dễ rơi vào tình trạng “cháy giáo án”, tiết học uể oải, nhàm chán Vì thế, để

việc chuẩn bị bài ở nhà đạt hiệu quả giáo viên cần có một thái độ quan tâm đúng mức.Giáo viên chuẩn bị càng kĩ, giao nhiệm vụ càng cụ thể chi tiết thì hoạt động học củahọc sinh càng đạt hiệu quả cao Tất nhiên điều này có đạt được hay không còn phụthuộc lớn vào vai trò tự học của học sinh Vì thế, giáo viên cần hình thành cho họcsinh kỹ năng đọc sách giáo khoa, chuẩn bị bài ở nhà tự giác, thường xuyên, động viên,khuyến khích kịp thời những học sinh có ý thức tự giác, đồng thời đôn đốc, kiểm tranhắc nhở học sinh thiếu ý thức hoặc làm mang tính chất đối phó

Ví dụ minh họa: Để chuẩn bị cho bài : Cách mạng khoa học – công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỷ XX ( Bài 10, SGK lịch sử 12 THPT), giáo viên hướng

dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà:

Trang 20

-Đọc toàn bộ nội dung bài học SGK

-Giáo viên yêu cầu học sinh truy cập đường link

(https://www.youtube.com/watch?v=_JAs1g_ 9PXo;) xem video cuộc cách mạng 4.0,sau đó HS trả lời các câu hỏi, nộp sản phẩm qua hệ thống quản lí học tập của

giáo viên ( trước buổi học)

- Soạn bài theo theo các câu hỏi hướng dẫn trong SGK và 1 số câu hỏi mà giáo

viên đưa ra: trình bày nguồn gốc, đặc điểm của cuộc cách mạng khoa hoc công nghệ nửa sau thế kỉ XX ? Nhận xét tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nửa sau thế kỉ XX? Trình bày khái niệm, nguồn gốc của xu thế toàn cầu hóa? Nêu những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa? Tác động của xu thế toàn cầu hóa đến các quốc gia, dân tộc? Liên hệ đến Việt Nam? Tại sao Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu không thể đảo ngược? Vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia đang phát triển? Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật có vai trò quan trọng thế nào đối với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế nước ta? Vì sao ? (lưu ý: Giáo viên dựa vào

đối tượng học sinh để đưa ra câu hỏi cho học sinh chuẩn bị, có thể chuyển giao câu hỏi

và yêu câu học sinh soạn theo cá nhân hoặc theo nhóm tùy vào mức độ câu hỏi Nếusoạn theo nhóm, giáo viên cho các nhóm tự chuyển sản phẩm cho nhau để nhận xétchéo giữa các nhóm rồi báo lại kết quả khi lên lớp)

Rõ ràng, việc chuẩn bị bài ở nhà sẽ giúp học sinh nắm sơ bộ kiến thức, từ đóhình thành các kỹ năng học tập, xử lí thông tin ở trên lớp Từ đó tạo cho các em thóiquen và ý thức tự học ngày được nâng cao

2.4.2.2 Sử dụng phiếu học tập

Với quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò hỗtrợ, dẫn dắt, tổ chức các hoạt động dạy học để phát huy được tính chủ động, sáng tạocủa học sinh đòi hỏi người dạy cần có phương pháp dạy học tích cực Trong đó, phiếuhọc tập là phương tiện cần thiết để tổ chức hoạt động giúp học sinh tự học, tự chiếm

lĩnh tri thức dưới sự dẫn dắt của giáo viên Phiếu học tập là những “tờ giấy rời” in

sẵn những công việc độc lập hoặc làm theo nhóm nhỏ được phát cho từng học sinh tựlực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học hoặc tự học ở nhà nhằm hướngtới kiến thức kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy

Khi sử dụng phiếu học tập sẽ rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thao tác hoạtđộng, phát huy năng lực độc lập nâng cao tinh thần trách nhiệm của học sinh tronghọc tập, rèn cho học sinh tư duy khái quát có khả năng chuyển tải thông tin ở mức độcao hơn Quan trọng hơn là giúp học sinh vừa chiếm lĩnh tri thức vừa nắm vững

Trang 21

phương pháp tái tạo kiến thức đó, phát triển năng lực và thói quen tự học, sáng tạo,giúp các em có thể tự học suốt đời Để sử dụng phiếu học tập có hiệu quả trong dạyhọc, giáo viên cần thiết kế sẵn trước khi lên lớp Phiếu học tập phải có nội dung vừasức, bám sát mục tiêu và chuẩn kiến thức kĩ năng, phù hợp đối tượng học sinh, vớithời gian hợp lí Hình thức phiếu học tập phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, mang tính

sư phạm và tạo được sự hứng thú cho học sinh

Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy, (SGK lịch sử lớp 10 THPT), giáo viên có thể phát phiếu học tập như sau:

Phiếu học tập số 1:

Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: đọc thông tin SGK trang 4,5,6 kết hợp quansát lược đồ, phát phiếu học tập cho học sinh theo từng cặp đôi Phiếu học tập: Quátrình tiến hóa của loài người

Nội dung

Loài vượn cổ

Người tối cổ

Người tinh khôn

Thời gian, địađiểm Đặc điểm

Công cụlao

động Phát minh

Tổ chức xãhội

Phiếu học tập số 2:

Phiếu học tập: Đời sống vật chất, tinh thần và tổ chức xã hội trong giai đoạn đầu của xã hội nguyên thuỷ Qua hai thời kỳ lịch sử, nguyên thủy và công xã thị tộc em

có nhận xét gì về: đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tổ chức xã hội

Nội dung Thời kỳ bầy người nguyên thủy Công xã thị tộc

Cách mạng đá mớiĐời sống vật

Giáo viên dựa vào đối tượng học sinh cụ thể để lựa chọn cách thức thực hiện phù hợp

Trang 22

Ảnh học sinh lớp 10A3 làm việc với phiếu học tập

Bằng việc sử dụng các phiếu học tập, chuyển hoạt động của giáo viên từ trìnhbày, giảng giải, thuyết trình sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo Mọi học sinh đềuđược tham gia tích cực, không còn thụ động nghe giảng đồng thời tạo được hứng thútrong giờ học, kích thích tư duy của học sinh

2.4.2.3 Hướng dẫn phát hiện và giải quyết vấn đề

Đây là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn

đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giảiquyết vấn đề, thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, đạt được nhữngmục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề".

Như vậy, trong học tập học sinh không chỉ tái hiện kiến thức mà còn biết vận dụngkiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong những tình huống mới, cho nên tìnhhuống có vấn đề sẽ có tác dụng lôi kéo học sinh vào quá trình tư duy, sáng tạo

Trong dạy học lịch sử, dạy học tạo tình huống có vấn đề là cách giáo viên đưa

ra, gợi mở cho học sinh suy nghĩ, đánh giá về một vấn đề nhất định theo những hướngkhác nhau, thậm chí trái ngược nhau, sau đó dựa trên những tìm hiểu của các em, giáoviên tổ chức cho các em trao đổi, bàn bạc về vấn đề đó Hoặc cũng có thể giáo viêntạo dựng tình huống có vấn đề bằng cách xây dựng hệ thống câu hỏi có vấn đề, gây sự

tò mò cho học sinh Học sinh tự tư duy độc lập suy nghĩ, phán đoán, lập luận đồngthời các em huy động được vốn kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề Để có thể giảiquyết được vấn đề ngoài những cố gắng tác động của giáo viên, người học cần có mộtthái độ say sưa học tập, tìm tòi, suy nghĩ, biết phát huy năng lực trí tuệ, sở thích, tâmhồn đạo đức Đó chính là quá trình phát huy nội lực của bản thân học sinh Từ đó các

em có ý thức chủ động tìm đến những kiến thức khoa học nói chung Tác động củathầy dù là quan trọng đến đâu, có hiệu lực đến mấy vẫn là ngoại lực, vẫn chỉ là hỗ trợ,thúc đẩy, tạo điều kiện Sức tự học, tự nghiên cứu của học sinh dù còn yếu kém đếnđâu vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Như vậy nội lực

Trang 23

chính là nhân tố quyết định sự phát triển của học sinh giúp các em có ý thức trách nhiệm trước những vấn có liên quan đến bản thân cũng như đối với công việc xã hội.

Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 23, Lịch sử 11, “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)” Đây là

một bài học có rất nhiều vấn đề lịch sử cho đến nay vẫn tồn tại nhiều luồng quan điểmđánh giá, nhìn nhận khác nhau, thậm chí trái chiều nhau Vì vậy, giáo viên sử dụngphương pháp tranh luận để giúp học sinh hiểu sâu sắc những nhân vật, sự kiện lịch sửtrong bài này là vô cùng cần thiết Để xác định được vấn đề tranh luận, giáo viên cầnphải xác định mục tiêu, yêu cầu của bài học cũng như nắm vững nội dung lịch sử Nộidung chính của bài là các phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ

XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất Bao gồm các cuộc đấu tranh theo khuynh hướngdân chủ tư sản, đại diện là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Kế hoạch tổ chức chohọc sinh tranh luận cần được thể hiện một cách chi tiết thông qua việc thiết kế giáo án.Trong giáo án, giáo viên cần phân định rõ ràng tiến trình của bài học bằng những hoạtđộng của giáo viên và học sinh, dự kiến phân bố thời gian cho từng hoạt động, tổ chứctranh luận sao cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và nghiêm túc Bêncạnh việc thiết kế giáo án, giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi Câu hỏi phải

rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, chính xác và ở nhiều mức độ khác nhau Giáo viên nêu vấn

đề tranh luận để học sinh tiếp nhận nhiệm vụ: Khi tình hình phong trào đấu tranh yêu

nước đang rơi vào ngõ cụt, rất cần một giai cấp lãnh đạo có tư tưởng tiến bộ, một con đường tiến bộ để cứu nước, cứu dân thì khuynh hướng dân chủ tư sản dường như

là lựa chọn tất yếu Nhưng cũng trên con đường đó, những người thanh niên lúc bấy giờ đứng trước 2 ngã rẽ Hoặc là đi theo xu hướng bạo động do Phan Bội Châu khởi xướng hoặc là xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề xuất Từ đó giáo viên đưa

học sinh vào tính huống có vấn đề, buộc học sinh phải giải quyết là lựa chọn đi theo 1trong 2 phong trào Có thể tổ chức tranh luận dưa trên cách chia nhóm sau đây

+ Nhóm 1,3: Xây dựng lập luận và tìm những dẫn chứng để bảo vệ quan

điểm đấu tranh cứu nước theo xu hướng bạo động của Phan Bội Châu

+ Nhóm 2,4: Xây dựng lập luận và tìm những dẫn chứng để bảo vệ quan

điểm đấu tranh cứu nước theo xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh

Như vậy, dạy học nêu vấn đề có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi họcsinh nhằm chuẩn bị cho các em thích ứng và hội nhập tốt đối với xã hội đang phát triển

và thay đổi liên tục Việc hướng dẫn phát hiện và giải quyết vấn đề sẽ tạo cho học sinh sựhưng phấn khi lĩnh hội kiến thức, làm cho việc học tập sẽ sôi nổi, hào hứng, dễ dàng hơn.Đây là một phương pháp để phát huy tốt nhất tính tích cực và rèn luyện năng lực tư duycho học sinh trong học tập lịch sử Nếu được khai thác một cách triệt để, sử dụng vớinhững biện pháp hợp lí, khoa học trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông thì phươngpháp tranh luận sẽ góp phần quan trọng để nâng cao chất lượng môn lịch sử cũng nhưtinh thần và thái độ học tập của học sinh khi học môn Lịch sử

23

Trang 24

2.4.2.4 Tổ chức học sinh thảo luận nhóm

Tổ chức học sinh làm việc theo nhóm là giải pháp đảm bảo quá trình học tậpdiễn ra tích cực và hiệu quả, qua đó giờ học trở nên mềm mại, linh hoạt, không rậpkhuôn, máy móc Mặt khác, tổ chức thảo luận nhóm còn tận dụng tối đa các nguồn lựcdạy học và tạo không gian hoạt động đa dạng, nâng cao khả năng hợp tác giữa giáoviên với học sinh, giữa học sinh với học sinh

Vai trò chính của việc thảo luận nhóm là tạo môi trường học tập đa thông tincho học sinh, tạo cơ hội giúp học sinh tự nghiên cứu, tự bộc lộ để thể hiện năng lực vàkết quả nghiên cứu của cá nhân, tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và nghiên cứu.Thông qua thảo luận nhóm học sinh không chỉ được học tri thức, kinh nghiệm, thái độ

mà còn được các kỹ năng thực hành, kỹ năng hợp tác, học cách tương tác, giúp các

em phát triển ý thức làm việc tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, phát huy tính tích cực,năng lực tự học của bản thân như năng lực tổ chức, quản lí, tạo điều kiện để học sinhtrải nghiệm thành công hay thất bại của mình Từ đó, kiến thức thu được của học sinhtăng thêm tính khách quan, khoa học, sâu sắc, bền vững, dễ nhớ Học sinh được trìnhbày ý kiến của mình, biết lắng nghe, có phê phán ý kiến của bạn từ đó học sinh dễ hòanhập, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập

Ví dụ minh họa: Bài 22: “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc

Mĩ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu, vừa sản xuất(1965 -1973)”, (SGK

lịch sử 12), bài học có dung lượng kiến thức khá lớn, thời lượng 3 tiết nên giáo viêncần phát huy tối đa tinh thần tự học và hoạt động nhóm của học sinh Vì thế, ở mục I

Chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam (1965 – 1968) Giáo viên

giao nhiệm vụ cho học sinh: Đọc thông tin mục I, sgk từ trang 173 đến 177 thảo luậntheo nhóm có thể tổ chức cho 3 nhóm lớn học sinh thảo luận trên lớp

Nhóm 1 Hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của “Chiến tranh cục bộ” Âm mưu, mụctiêu và hành động của Mĩ thực hiện Chiến tranh cục bộ

Nhóm 2 Để đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” cần đánh bại trên mặt trậnnào? Nêu những thắng lợi trên mặt trận đó

Nhóm 3 Ý nghĩa của Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 Yếu tố bất ngờnhất của Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 là gì

Ngày đăng: 22/09/2022, 08:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Khánh Bằng, 2001, Học cách tự học trong thời đại ngày nay, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
9. Vũ Quốc Chung, Lê Hải Yến, 2004, Để tự học có hiệu quả, NXB ĐHSP, Hà Nội Khác
10.Trần Bá Hoành, tháng 7/1998, Vị trí của tự học tự đào tạo trong quá trình giáo dục và đào tạo, Tạp chí nghiên cứu giáo dục Khác
11. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường, 2001, Quá trình dạy- tự học, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
12.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, 2004, Học và dạy cách học, NXB ĐHSP, Hà Nội Khác
13.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Vũ Văn Tảo, Châu An, 2005, Khơi dậy tiềm năng sáng tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
14.Thái Duy Tuyên, 2003, Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường Cao đẳng Đại học chuyên nghiệp, Chuyên đề Phương pháp dạy học cho học viên Cao học, ĐH Huế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

là học sinh tự do sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh, đường nét nên phát huy được tính sáng tạo từ đó giúp nhớ kiến thức lâu hơn - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
l à học sinh tự do sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh, đường nét nên phát huy được tính sáng tạo từ đó giúp nhớ kiến thức lâu hơn (Trang 26)
Hình ảnh một số bài viết thu hoạch của học sinh lớp 10 - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
nh ảnh một số bài viết thu hoạch của học sinh lớp 10 (Trang 30)
- GV giao nhiệm vụ cho HS: Đọc thông tin, kết hợp quan sát hình ảnh SGK(71, 72) trang 141, 142 - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
giao nhiệm vụ cho HS: Đọc thông tin, kết hợp quan sát hình ảnh SGK(71, 72) trang 141, 142 (Trang 33)
2. Phương thức - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
2. Phương thức (Trang 33)
lĩnh hội ở hoạt động hình thành kiến thức về: Điều kiện nảy sinh khuynh hướng cứu nước mới vào đầu TK XX, chủ trương, biện pháp và những hoạt động chủ yếu của PBC, PCT - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
l ĩnh hội ở hoạt động hình thành kiến thức về: Điều kiện nảy sinh khuynh hướng cứu nước mới vào đầu TK XX, chủ trương, biện pháp và những hoạt động chủ yếu của PBC, PCT (Trang 39)
đặc biệt là tiết văn học sử. Bảng số liệu cho thấy sau khi áp dụng đề tài nghiên cứu số lượng học sinh cảm thấy hứng thú với tiết học ở lớp thực nghiệm là 32 HS chiếm 80%, cao hơn nhiều so với lớp đối chứng 19 HS chiếm 46.3% - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
c biệt là tiết văn học sử. Bảng số liệu cho thấy sau khi áp dụng đề tài nghiên cứu số lượng học sinh cảm thấy hứng thú với tiết học ở lớp thực nghiệm là 32 HS chiếm 80%, cao hơn nhiều so với lớp đối chứng 19 HS chiếm 46.3% (Trang 43)
: Hình ảnh 1: Ảnh Phan Bội Châu và Phan - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
nh ảnh 1: Ảnh Phan Bội Châu và Phan (Trang 46)
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH KHỞI ĐỘNG Châu Trinh - Nâng cao năng lực tự học môn lịch sử cho học sinh THPT
2 HÌNH ẢNH KHỞI ĐỘNG Châu Trinh (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w