Cuối cùng dựa trên các bài học từ khủng hoảng nợ công ở một số nướcChâu Âu đã phân tích rút ra các giải pháp, khuyến nghị cần thiết cho nền kinh tếViệt Nam trong công cuộc quản lý nợ côn
Trang 1Luận văn Giải pháp đề xuất để quản
lý nợ công của Việt Nam
trong thời gian tới
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Chưa bao giờ nền kinh tế thế giới lại phải đối mặt cùng lúc với nhiều vấn
đề nóng hổi như những năm vừa qua Mở đầu cho 1 chuỗi những biến động đángchú ý đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007-2010) mà bắt nguồn của
nó từ Mĩ - đầu tầu của nền kinh tế , tài chính thế giới Những hệ quả kéo theo sau
đó cho đến hôm nay vẫn đang là những chủ đề kinh tế rất thời sự, còn rất nhiềuvấn đề gây ra nhiều lo ngại, mất rất nhiều thời gian nghiên cứu của các nhà kinh
tế Và vấn đề nợ công đã trở thành một vấn đề nóng trên toàn cầu, ở tất cả quốcgia, kể cả nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển
Từ câu chuyện nợ công Hy Lạp cùng một số nước trong khu vực đồng tiềnchung Châu Âu và những bài học kinh nghiệm được rút ra, rồi đến những cuộctranh cãi trong thượng- hạ viện Mỹ về nâng trần nợ công đã là một hồi chuôngcảnh báo cho nhiều nước trên thế giới phải có một cái nhìn cẩn trọng về vấn đề
nợ công
Với việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các vấn đềkinh tế- tài chính chắc chăn sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế ViệtNam Với vị thế là một nền kinh tế trẻ, đang phát triển, có rất nhiều triển vọngtrong tương lai, câu chuyện nợ công đang được xem là một vấn đề nóng bỏng,được đưa vào nhiều hội nghị, hội thảo kinh tế lớn nhằm giải quyết những khókhăn còn vướng mắc trong quá trình quản lý nợ tồn tại Việt Nam
Vì vậy vấn đề nợ công luôn là đề tài cấp thiết cần được làm sáng tỏ thêm qua cácnghiên cứu khoa học Thông qua cái nhìn trực quan về tình hình thế giới trongthời gian qua kết hợp với những đánh giá, phân tích có cơ sở khoa học chúng ta
sẽ đưa ra một số dự báo cho chuyển biến tình hình nợ công của các quốc gia trênthế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Từ đó sẽ đưa ra một số khuyến nghịcho công cuộc điều hành, quản lý nợ công tại Việt Nam
Trang 3- Đưa ra một số dự báo cho bối cảnh tình hình kinh tế thế giới trong thờigian tới Cuối cùng dựa trên các bài học từ khủng hoảng nợ công ở một số nướcChâu Âu đã phân tích rút ra các giải pháp, khuyến nghị cần thiết cho nền kinh tếViệt Nam trong công cuộc quản lý nợ công.
Những nội dung trên sẽ trình bày qua 3 chương bao gồm:
Chương 1: Mối quan hệ giữa nợ công và các biến số kinh tế
Chương 2: Tác động của khủng hoảng nợ công tại khu vực châu Âu tới nền kinh
tế Việt Nam
Chương 3: Những khuyến nghị
Trang 4CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA NỢ CÔNG VÀ
CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ1.1 Khái niệm cơ bản
Một số quan điểm cho rằng nợ công chỉ liên quan tới những khoản màchính phủ vay nợ (chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) Nhưvậy, nợ công chính là các khoản thâm hụt ngân sách của các cấp chính phủ trongquá khứ trừ đi tổng các khoản thặng dư ngân sách trong quá khứ.Tuy nhiên, địnhnghĩa này không phản ánh đầy đủ trách nhiệm trả nợ chính phủ Chính vì vậy,xuất hiện quan điểm cho rằng trong khái niệm nợ công cần đưa thêm các khoảnvay nợ của các chủ thể khác trong nền kinh tế nhưng được chính phủ bảo lãnhthanh toán Theo cách tiếp cận này, nợ công là nợ của khu vực công
Khu vực công theo quan niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và đượcdùng trong thống kê tài chính chính phủ, được hợp thành bởi chính phủ nóichung và doanh nghiệp công
Nếu đồng nhất quan điểm nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, thìquy mô của nợ công sẽ rất lớn Điểm mấu chốt ở đây là các doanh nghiệp côngđược hiểu như thế nào? Và có nên chấp nhận cách tính tất cả các nghĩa vụ nợ củacác doanh nghiệp công vào nợ công hay không?
Nếu xét trên giác độ mục đích hoạt động của các doanh nghiệp, có thểthấy rằng chỉ nên đưa vào phạm vi tính nợ công các doanh nghiệp công hoạtđộng không vì mục tiêu lợi nhuận, và được nhà nước giao nhiệm vụ sản xuất,cung ứng các hàng hóa công cộng cho nhu cầu xã hội, nhưng có thu được lợinhuận, thì nợ của các doanh nghiệp này không nên tổng hợp vào nợ công Ví dụcác doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe bus đã được nhà nước
hỗ trợ cước phí
Tuy nhiên còn một góc nhìn khác về doanh nghiệp công- theo mức độ sởhữu về vốn Theo luật, người nắm giữ phần lớn lượng vốn của một doanh nghiệpthì có quyền quyết định phương án hoạt động của doanh nghiệp đó và đươngnhiên phải chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề gặp phải Do đó các doanh
Trang 5nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối khôngmay gặp các rủi ro thì người chủ sở hữu- nhà nước phải đứng ra xử lý, chịu tráchnhiệm về các rủi ro đó.
IMF và WB đều xác định: “nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, baogồm nghĩa vụ nợ của các tổ chức sau:
Chính phủ trung ương
Các cấp chính quyền địa phương
Ngân hàng trung ương
Các tổ chức độc lập nhưng nguồn vốn hoạt động của nó do ngân sách nhànước quyết định (trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước), và trong trường hợp vỡ
nợ nhà nước phải trả nợ thay cho các tổ chức đó ”
Quan niệm về nợ công của Việt Nam được xác định rõ trong Luật quản lý
nợ công, số 29/2009/QH12 ngày 17/6/2009 như sau:
“ nợ công bao gồm:
Nợ chính phủ;
Nợ đươc chính phủ bảo lãnh;
Nợ chính quyền địa phương”
Việc xác định phạm vi nợ công ở nước ta hẹp hơn so với thông lệ quốc tế
là do các nguyên nhân sau:
(i) Sau một thời gian dài xây dựng và phát triển nền kinh tế theo môhình cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã và đang có rất nhiều doanhnghiệp nhà nước, theo tổng cục thống kê tính tới ngày 1/1/2012 thì có 4715doanh nghiệp nhà nước trên tổng số 541.103 doanh nghiệp trong cả nước
(ii) Năng lực quản lý điều hành của nhiều chủ doanh nghiệp nhà nướcchưa bắt kịp với cơ chế thị trường Do vậy, chính phủ chỉ chấp nhận trả nợ thaycho các doanh nghiệp nhà nước đối với các khoản nợ mà chính phủ đã cam kếtbảo lãnh Cách tiếp cận này sẽ ngăn chặn tình trạng các doanh nghiệp nhà nướclạm dụng danh nghĩa để vay nợ tràn lan
Đứng trên góc độ nhìn từ trong nước của nền kinh tế Việt Nam thì quanniệm về nợ công của Việt Nam là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đấtnước Tuy nhiên, trong thời kì mới, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, tíchcực hội nhập quốc tế thì khái niệm nợ công của nước ta khó có thẻ phù hợp vớithông lệ chung của quốc tế Và trên thực tế các số liệu thống kê về nợ công củachính phủ Việt Nam công bố luôn có sự khác biệt so với các số liệu thống kê củacác tổ chức quốc tế
Trang 6Từ các phân tích trên, quan điểm về nợ công của Việt Nam nên có sự thayđổi để có thể thống nhất, phù hợp theo quan niệm của quốc tế mà các tổ chức tàichính quốc tế như IMF và WB đang sử dụng trong thống kê tài chính chính phủ(GFS) bởi một số lý do sau:
Thứ nhất, Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nên cần áp dụng các chuẩn chung trong thống kê tài chính và so sánhquốc tế
Thứ hai, việc phản ánh đầy đủ các nghĩa vụ nợ của khu vực công sẽ giúp
chúng ta chuẩn bị sẵn sàng các phương án xử lý đối với khoản nợ này Đồng thờiviệc công khai minh bạch cả quy mô, nguy cơ tiềm ẩn của nợ công sẽ giúp thứctỉnh dân chúng chung ta thắt lưng buộc bụng cúng chính phủ Chỉ có như vậy thìtiết kiệm mới trở thành quốc sách hàng đầu
1.1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
(i) Cân bằng ngân sách cơ bản: khi các khoản thâm hụt ngân sách nhỏ thìviệc đi vay để tài trợ cũng giảm đi
(ii) Lãi suất thực tế: khi lãi suất thực tế trên thị trường tăng có thể làm chocác khoản vay trở nên đắt hơn và ngược lại lãi suất giảm khiến các khoản vay rẻhơn Mặt khác lãi suất tăng lên - chi phí đi vay tăng, Chính phủ sẽ gặp khó khănhơn trong việc huy động vốn
(iii) Tốc độ tăng trưởng thực tế: ảnh hưởng không nhỏ đến nợ công Nềnkinh tế tăng trưởng tốt điều đó có nghĩa việc sử dụng nguồn vốn vay đã đem lạihiệu quả do đó triển vọng trả được nợ trở nên sáng sủa hơn so với khi nền kinh tếkém tăng trưởng Mặt khác khi nền kinh tế tăng trưởng cao thì mức độ tiết kiệmtrong nền kinh tế lớn, khả năng huy động được nguồn vốn vay từ trong nướccũng tăng lên
(iv) Lãi suất ngoại tệ: ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản vay nước ngoài.Khi lãi suất ngoại tệ tăng các khoản vay ngoại tệ trở nên đắt đỏ hơn và ngược lại
(v) Tỷ giá: có thể xảy ra rủi ro tỉ giá, với các yếu tố khác không đổi, tỷ giátăng khi trả nợ sẽ làm khoản nợ công đắt hơn khi tính bằng nội tệ ngược lại ta sẽ
có lợi nếu đến lúc trả nợ tỷ giá giảm so với lúc đi vay
1.1.1.3 Phân loại nợ công
Việc phân loại nợ công sẽ tạo thêm nhiều thuận tiện cho việc nghiên cứu,đánh giá, quản lý nợ công,…có thể phân loại nợ công theo nhiều tiêu chí khácnhau
Dựa vào thời hạn vay và trả nợ, có thể chia nợ công thành nợ ngắn hạn(nợ có thời hạn thanh toán còn lại dưới một năm) và nợ trung-dài hạn (có thời
Trang 7hạn thanh toán còn lại từ 1 năm trở lên)- theo Ngân hàng thanh toán quốc tế.Cách phân chia này tạo thuận lợi cho việc cân đối, tính toán nguồn trả nợ.
Căn cứ vào chủ thể cho vay có thể phân nợ công thành nợ trong nước (cáckhoản vay từ người cho vay trong nước) và nợ nước ngoài (các khoản vay từngười cho vay ngoài nước) Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiệnthông qua phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân Tráiphiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vìchính phủ vì có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãikhi đáo hạn So với trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chínhphủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi rotín dụng caohơn vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêmvào đó còn có thể xảy ra rủi ro về tỷ giá hối đoái
Ngoài việc vay bằng cách phát hành trái phiếu nói trên, chính phủ cũng cóthể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế,chẳng hạn Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)… Hình thức vay này thường được chínhphủ của các nước có độ tín cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợbằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao
Căn cứ vào lãi suất vay nợ có thể phân thành nợ có lãi suất cố định và nợ
có lãi suất thả nổi Cách phân chia theo chủ thể cho vay hay theo lãi suất giúpđánh giá chính xác hơn các tác động của việc thay đổi bối cảnh kinh tế thế giớitrong và ngoài nước đến quy mô, khả năng thanh toán nợ
Căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ có thể phân chia thành nghĩa vụ trả nợ trựctiếp (của chính quyền các cấp) và nghĩa vụ nợ dự phòng (các khoản nợ đượcchính phủ bảo lãnh) Cách phân chia này cho thấy rõ hơn các rủi ro tiềm ẩn đốivới nợ công khi môi trường kinh tế thay đổi Khả năng kiểm soát và xử lý đối vớicác khoản nợ được bảo lãnh rõ ràng là thấp hơn đối với các khoản nợ mà chínhphủ vay trực tiếp
Ngoài ra còn có thể phân chia nợ công theo điều kiện vay nợ (vay ưu đãi,vay thương mại), thường khác nhau ở các mức lãi suất và điều kiện vay theođồng tiền vay nợ để phản ánh các rủi ro về tỷ giá hối đoái
1.1.2 Khủng hoảng nợ công
1.1.2.1 Định nghĩa
Trong lịch sử tài chính tiền tệ thế giới, thuật ngữ “Khủng hoảng nợ công”(Tiếng anh: public/national/sovereign debt crisis) đã không còn xa lạ Có rấtnhiều các nghiên cứu, các học thuyết đưa ra nhằm tìm hiểu quá trình hình thànhcủa một cuộc khủng hoảng nợ công, cũng như cách thức dự báo và ngăn chặn nó
Trang 8Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn giữa các nghiêncứu, các học thuyết đó về khái niệm của một cuộc khủng hoảng công nợ
Trước hết về khái niệm "Khủng hoảng", theo Đại từ điển Tiếng Việtcủa NXB Văn hoá - Thông tin năm 1998 thì khủng hoảng là tình trạng rối loạn,mất sự cân bằng,bình ổn, do nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết hoặc khủnghoảng là tình trạng thiếu hụt gây mất cân bằng nghiêm trọng
Theo Qũy Tiền Tệ Quốc Tế(IMF) ban đầu khái niệm khủng hoảng
nợ thường được định nghĩa là việc một quốc gia không có khả năng chi trả cáckhoản nợ của mình hay bị vỡ nợ (sovereign default) Định nghĩa này đúng trongnhững năm 1980, thời kỳ mà nhiều quốc gia không thể thanh toán được cáckhoản vay ngân hàng của họ Tuy nhiên, định nghĩa khủng hoảng nợ là việc cácquốc gia bị vỡ nợ không còn hoàn toàn chính xác khi thị trường trái phiếu chínhphủ nổi lên vào những năm 1990
Dựa trên rất nhiều nghiên cứu trước đây của IMF, Andrea Pescatory vàAmadou N.R.Sy, hai nhà kinh tế kỳ cựu của IMF, đã tổng hợp ra 4 hình thức chủyếu của khủng hoảng nợ Theo đó, khủng hoảng nợ là các cuộc khủng hoảng xảy
ra khi: một quốc gia bị vỡ nợ; có khoản nợ xấu lớn; có các khoản vay quy mô lớn
từ IMF hoặc có điềm báo taihọa
Thứnhất, về khủng hoảng nợ xảy ra khi một quốc gia bị vỡ nợ định nghĩa
này được các tổ chức định mức tín dụng tập trung xây dựng dựa vào các khảnăng không chi trả được nợ Tổ chức định mức tín dụng Moody’s năm 2003 đãđịnh nghĩa một quốc gia bị vỡ thường có các biểu hiện sau đây:
Có sự chậm trễ trong thanh toán lãi và/hoặc gốc, ngay cả khi việc thanhtoán chậm được thực hiện trong thời gian ân hạn
Việc hoán đổi nợ xảy ra trong đó Quốc gia phát hành trái phiếu đề nghịngười nắm giữ trái phiếu một khoản nợ mới, hoặc một gói chứng khoán mớitương đương nghĩa vụ tài chính giảm bớt, như là những công cụ nợ mới Việchoán đổi nợ có mục đích rõ ràng là giúp quốc gia đi vay tránh khả năng vỡ nợ
Đối với trái phiếu, tín phiếu, hối phiếu được phát hành bằng nội tệ hoặcngoại tệ, mỗi khoản nợ của bên phát hành được coi là không có khả năng chi trả(vỡ nợ) khi việc thanh toán nợ hàng năm theo lịch trình không được thực hiệnvào ngày đáo hạn, hoặc khi đề nghị hoán đổi khoản nợ mới bao hàm những điềukiện kém thuận lợi hơn so với việc phát hành ban đầu
Ngoài ra, có nhiều khoản vay ngân hàng được gia hạn cuối cùng bị chiếtkhấu một khoản so với giá trị ban đầu Hay những thỏa thuận khác bao gồm đềnghị hoán đổi nợ, hoán đổi nợ/vốn chủ sở hữu liên quan tới các chương trình tư
Trang 9nhân hóa của chính phủ, và/hoặc mua lại bằng tiền mặt S&P coi các giao dịchnày là vỡnợ vì chúng bao gồm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với banđầu.
Thứ hai,khủng hoảng nợxảy ra khi có khoản nợ xấu hơn, theo một số
nghiên cứu đưa ra, một cuộc khủng hoảng nợ được xếp vào loại này nếu mộthoặc cả hai điều kiện sau đây xảy ra
- Có khoản nợxấu vềgốc hoặc lãi về nghĩa vụ bên ngoài đối với các chủ
nợ thương mại (ngân hàng hoặc người nắm giữ trái phiếu) lớn hơn 5% tổng dư
Thứ ba,khủng hoảng nợ xảy ra khi có khoản vay quy mô lớn từ IMF, một
quốc gia đang trải qua một cuộc khủng hoảng nợ nếu:
- Nó được xếp vào trường hợp vỡ nợ như trong định nghĩa ở bên trên củaS&P, hoặc
- Nó nhận được một khoản cho vay lớn (có điều kiện) vượt quá 100% hạnmức ấn định trước từ IMF
Như đã đề cấp ở bên trên, S&P đánh giá một quốc gia phát hành bịvỡnợnếu chính phủ không đáp ứng một khoản thanh toán gốc hoặc lãi vào ngày đáohạn (bao gồm cả đềnghị hoán đổi nợ, hoán đổi nợ/vốn chủsởhữu liên quan tới cácchương trình tư nhân hoá của chính phủ, và/hoặc mua lại bằng tiền mặt) Đối vớiManasse, Roubini và Schimmelpfennig, cuộc khủng hoảng nợ không chỉ baogồm các trường hợp nợ vỡ hoàn toàn hoặc bắt buộc tái cơ cấu, mà còn cả trườnghợp gần như vỡnợ nhưng tránh được nhờ gói hỗ trợ chính thức có quy mô lớncủa IMF
Trong các quan niệm trên thì quan niệm thứ 3 được IMF và các tổ chứcquốc tế khác trên thếgiới sử dụng phổbiến nhất Tựu chung lại, khủng hoảng nợ
là tình trạng một quốc gia không thể chi trả được các khoản nợ của mình, phải đềnghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoàn trả gốc và/hoặc lãi, và phảinhận một khoản tài trợ chính thức có quy mô lớn từ IMF
Trang 101.1.2.2 Nguyên nhân, dấu hiệu nhận diện khủng hoảng nợ công
a) Dấu hiệu nhận diện
Hyman minsky(1919-1996) nhà kinh tế học người Mỹ- người được cholàtheo chủ nghĩa kinh tế Keynes điển hình đã nỗ lực nghiên cứu nhằm đưa ra giảithích đặc thù của khủng hoảng tài chính
Hyman cho rằng khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ sự yếu kém trong nộitại tài chính của bất kỳ một quốc gia nào Sựyếu kém này tăng dần cấp độtheochu kỳkinh doanh Sau một cuộc suy thoái kinh tế, hầu như các doanh nghiệpmất mát lượng lớn tài chính Khi nền kinh tế trở lại tăng trưởng, lợi nhuận kỳvọng tăng theo, các doanh nghiệp có xu hướng đặt niềm tin cho phép mình tiếnhành đầu tư tài chính Ngay thời điểm này, họ đều nhận thấy lợi nhuận kỳ vọngnày sẽ khó trang trải cho phần lãi vay.Tuy nhiên, tất cả đều lạc quan rằng, mứclợi nhuận kỳ vọng sẽ tăng và việc trang trải nợ nần không phải là một vấn đề quánan giải Luồng tiền đưa vào đầu tư càng nhiều, nền kinh tế càng tăng trưởng.Bản than những tổ chức tín dụng cũng tin tưởng rằng khoản tiền của họ sẽ thuhồi được đến mức thực hiện được việc giải ngân tín dụng mà không đòi hỏi nhiềuthế chấp đảm bảo Những tổ chức này hy vọng rằng ngoài các khoản tín dụng,
mà họ cung ứng, các doanh nghiệp có thể tự tìm kiếm tương tự ở đâu đó Nhưvậy, trong nội tại nền kinh tế đang chứa đựng lượng lớn tín dụng mang tính rủi
ro, khóthu hồi Một khi những tổ chức tín dụng nhận thấy vấn đề này, luồng tiềncho vay lập tức bị chặn đứng Tất yếu một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ sẽxảy ra
Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tinbất cân xứng Thông tin bất cân xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tàichính Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mốngcho những kỳ vọng xấu của người cho vay về người đi vay Thông tin bất cânxứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền khó khăn trong việc phân biệtgiữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua đó dẫn đếnviệc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nước gặp khó khăn Vìvậy, để hạn chế những thông tin bất cân xứng thì hai bên đi vay và cho vay cần
có càng nhiều về nhau càng tốt thông qua những câu hỏi và người cho vay hỏingười đi vay để tránh sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư
Tóm lại, dấu hiệu của khủng hoảng tài chính bao gồm:
Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền của ngườigửi tiền
Trang 11Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại Acũng khôngthể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Một cuộc khủng hoảng tài chính có thể xuất hiện một hoặc hội tụ cả haidấu hiệu trên
b) Nguyên nhân
Về bản chất, các cuộc khủng hoảng nợ công là cuộc khủng hoảng xảy ratrong lĩnh vực tài chính, và là ngòi nổ cho sự bùng phát khủng hoảng tài chínhsau này Do đó, có thể nói, cuộc khủng hoảng nợ công mang những đặc điểmchung nhất và cũng có thể bị gây ra do một số nguyên nhân của cuộc khủnghoảng tài chính Bất kỳ một quốc gia nào cũng đứng trước nguy cơ hứngchịu một cuộc khủng hoảng tài chính bởi quy luật của phát triển Khi nền kinh
tế phát triển lên đến đỉnh điểm ắt sau đó nó sẽ rơi vào tình trạng trì trệ Cuộckhủng hoảng nợ công vừa xảy ra tại Hy Lạp là minh chứng cho việc các quốc giaphát triển cũng không thể coi thường khủng hoảng Các nguyên nhân của khủnghoảng tài chính bao gồm:
Thứ nhất, nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém, chính sách kinh tế vĩ mô không
phù hợp Đánh giá qua các cuộc khủng hoảng thì thấy chính sách kinh tếvĩ môcủa nhiều nước bị khủng hoảng không phù hợp, các quốc gia này cho phép cácnhà đầu tư nước ngoài đầu tư ồ ạt vào đầu cơ tích trữ Trong khi đó, giá trị củađồng nội tệ lại thấp hơn so với đồng USD Về vấn này đã được trình bày trong lýthuyết về “bộ ba chính sách bất khả thi”
Lý thuyết về “Bộ ba chính sách bất khả thi” phát biểu rằng: một quốc giakhông thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách vĩ mô:
Song song với sự phát triển thương mại và dịch vụ trong thế giới hiện đại,kiểm soát vốn rất dễ bị lãng quên Thêm nữa, vấn đề kiểm soát vốn còn thể hiện
Trang 12những thay đổi của quốc gia không đúng thực tế Do vậy rất khó để một quốc gia
có được một hệ thống kiểm soát vốn thật sự hiệu quả Lý thuyết bộ ba bất khả thikhẳng định rằng: trong điều kiện ngày nay, một quốc gia phải lựa chọn giữa việcgiảm thiểu sự thay đổi tỷ giá hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập ổnđịnh Nó không thể có đồng thời cả hai
Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngânhàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợkhông tự bảo hiểm rủi ro
Thứ hai, hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém
Hệ thống ngân hàng yếu kém về quản lý đã để các dòng vốn đầu tư vàoquốc gia một cách ồ ạt và thường xuyên phát sinh các khoản nợ khó đòi
Chính phủ các nước chưa có can thiệp vào hoạt động kinh doanh củacác ngân hàng và các công ty tài chính nhằm hướng các hoạt động của ngânhàng vào hỗ trợ cho chính sách phát triển kinh tế, dẫn tới việc quản lý tíndụng lỏng lẻo và mở rộng đầu tư quá mức khiến cho hiệu quả kinh tế thấp
Bản thân các ngân hàng chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động vàbảo thủ trong việc hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của mình Cácngân hàng phụthuộc rất lớn vào sự trợ giúp của chính phủ
Thứ ba, chính sách tỷ giá hối đoái được duy trì cứng nhắc
Các nước bị khủng hoảng trong một thời gian tương đối dài đã duy trì tỷgiá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USD Điều này tỏ ra không có lợitrong những năm gần đây khi nền kinh tế Mỹ phát triển bất ổn định, USD lên giá
so với Yên nhật, giá trị đồng tiền của nước này đã bị đánh giá cao từ 20%-30%
so với USD dẫn đến xuất khẩu trì trệ và kích thích nhập khẩu Chính sách tỷ giá
cố định buộc các nước này phải duy trì lãi suất cao khiến cho luồng vốn vaynước ngoài tăng nhanh và khi có sự biến động về tỷ giá thì các dòng vốn sẽ lậptức rút ra
Bên cạnh đó, do duy trì tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi phải tiêu tốn mộtlượng ngoại tệ lớn khi thực lực tài chính của nhà nước còn yếu nên khả năngchống đỡcuộc khủng hoảng không hiệu quả
Thứ tư, năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém
Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ cácnước phải thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đếnnỗi cạn kiệt dự trữ ngoại hối Nhà Nước mà lại càng làm cho sự tấn công củaluồng vốn từ ngoài chảy vào để đầu cơ thêm kéo dài
Trang 13Thứ năm, nền kinh tế phát triển hướng ngoại quá lệ thuộc vào nước ngoài
Các nước bị khủng hoảng đều thực hiện chính sách công nghiệp hóahướng vào xuất khẩu, về cơ bản là đúng đắn xong về cơ cấu xuất khẩu lại quánghèo nàn Trong khi đó thị trường thế giới về các mặt hàng này xuất hiện xuhướng bão hòa do sự cạnh tranh giữa các nước lớn Điều này làm cho xuất khẩucủa các nước bị sụt giảm, dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, sản xuất trong nước
bị đình trệ
Thứ sáu, sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư
Sự bất hợp lý trong cơ cấu nhập khẩu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Dothiếu sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan tài chính nên các nhà đầu tư trongnước đi vay một kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan tài chính nên các nhà đầu tưtrong nước đi vay một cách ồ ạt vốn từ bên ngoài Chính lượng vốn nhập khẩuquá mức này đã tạo nhiều yếu tố tiêu cực cho nền kinh tế và gây khó khăn chocông tác quản lý Lượng vốn nhập khẩu cao hơn mức thâm hụt cán cân vãng laigây ra mối đe doạ về sự mất cân đối vì dẫn đến việc gia tăng tín dụng không hợp
lý, thiếu hiệu quả và tăng gánh nặng nợ nần cho quốc gia
Thứ bảy, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới
Tình hình biến động trên thị trường thế giới góp phần gây ra các khủnghoảng tài chính Tiêu biểu là sự sụt giảm của thương mại quốc tế và sự tăng vọtcủa lãi suất toàn cầu Khi các nước trên thế giới đối mặt với thương mại trì trệ,chính phủ và các công ty phải hứng chịu thua lỗ Điều này khiến khả năng trả nợđối với các khoản vay trong và ngoài nước của họ thấp dần
1.2 Tác động của nợ công tới các biến số kinh tế
1.2.1 Tác động tới tăng trưởng kinh tế
Trên một phương diện nào đó, khủng hoảng nợ công là tình trạng ách tắctrong quá trình tài chính công và làm giảm sút chức năng tài chính công Điều đóchắc chắn khủng khoảng nợ công dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế và làmcho tình hình tài chính quốc gia trở nên yếu đi Suy giảm kinh tế còn được lý giải
là sau khủng hoảng do các hoạt động kinh tế trở nên trầm lắng hơn và suy thoáikinh tế là điều thường thấy
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắtlưng buộc bụng” để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để đượcnhận sựhỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, “thắt lưngbuộc bụng” lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căngthẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế
Trang 14trong xã hội là những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúclợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ.
Vấn đề đặt ra cho các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâmhụt ngân sách nhưng không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khicác biện pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận chiều
Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báocáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác,niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thànhmục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế
Việc căn cứ vào mức nợ công trên GDP để xác định tình trạng nợ công làhết sức quan trọng, tuy nhiên, điều quan trọng không kém là phân tích “thựcchất” nợ công Đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài;tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng “sức khoẻ” nói chung của nềnkinh tế; lượng dự trữ quốc gia
1.2.2 Tác động tới lãi suất, đầu tư
Khi một quốc gia lâm vào tình trạng vỡ nợ, không thực hiện được cácnghĩa vụ nợ (trả nợgốc và lãi…) thì quốc gia sẽ ngay lập tức bị hạ mức tín nhiệm.Việc chính phủ huy động thông qua trái phiếu (hay hình thức vay khác) đều trởnên khó khăn và lãi suất sẽ cao hơn
Khi tín nhiệm trái phiếu quốc tếcủa chính phủ bịsụt hạng, nhất là khi bịkhủng hoảng nợ công, chính phủ thiên về huy động vốn từ thị trường trong nướcvới Tình trạng lấn át đầu tư có thể dẫn đến khu vực tư nhân thu hẹp sản xuất vàdẫn đến suy giảm kinh tế trong trung hạn Tình trạng này được lý giải như saukhi chính phủ tăng cường huy động trong nước để tài trợ cho hoạt động của mình(thường là sau khủng hoảng nợ công), chính phủ phải huy động với lãi suất cao
và do đó lãi suất thị trường trong nước sẽ giatăng, khu vực kinh tế tư nhân sẽ thuhẹp đầu tư do không tiếp cận được vốn vì khi đó đầu tư công đã cạnh tranhnguồn vốn của khu vực tư nhân…
Khi nợ công, nợ nước ngoài gia tăng, nhất là khi có khủng hoảng nợ côngthì chi phí của các khoản vay của khu vực doanh nghiệp sẽ tăng lên cao Điềunày dễ hiểu vì nguyên tắc tính lãi trong cho vay quốc tế thường được tính đếnyếu tốrủi ro quốc gia Khi một quốc gia vỡnợ thường dẫn đến mức bù rủi ro tăngcao, chi phí bảo hiểm khoản vay CDS (credit default Swap rate) tăng, dẫn đến chiphí khoản vay ở khu vực doanh nhiệp gia tăng
Việc đầu tư nhiều, kém hiệu quả, tăng vay nợdẫn đến lấn át đầu tư vàkhủng hoảng nợ công Tuy nhiên, trên phương diện trung hạn, sau các cuộckhủng
Trang 15hoảng nợ công là một chu kỳ tăng cường huy động mới mạnh mẽ hơn để trangtrải cho các khoản cứu trợ từ cộng đồng quốc tế Và điều đó có thể dẫn đến hiệuứng lấn át đầu tư tư nhân, lãi suất cao do chính phủ tăng huy động hoặc tăng thuế
để tận thu đảm bảo nguồn trả nợ
1.2.3 Tác động tới lạm phát, tỷ giá
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tình trạng tài chính quốc gia, khả năng trả
nợ quốc gia là chỉ số rất quan trọng đảm bảo về lòng tin của cộng đồng với đồngtiền nội tệ Thực tế chỉ ra rằng khủng hoảng nợ công thường kéo theo hoặc đikèm khủng hoảng tiền tệ ngân hàng
Trong ngăn hạn, sự gia tăng GDP sẽ kéo theo sự thay đổi của các biến sốkinh tế khác Trước hết, khi GDP tăng, cầu tiền tệ tăng lên Nếu cung tiền tệkhông thay đổi, sự gia tăng cầu tiền tệ sẽ khiến lãi suất tăng dẫn tới đồng nội tệtăng giá, điều này dẫn tới nhập siêu, khuyến khích nhập khẩu cản trở xuất khẩu.Trong dài hạn cả lạm phát và lãi suất danh nghĩa cũng tăng theo cũng sự gia tăngcủa cung tiền
Hiện tượng này thương thấy ở các nước đang phát triển do nguồn thu từthuế còn hạn chế trong khi nhu cầu chi tiêu của chính phủ lại lớn Hơn nữa, tạicác nước đang phát triển, thị trường tài chính còn trong giai đoạn phát triển nêncác chính phủ vay nợ ít trên thị trường và sử dụng biện pháp in tiền để tài trợ chocác khoản chi của mình Trong lịch sử, nhiều nước đã thực hiện biện pháp in tiền
đẻ tài trợ cho thâm hụt ngân sách và dẫn đến lạm phát phi mã (như Việt Namnhưng năm cuối thập kỷ 1980), và siêu lạm phát như tại Đức những năm 1920
Tại các nước phát triển in tiền để tài trợ cho chi tiêu chính phủ cũng xảy
ra, nhưng thường là trong giai đoạn chiến tranh, khi nhu cầu chi tiêu và cáckhoản nợ của chính phủ quá lớn, trong thời bình phần lớn các chính phủ chọncách vạy nợ trên thị trường vốn thông qua phát hành trái phiếu để tài trợ cho cáckhoản chi tiêu
Việc tăng nợ công còn tác động tới lạm phát thông qua kênh khác Khi các
hộ gia đình nắm giữ nhiều trái phiếu chính phủ hơn, họ sẽ cảm thấy giàu hơn dẫntới việc chi tiêu nhiều hơn
Trang 16CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TẠI
KHU VỰC CHÂU ÂU TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Diễn biến khủng hoảng nợ công tại một số nước Châu Âu
2.1.1 Hy Lạp
Hy Lạp vốn là nước có lịch sử với nhiều rắc rối về tài khóa Khi trở thànhnước thành viên thứ 12 của Liên minh Châu Âu, nợ chính phủ của nước này đã ởmức hơn 100% GDP Nhiều nước thành viên đã lo ngại những vấn đề tài khóacủa Hy Lạp có thể gây tổn hại tới đồng tiền chung của cả khối Ngược lại, đối với
Hy Lạp, việc trở thành thành viên của Liên minh Châu Âu mang lại rất nhiềuđiều kiện thuận lợi Gia nhập khu vực đồng tiền chung Châu Âu năm 2001 là cơhội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế do thị trường tráiphiếu không còn phải lo ngại về mức lạm phát cao hay việc phá giá đồng tiền.Mức lãi suất thấp cũng cho phép Chính phủ Hy Lạp tái tài trợ cho các khoản nợvới các điều kiện thuận lợi hơn Còn phải kể tới một yếu tố quốc tế khác là xu thế
hạ thấp đánh giá rủi ro mất khả năng thanh toán trong giai đoạn bùng nổ tín dụngcũng khiến Hy Lạp dễ dàng tiếp cận với các khoản vay dài hạn hơn
Tuy nhiên, Chính phủ Hy Lạp hầu như không quan tâm đến các kế hoạchtrả nợ Từ khi tham gia sử dụng đồng tiền chung châu Âu năm 2001 cho đến năm
2008 - khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, ngân sách quốc gia Hy Lạp luônnằm trong tình trạng thâm hụt với mức trung bình 5% GDP/năm (mức trung bìnhcho toàn khu vực châu Âu là 2%/năm) Để bù đắp cho khoản thâm hụt này, HyLạp đã đi vay trên thị trường vốn quốc tế và trong suốt một thập kỷ trước khidiễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Chính phủ Hy Lạp đãvay mượn khá nặng nề từ bên ngoài, trở thành một con nợ triền miên với tổng số
nợ công lên tới 300 tỷ euro, chiếm 124 % GDP, thâm hụt ngân sách lên tới haicon số, trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục âm Cuối năm 2009, mức thâmhụt ngân sách của Hy Lạp lên tới 15,4% GDP – đây là mức cao chưa từng cótrong khu vực đồng tiền chung châu Âu
Nợ còn hạn của Hy Lạp lên tới gần 400 tỷ đô la Mỹ, trong đó riêng nợ đếnhạn năm 2010 đã lên tới 73 tỷ đô la Mỹ Lãi suất Hy Lạp phải trả cho các khoảnvay nợ lên tới mức kỷ lục cao, trên 9% đối với các khoản vay có kỳ hạn Tháng3/2011, Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody hạ xếp hạng nợ của Hy Lạp, nguy cơ
vỡ nợ cao: Hy Lạp phải đối mặt với 2 vấn đề thâm hụt cùng một lúc, đó là thâmhụt ngân sách (vượt hơn 13% GDP năm 2010) và thâm hụt cán cân thanh toánvãng lai (trung bình vào khoảng 9% GDP) so với mức trung bình của toàn khu
Trang 17vực Eurozone là 1% Cả hai mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãnglai của Hy Lạp đều vượt quá trần quy định cho phép của Liên minh Tiền tệ vàKinh tế châu Âu (EMU), đặc biệt là Hiệp ước Bình ổn và Tăng trưởng của Liênminh châu Âu (EU) với quy định trần thâm hụt ngân sách 3% GDP và trần nợnước ngoài 60% GDP.
Không còn bức tranh kinh tế đầy màu hồng và những lời hứa hẹn về chínhsách khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, Hy Lạp bán trái phiếu để có tiềncho ngân sách Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tụctăng cao từ 3,47% vào tháng 1/2010, lên 9,73% thời điểm tháng 7/2010 và nhảyvọt lên 26,65% một năm vào tháng 7/2011
Nội lực không đủ vực dậy nền kinh tế lớn thứ 27 thế giới, Hy Lạp trởthành mắt xích yếu nhất của eurozone Châu Âu không thể để Hy Lạp vỡ nợ bởinhững hệ lụy đổ vỡ hệ thống ngân hàng, mất khu vực đồng tiền chung và kéotheo nhiều quốc gia khác rơi vào hiệu ứng domino
Châu Âu có thể cứu được Hy Lạp với thỏa thuận hoán đổi nợ kỷ lục, vớinhững gói cứu trợ lên tới hàng trăm tỷ EUR, nhưng Hy Lạp không còn là vấn đềduy nhất của khu vực này Cơn hỗn loạn tài chính đã lan đến Bồ Đào Nha, TâyBan Nha và tiếp theo là Italy.Tháng 3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi85% nợ cho Hy Lạp, giúp cắt giảm khoảng 100 tỷ EUR nợ khỏi nghĩ vụ nợ củaquốc gia này Ngay lập tức, ngày 9/3, Fitch và Moody’s đồng loạt tuyên bố HyLạp đã vỡ nợ
Sự phụ thuộc quá nhiều của Hy Lạp vào nguồn tài trợ nước ngoài đã khiếncho nền kinh tế nước này trở nên dễ tổn thương trước những thay đổi trong niềmtin của giới đầu tư.Hy Lạp chính thức kêu gọi hỗ trợ tài chính từ Quỹ Tiền tệquốc tế (IMF) và các quốc gia thành viên Eurozone Bộ trưởng Tài chính cácnước Eurozone đã quyết định hỗ trợ tài chính dành cho Hy Lạp với mức hỗ trợ
110 tỷ euro trong vòng 3 năm 2011-2013 (lãi suất ưu đãi là 5%), trong đó cácnước thuộc Eurozone bỏ ra 80 tỷ euro và 30 tỷ còn lại là IMF cho vay Đổi lại,
Hy Lạp phải cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 11% GDP (2011)
và xuống dưới mức quy định 3% của EU vào năm 2013
Khủng hoảng nợ Hy Lạp là một cảnh báo cho các quốc gia về bội chi ngânsách và việc sử dụng các khoản nợ công Vấn đề đặt ra không phải là nợ baonhiêu phần trăm GDP mà các khoản vay nợ đó được dùng vào mục đích gì? hiệuquả đạt được ra sao? khả năng trả nợ thế nào? Cuộc khủng hoảng nợ sẽ làm chậmlại đà phục hồi của kinh tế toàn cầu và đặc biệt là kinh tế châu ÂuDo đó, vấn đềđặt ra là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp với nền kinh tế đất nước
Trang 18Cơ hội được tiếp cận dễ dàng nguồn tín dụng rẻ từ khi gia nhập Eurozone đãkhiến cho chính phủ Hy Lạp chi tiêu quá tay mà quên mất những nghĩa vụ nợphải trả trong tương lai Đây là bài học rõ ràng cho những quốc gia đang pháttriển nóng theo đuổi những con số đẹp về chỉ tiêu tăng trưởng, nếu cứ tiếp tục đivay và sử dụng tiền vay như Hy Lạp đã làm trong thập kỷ vừa qua, chắc chắn disản có thể để lại cho tương lai sẽ là một món nợ khổng lồ.
2.1.2 Tây Ban Nha
Sau khi những vấn đề tài chính của Hy Lạp tạm thời được giải quyết, nayđến lượt nền kinh tế lớn hơn trong khu vực đồng euro là Tây Ban Nha trở thànhtâm điểm chú ý Lãi suất trái phiếu của nước này gần đây tăng mạnh, xuất phát từ
lo ngại của các nhà đầu tư về vấn đề tình hình tài chính của nền kinh tế lớn thứ tưtrong khu vực
Cuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozone đã dịu đi đáng kể trong quýI/2012, một phần nhờ các chương trình tái cấp vốn dài hạn của Ngân hàng Trungương châu Âu (ECB) cuối năm 2011 và đầu năm 2012 Việc ECB bơm hơn 1nghìn tỷ euro (1,3 nghìn tỷ USD) các khoản vay lãi suất thấp vào hệ thống ngânhàng khu vực đã khuyến khích các ngân hàng mua trái phiếu chính phủ của cácnước đang gặp khó khăn về tài chính như Tây Ban Nha, giúp lãi suất trái phiếucủa nước này giảm Bên cạnh đó, chương trình hoán đổi nợ của Hy Lạp được tiếnhành thành công đã mang lại động lực cho các thị trường tài chính Các thịtrường chứng khoán tại các nước phát triển trong quý I/2012 tăng trưởng mạnhnhất trong nhiều năm qua, tâm lý đầu tư, niềm tin người tiêu dùng và doanhnghiệp đã được cải thiện
Tuy nhiên, tác dụng về mặt tâm lý của dòng vốn lãi suất thấp mà ECBbơm vào hệ thống ngân hàng khu vực dần mất đi, thị trường trái phiếu lại trở nêncăng thẳng, đặc biệt là sau khi Chính phủ Tây Ban Nha nâng chỉ tiêu thâm hụtngân sách năm 2012 lên 5,8% GDP, cao hơn so với cam kết đưa ra trước đó là4,4% GDP Mặc dù chính phủ nước này sau đó đã hạ mục tiêu xuống 5,3% GDPcũng như tỏ rõ quyết tâm thực hiện các biện pháp khắc khổ để đạt mục tiêu này,song bất kể một tin xấu nào như khó khăn tài chính tại các ngân hàng lớn, tỷ lệthất nghiệp tiếp tục tăng cao đều có thể khiến Tây Ban Nha khó có khả năng,thậm chí không thể, tiếp tục tự huy động vốn trên các thị trường Tây Ban Nhasau đó khiến thị trường chú ý hơn nữa khi công bố dự thảo ngân sách, trong đó
dự kiến nợ công sẽ tăng lên đến 80% GDP trong năm 2012, tăng mạnh so vớimức 68,5% GDP trong năm 2011 và là mức cao nhất kể từ năm 1990
Trang 19Trong bối cảnh này, khả năng tài chính của Tây Ban Nha sẽ phụ thuộc rấtlớn vào việc vay mượn tiền từ các nhà đầu tư với mức lãi suất chấp nhận được.
Để giúp Tây Ban Nha, các nước thành viên Eurozone có thể cam kết đền bù chocác nhà đầu tư trong đợt lỗ đầu tiên đối với số trái phiếu của nước này Tây BanNha có thể sẽ yêu cầu các khoản vay từ quỹ cứu trợ của khu vực khi phải cứu trợcác ngân hàng Tuy nhiên, với khả năng hạn chế của quỹ cứu trợ, nhiều nhà phântích cho rằng ECB là thiết chế duy nhất có khả năng cứu các nền kinh tế lớn nhưTây Ban Nha bằng cách mua hàng trăm tỷ euro trái phiếu của Tây Ban Nha từcác ngân hàng và các thị trường thứ cấp, giúp hạ mức lãi suất mà nước này phảitrả Tuy nhiên, ECB vẫn cho rằng sự can thiệp quy mô lớn như vậy sẽ là vi phạmhiệp ước của EU
Trong khi đó, quy mô "bức tường lửa" của Eurozone dù đã được nâng lên
800 tỷ euro (1,05 nghìn tỷ USD) để có thể hỗ trợ các nước thành viên không thểhuy động tiền từ thị trường nhưng vẫn được cho là không đủ để giải cứu Tây BanNha nếu cần Với một nền kinh tế có quy mô 1,1 nghìn tỷ euro (1,45 nghìn tỷUSD) - lớn gấp đôi tổng quy mô nền kinh tế của ba nạn nhân trước đó của cuộckhủng hoảng là Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ailen, việc cứu trợ Tây Ban Nha sẽ đòihỏi hai nền kinh tế đầu tàu khu vực là Đức và Pháp phải cấp vốn nhiều hơn nữa.Điều này sẽ đẩy cuộc khủng hoảng nợ vào một giai đoạn nguy hiểm hơn, khicũng sẽ nhanh chóng tạo ra các hiệu ứng lây lan tại nền kinh tế trị giá 2,2 nghìn
tỷ USD của Italia Ngược lại, nếu Tây Ban Nha không được cứu trợ và rơi vàotình trạng vỡ nợ, hậu quả có thể là sự tan rã của Eurozone
2.1.3 Ai Len
Tình trạng khủng hoảng nợ công của Ai Len bắt nguồn từ việc chính phủ
đã không kịp thời khống chế hành vi cho vay thiếu trách nhiệm của một số ngânhàng Trong thời gian qua, các vấn đề về khủng hoảng nợ của châu Âu đượcquan tâm nhiều trở lại sau khi Ai Len phải cầu cứu Liên hiệp châu Âu (EU) vàQuỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) để tìm kiếm một khoản vay từ 80-90 tỉ EUR hoặc cóthể cao hơn nữa tùy theo thỏa thuận của các bên
Trang 20Đồ thị 2.1 Nợ chính phủ/GDP năm 2009 của những nước đang được xem là
có thể cần được giải cứu
Nguồn: Eurostat
Trong khi đó, quản lý nợ công của Ai Len tương đối khá hơn với mức nợchính phủ trên GDP chỉ gần 70% Các ngân hàng của Ai Len ngày càng phảigánh nhiều nợ xấu sau khi đã tăng cho vay quá mạnh trong thời kỳ kinh tế nướcnày tăng trưởng mạnh và bong bóng bất động sản phình to Khi thị trường bấtđộng sản sụp đổ, nhiều phần trong các khoản cho vay bất động sản trở thành nợxấu và các ngân hàng đứng trước nguy cơ sụp đổ Chính phủ phải bỏ tiền ra cứutrợ ngành ngân hàng, bao gồm quốc hữu hóa ngân hàng và chi tiền để tái cấp vốncho một số ngân hàng trong nước Nên mức thâm hụt ngân sách của Ai Len gầnđây tăng mạnh không kém Hy Lạp
Tương tự như trường hợp của Mỹ, Chính phủ Ai Len buộc phải cứu hệthống ngân hàng theo cách riêng của mình, đó là tạo ra một định chế tài chínhmới gọi là NAMA (National Asset Management Agency) vào năm 2009 để nhậnhầu hết tất cả các khoản nợ xấu của các ngân hàng lớn của Ai Len
Điều này chỉ có thể xảy ra khi thị trường nhà hồi phục, nếu không, bảnthân NAMA sẽ tiếp tục cần cứu giúp để có thể tồn tại và tiền cứu giúp lại sẽ phảiđến từ ngân sách Trước sau gì thì cách thức dùng tiền chính phủ để duy trì cáctài sản ngày càng xuống giá trong nền kinh tế và bơm vốn để vực dậy khu vựcngân hàng của Ai Len cũng sẽ buộc nước này phải liên tục đi vay mượn và chấpnhận thâm hụt ngân sách cho đến khi họ không còn khả năng chi trả nữa và phảiđến cầu viện nước ngoài
Trang 21Vì vậy, khủng hoảng nợ của Ai Len thực tế là do chính phủ phải đi cứu trợ cho
hệ thống ngân hàng nước này, khiến nợ xấu từ khu vực tư nhân tạo thành gánh nặng
nợ nần của chính phủ và cuối cùng chính phủ không đủ tiền trả nợ phải đi cầu viện
EU và IMF để có tiền tiếp tục cứu giúp hệ thống ngân hàng của mình
Đồ thị 2.2 Thâm hụt ngân sách/GDP của các nước đang được xem là có thể cần
được giải cứu
Nguồn: Eurostat
Năm 2010, thị trường tài chính quốc tế đã chứng kiến sự điều chỉnh mạnhcủa lợi tức trái phiếu Chính phủ Ai Len Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của AiLen đã tăng khoảng 2%, lên gần 7% một năm
Đồ thị 2.3.Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Ai Len.
Nguồn: Tradingeconomics
Trang 22Báo cáo đánh giá về tình hình kinh tế Ai Len trong năm 2011 vừa được
Ủy ban châu Âu công bố cho biết: Ai Len đã cam kết tuân thủ các điều khoảntrong chương trình cứu trợ mà Liên minh châu Âu dành cho nước này Do đó,tính đến nay, về cơ bản, các bước cải cách tài chính của Ai Len đã đi đúng mụctiêu Thâm hụt ngân sách của nước này năm 2011 xét trên toàn diện đã giảm dưới10,6%, mức trần về GDP mà Liên minh châu Âu đề ra
Ngày 14/12/2011, Liên minh châu Âu (EU) đã bày tỏ hoan nghênh nhữngtiến bộ mà Ai Len đạt được trong lĩnh vực tài chính và ngân sách khi thực hiệncác biện pháp cải cách kinh tế nhằm đưa nước này thoát khỏi khủng hoảng nợcông
Báo cáo vừa được công bố này được xem là tín hiệu tốt để Ai Len tiếp tụcnhân được gói cứu trợ tiếp theo mà Liên minh châu Âu dành cho Ai Len trongtháng 1 năm 2012, trị giá hơn 4 tỷ Euro
Ngày 11/2/2013, hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế S&P (Standard andPoor's) và Fitch đã cùng điều chỉnh đánh giá về triển vọng nợ công của Ai Len từmức "tiêu cực" lên "ổn định" (BBB+)
2.2 Tác động chung của khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu tới kinh tế thế giới
Khủng hoảng nợ công vẫn tiếp tục phủ bóng đen lên khu vực châu Âu.Tình hình nợ công tại Hy Lạp vẫn tồi tệ khiến cơ quan xếp hạng tín dụng Moody
hạ ba bậc xếp hạng tín dụng của nước này, trong khi đó Bồ Ðào Nha cũng chínhthức phải xin EU hỗ trợ Ngoài khu vực châu Âu, Mỹ và Nhật Bản cũng đangđứng trước nguy cơ bị giảm mức xếp hạng tín dụng khi nợ công lên tới mức kỷlục Nợ công của Mỹ đã vượt 14 nghìn tỷ USD và dự đoán sẽ chạm mức trần14,3 nghìn tỷ USD sau hơn một tháng nữa Nợ công của Nhật Bản trước khi xảy
ra động đất, sóng thần cũng đã ở mức 200% GDP
Thị trường chứng khoán thế giới bị tác động mạnh trước những biến cốchính trị và thiên tai Chỉ sau một tuần xảy ra thảm họa tại Nhật Bản, chứngkhoán thế giới chịu thiệt hại khoảng 1.600 tỷ USD, trong khi đó xu hướng rútvốn khỏi thị trường chứng khoán của các nước A-rập vẫn tiếp tục diễn ra Còn tạicác thị trường mới nổi ở châu Á, nhà đầu tư đã rút gần 25 tỷ USD trong quý I-
2011 (mức cao nhất kể từ quý III-2008); Thị trường trái phiếu quốc tế cũng bị tácđộng khi Nhật Bản phải cơ cấu lại việc nắm giữ loại tài sản này để tập trungnguồn lực tài chính tái thiết đất nước, trong khi Trung Quốc cũng không có ýđịnh nắm giữ thêm trái phiếu Chính phủ Mỹ; Trên thị trường tiền tệ, đồng USDtiếp tục xu hướng giảm giá so các đồng tiền chủ chốt, ngược lại đồng euro trong
Trang 23quý I tăng giá mạnh nhất trong lịch sử (tăng 3,5%); Thị trường bất động sản củahai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc chưa có dấu hiệu tích cực
và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng Tại Mỹ, thị trường nhà đấtchưa phục hồi, giá nhà đất đã giảm tháng thứ 6 liên tiếp và chỉ cao hơn 1% so vớimức đáy trong thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất năm 2009, khiến cho hơn 800 ngânhàng nước này tiếp tục lâm vào tình trạng khó khăn Còn tại Trung Quốc, kếhoạch làm dịu cơn sốt giá nhà đất của Chính phủ nước này chưa có kết quả (giábất động sản tăng bình quân hơn 6%/tháng) trong khi giá trị các khoản vay dànhcho bất động sản trong hai năm qua đã lên tới 2,7 nghìn tỷ USD
Do sự suy giảm của sản lượng và các đơn đặt hàng mới, tỷ lệ thất nghiệp ởEurozone đã tăng lên mức kỷ lục Trong tháng Năm, có tới 17,56 triệu người ở
17 nước thành viên Eurozone thất nghiệp, chiếm 11,1% của lực lượng lao động ởkhu vực này, cao nhất kể từ khi Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu tiến hành thống
kê vào năm 1995
Dự báo, những chính sách có tính chất thắt lưng buộc bụng và thắt chặttiền tệ của các nước sẽ khiến cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại trongngắn hạn; lạm phát sẽ được kiểm soát nhưng chỉ trong trường hợp không gặpbất lợi từ giá dầu và giá lương thực, thực phẩm; và tại một vài nước, những khókhăn về kinh tế sẽ là yếu tố để chuyển hóa thành những bất ổn về chính trị - xãhội
2.3 Tác động của khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu đến nền kinh tế Việt Nam
2.3.1 Tình hình nợ công tại Việt Nam
Việt Nam mởcửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bướcpháttriển vượt bậc Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần,
từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD năm 2010
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mônền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nềnkinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệpnhẹ là chủ yếu Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay nợ chính phủnói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự
hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổchức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa
Quy mô nợ công
TheoThe Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ
Trang 24công xấp xỉ 144 USD Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷUSD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước
có mức nợ công trên trung bình Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay,quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗinăm (Biểu đồ 1) Nếu tiếp tục với tốc độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đếnnăm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt quá 100% GDP như hai nước thànhviên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen(129,2%) Nợ công đạt trên 100% GDP là một con số không nhỏ đối với mộtnền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sảnphẩm nông nghiệp thô và côngnghiệp nhẹ như Việt Nam
Đồ thị 2.4 Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2001
-2010
Nguồn: The Economist Intelligence Unit
Trang 25 Cơ cấu nợ công
Bảng 2.1 Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2010
Nguồn: Bộ tài chính, bản tin nợ nước ngoài số 6 Chú thích: *, ** là số liệu 6 tháng đầu năm 2010
Cơ cấu nợ công củaViệt Nam năm 2006 - 2010 gồm nợ chính phủ chiếm78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.Trong nợ chính phủ, nợnước ngoài chiếm 61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1%.Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn Cụthể, năm 2009, nợ công củaViệt Nam gồm nợ chính phủchiếm 79,2%, nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm17,6% và nợ chính quyền địa phương chiếm 3,1%; trong nợ chính phủ, nợ nướcngoài chiếm 60%, trong đó có 85% là ODA
Tình hình sử dụng nợ công
Thông qua các chương trình đầu tư công,nợ công của Việt Namđượcchuyển tải vào các dự án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảngcho sự phát triển kinh tế bền vững Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở ViệtNam không đạt hiệu quả cao, thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn: Tình trạng chậm trễ
trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và nguồn vốn trái phiếuChính phủ diễn ra khá thường xuyên Tình trạng dự án, công trình thi công dở