1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot

53 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả nhất định, giúp mang lại nhiều thành tựu phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu của thời k

Trang 2

KIẾN NGHỊ DIỄN ĐÀN KINH TẾ MÙA XUÂN 2012

Kinh tế Việt Nam năm 2012:

Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

đến nay, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào việc liên tục gia tăng các yếu tố đầu vào, mà cụ thể là vốn, lao động

và khai thác tài nguyên thiên nhiên Chẳng hạn, mức đóng góp của vốn vào tăng trưởng lên tới 70,3% GDP trong giai đoạn 1986-1988, sau đó giảm xuống còn 63,0% vào các năm 1997-1999 trước khi tăng trở lại lên 68,0% trong thời kỳ 2000-2007, thậm chí còn lên tới gần 84,1% vào năm 2009 Số lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế cũng tăng mạnh, song đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lại ngày càng giảm, từ 41,7% trong giai đoạn 1986-1988 giảm xuống còn 21,0% trong thời kỳ 1997-1999 và chỉ còn 18,0% trong thời kỳ 2000-2007, trước khi phục hồi nhẹ lên 28,5% vào năm 2009

Mặc dù mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả nhất định, giúp mang lại nhiều thành tựu phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, giải phóng các nguồn lực sản xuất, nhưng việc duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng này đã khiến cho những yếu kém nội tại của nền

kinh tế với cơ cấu kinh tế không hợp lý, hiệu quả thấp bị tích tụ, dồn

Trang 3

nén đã gây nên nhiều hạn chế, yếu kém Những nhược điểm cơ bản của mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế này đã được bộc lộ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, và trở nên rõ nét nhất khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và trầm trọng hơn dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ cuối

2008 cũng như cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu từ năm 2009 Điều đó càng khiến cho việc tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng của nước ta trở nên hết sức cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết như đã được khẳng định trong Thông báo kết luận của Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết của Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII

Để chuẩn bị Báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và Báo cáo ý kiến về Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, trong hai ngày 8-9/4/2012, tại TP Đà Nẵng, Ủy ban Kinh tế, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh

tế vĩ mô” do Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam tài trợ, đã phối hợp tổ chức Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2012 với chủ

đề: “Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái

cơ cấu nền kinh tế”

Tham dự Diễn đàn có đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Đồng chí Nguyễn Đức Kiên, nguyên Ủy viên BCHTW Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa

Trang 4

XII; Đồng chí Nguyễn Văn Giàu - Ủy viên BCHTW Đảng, Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế; Đồng chí Nguyễn Bá Thanh,

Ủy viên BCHTW Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND, Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố Đà Nẵng; các đại biểu Quốc hội là thành viên của Ủy ban Kinh tế, đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc

phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ; các Bộ, ngành hữu quan; đại diện Thường trực Hội đồng Nhân dân,

Uỷ ban Nhân dân, Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng và một số tỉnh lân cận; các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học trong và ngoài nước; đại diện các đối tác phát triển, các tổ chức quốc tế như UNDP, WB, IMF, UK; đại diện một số tập đoàn kinh tế nhà nước và đông đảo các cơ quan thông tin, báo chí1

Các bài viết của các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế và các ý kiến phát biểu, trao đổi của các đại biểu tại Diễn đàn đều tập trung làm rõ những vấn đề chung và đặc biệt là các giải pháp về tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng Về các vấn

đề chung, các ý kiến đề nghị thống nhất nhận thức về mục đích, yêu cầu, quan điểm, nội dung, chi phí cần có để tái cơ cấu nền kinh tế, mối quan hệ giữa tái cơ cấu nền kinh tế với đổi mới mô hình tăng trưởng, mối quan hệ giữa tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và tái cơ cấu

3 lĩnh vực trọng tâm cũng như mối quan hệ giữa đề án tổng thể và các đề án do các bộ, ngành chuẩn bị; mối quan hệ giữa tái cơ cấu ở cấp độ hệ thống (vĩ mô) và tái cơ cấu ở cấp độ doanh nghiệp (vi mô); điểm chung và sự khác biệt giữa tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội v.v

Ý kiến chung cho rằng “mô hình tăng trưởng là cách thức mà một nền kinh tế tạo ra tăng trưởng” Tăng trưởng có thể đạt được thông qua

1 Có hơn 140 đại biểu tham dự.

Trang 5

4 “nguồn” chính là: (i) gia tăng đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên (input increase); hoặc gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực thông qua việc (ii) nâng cao hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency)2; (iii) nâng cao hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) các nguồn lực; và (iv) phát triển khoa học công nghệ (technological progress) Trong điều kiện hiệu quả sử dụng nguồn lực không đổi, tăng trưởng vẫn có thể được đẩy nhanh nhờ gia tăng các đầu vào của nền kinh tế như lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên Theo cách này, nền kinh tế được xem là “tăng trưởng theo chiều rộng” Tuy nhiên, khi mà tăng trưởng

theo cách thức trên đã bộc lộ nhiều bất cập thì “đổi mới mô hình tăng trưởng là việc thay đổi cách thức mà chúng ta đang tạo ra tăng trưởng”, từ chủ yếu nhờ gia tăng quy mô các yếu tố đầu vào - đặc biệt

là thâm dụng vốn, lao động giản đơn và tài nguyên - sang chủ yếu dựa vào nâng cao hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và tăng cường tiến

bộ khoa học - kỹ thuật Đây là cách thức tăng trưởng dựa vào hiệu quả, hay chính là mô hình tăng trưởng theo chiều sâu

Trong quá trình đó, “tái cơ cấu nền kinh tế là quá trình phân bổ lại các nguồn lực cho tăng trưởng (vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động, v.v…) nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, đồng thời nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, qua đó giúp nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng” Nói cách khác, tái

cơ cấu nền kinh tế chính là quá trình chuyển dịch nguồn lực từ những ngành, khu vực sử dụng kém hiệu quả sang những ngành, khu vực sử

2 Đây là yếu tố liên quan tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp Tái

cơ cấu nền kinh tế hướng tới một cơ cấu hiệu quả, bền vững và có sức cạnh tranh thì trong

đó từng doanh nghiệp phải hoạt động với hiệu quả cao nhất Hiện nay, các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước đang được hưởng nhiều ưu đãi về vốn, đất đai nhưng không bị áp lực phải đạt tới hiệu quả cao nhất bởi họ được bảo hộ độc quyền trong nhiều ngành sản xuất kinh doanh và được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi khác.

Trang 6

dụng hiệu quả hơn và qua đó sẽ làm thay đổi cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế hiện được coi là có nhiều bất cập ở nước ta, đồng thời nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Mục tiêu cuối cùng của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế là hình thành được một mô hình tăng trưởng mới với cơ cấu kinh tế hợp lý, nền kinh tế ổn định về vĩ mô và có năng lực cạnh tranh, phát triển chất lượng, hiệu quả và bền vững Một số ý kiến khác cho rằng mục tiêu chung của việc tái cơ cấu là thay đổi thể chế, cơ chế, công cụ phân bố, quản lý và sử dụng nguồn lực quốc gia theo mô hình tăng trưởng mới với cơ cấu kinh

tế hợp lý hơn, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững và phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa Để đạt được mục tiêu chung này, những chỉ tiêu cụ thể được xác định trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Mô hình tăng trưởng mới cần phải huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động,

hạ giá thành sản phẩm, mở rộng thị trường, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, thực hiện tăng trưởng xanh và bảo đảm an sinh xã hội

Như vậy có thể nói, tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng luôn luôn gắn kết hữu cơ với nhau, tác động lẫn nhau trong đó mô hình tăng trưởng có vai trò dẫn dắt, chi phối quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Ngược lại, tái cơ cấu nền kinh tế là điều kiện tiên quyết để đổi mới mô hình tăng trưởng

Để đạt được mục đích nêu trên, trong trung hạn chúng ta cần đạt được các mục tiêu trung gian như tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm

là tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp với trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước; và tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng với trọng tâm là các ngân hàng thương mại, thị trường

Trang 7

chứng khoán và các định chế tài chính hay nhiều mục tiêu trung gian

cụ thể khác Những mục tiêu trung gian này chính là những yếu điểm cốt tử của nền kinh tế mà nếu được xử lý một cách hiệu quả sẽ quyết định đến tính tổng thể của việc tái cơ cấu nền kinh tế, hướng tới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu

Sơ đồ: Đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế

Các ý kiến cho rằng tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có điểm chung là đều hướng tới một cơ cấu kinh tế hợp

lý nhưng điểm khác biệt là ở chỗ tái cơ cấu kinh tế dựa trên nhận thức rằng cơ cấu kinh tế đang có trục trặc nghiêm trọng, vì vậy cần phải cấp thiết thay đổi một cách cơ bản để chuyển sang một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn thông qua đổi mới cách thức phân bổ nguồn lực (tái cơ cấu ở cấp vĩ mô) và nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp (tái cơ cấu cấp doanh nghiệp) trong một khuôn khổ thời gian nhất định với những giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, có tính đột phá3,

3 Theo Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, ngay từ năm 2012 chuẩn bị các điều kiện để năm 2013 đến năm 2015 tạo được chuyển biến mạnh mẽ, cơ bản, có hiệu quả rõ rệt

Trang 8

thường là khi nền kinh tế đang đối mặt với nguy cơ khủng hoảng hoặc sau khi khủng hoảng kinh tế đã xảy ra Tái cơ cấu nhấn mạnh đến khía cạnh khắc phục những điểm nghẽn cơ cấu nghiêm trọng và thiếu hiệu quả nhất trong cách thức phân bổ nguồn lực cũ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo nên một sự chuyển biến toàn diện mang tính đột phá về cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả, bền vững Để có thể tái cơ cấu đòi hỏi phải có nguồn lực về tài chính (để xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại, cơ cấu lại những ngân hàng yếu kém, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn, phá sản,

hỗ trợ người lao động mất việc làm, dừng triển khai các dự án đang đầu tư dở dang v.v…) và phải tính toán cụ thể những tác động không thuận về kinh tế, xã hội mà quá trình này có thể gây ra Trong khi

đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy cũng hướng tới một cơ cấu kinh

tế hợp lý hơn nhưng là một quá trình thay đổi tuần tự, tự nhiên và thường kéo dài trong nhiều thập kỷ, chẳng hạn như quá trình giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của cả thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

“Tái phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước” chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt nội dung cũng như các giải pháp tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu thị trường tài chính, tái cơ cấu doanh nghiệp hay bất cứ lĩnh vực nào khác Các giải pháp trong từng đề án đều phải nhắm tới mục tiêu tái phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn ở cấp vĩ mô cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Với cách tiếp cận như vậy, từ hơn

34 bài viết của các chuyên gia kinh tế, nhà khoa học và hơn 40 ý kiến phát biểu tại Diễn đàn, chúng tôi xin chắt lọc lựa chọn đưa ra

12 nhóm kiến nghị và giải pháp chính về tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung vào tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Trang 9

và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường tài chính phi ngân hàng, qua đó sẽ tác động lan tỏa tới tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế trong thời gian tới4

I NHỮNG KIẾN NGHỊ CHUNG

Kiến nghị 1: Đổi mới những tư duy có tính hệ thống đã tồn tại từ lâu ở nước ta và nay đã chứng tỏ không còn phù hợp là điều kiện tiên quyết để có thể tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng thành công

Các ý kiến tại Diễn đàn cho rằng để tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, trước hết phải đổi mới những tư duy

là căn nguyên của những yếu kém nội tại của nền kinh tế, tạo ra mô hình tăng trưởng kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế không hợp lý Cụ thể như sau:

Về nền kinh tế thị trường:

vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, mọi thành phần và chủ thể tham gia thị trường được được cạnh tranh bình đẳng Cần nhận thức rõ yêu cầu này để chấm dứt hẳn những tư duy kế hoạch tập trung, thiên về mệnh lệnh hành chính khi hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô Cần quán triệt nguyên lý thị trường quyết định việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực hiệu quả nhất

Về vai trò của Nhà nước:

khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam

4 Nội dung cụ thể các tham luận của các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học được in trong

Kỷ yếu của Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2012.

Trang 10

đã hoàn toàn đổi khác Thay đổi quan trọng nhất là nền kinh tế đã trở nên rất mở, cơ cấu thành phần kinh tế và

cơ cấu sở hữu đã thay đổi một cách cơ bản Sự bùng nổ của khu vực kinh tế dân doanh và sự tham gia mạnh mẽ của khu vực FDI đã làm tăng tỷ lệ đóng góp của khu vực

tư nhân trong GDP lên tới gần 70% Vì vậy, Nhà nước cần xác định lại vai trò của mình với hai tư cách, một là thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu toàn dân; hai là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế Đồng thời, phân biệt rõ vai trò của Nhà nước và vai trò của thị trường Thị trường vận động theo những quy luật kinh tế khách quan chứ không đơn thuần nằm dưới và chịu sự chi phối có tính tùy định của Nhà nước Chỉ trên cơ sở “phân nhiệm” mạch lạc giữa Nhà nước và thị trường thì Nhà nước mới có thể quyết định nên làm gì và không nên làm gì

Về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước:

kinh tế thành công, việc đổi mới tư duy về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thông qua việc xác định rõ vai trò và chức năng của kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng là điều hết sức quan trọng và cấp bách Ý kiến của nhiều nhà khoa học tại hội thảo đề nghị xem xét lại một cách căn bản vai trò “chủ đạo” của khu vực kinh tế nhà nước mà nòng cốt là hệ thống doanh nghiệp nhà nước Cụ thể là, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không nên hiểu và diễn giải thành DNNN, nhất là tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải giữ

vị trí chi phối trong các ngành kinh tế và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và độc quyền trên nhiều lĩnh vực

Trang 11

Cần xác định rõ phạm vi hoạt động của kinh tế nhà nước

để tạo dư địa cho sự phát triển của các thành phần kinh

tế khác

Về vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp nhà

nước: Việc sử dụng doanh nghiệp nhà nước làm công cụ

điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô là không có cơ sở xét

cả trên lý luận và thực tiễn Về mặt lý thuyết, công cụ điều tiết vĩ mô và bình ổn kinh tế trong kinh tế thị trường

là chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách

cơ cấu DNNN là một tác nhân thị trường như các doanh nghiệp khác, chịu tác động chứ không phải là một bộ phận của các chính sách điều tiết vĩ mô Không những thế, cái giá phải trả cho việc sử dụng DNNN làm công cụ bình ổn giá là rất lớn Thứ nhất, DNNN chiếm vị trí độc quyền hoặc gần như độc quyền ở nhiều lĩnh vực, không chịu áp lực cạnh tranh và do vậy kém hiệu quả Và đó là một trong các nguyên nhân của bất ổn vĩ mô chứ không phải là công cụ để ổn định kinh tế vĩ mô Thứ hai, sử dụng DNNN làm công cụ ổn định giá làm cho giá thị trường của các sản phẩm có liên quan bị bóp méo, khiến việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trở nên bất hợp lý

và kém hiệu quả Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, giá

cả sau một thời gian bị “dồn nén” dẫn đến thua lỗ hoặc trợ cấp, bao cấp chéo lớn đến mức không thể tiếp tục

“nén” được nữa, thì phải bung ra Điều đó tạo ra cú sốc lớn trong nền kinh tế, làm cho kinh tế vĩ mô vốn đã bất

ổn, dễ bị tổn thương trở nên bất ổn và dễ bị tổn thương hơn Thực tiễn quản lý giá điện và xăng dầu ở nước ta trong thời gian qua là minh chứng đặc trưng cho những

Trang 12

lý giải nói trên Cần kiên định với nguyên tắc “nhà nước chỉ làm những gì mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm khi đã được tạo điều kiện thuận lợi

và hỗ trợ từ phía Nhà nước” Không sử dụng DNNN là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay để giải quyết các vấn đề xã hội và không sử dụng DNNN làm đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hình thức thâm dụng vốn đầu tư lớn (nhưng hiện đang dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và đặc biệt là kém hiệu quả)

Về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân:

nghị thay đổi và khẳng định coi kinh tế tư nhân là “động lực chủ yếu” hay “động lực quan trọng” của tăng trưởng kinh tế Có thay đổi như nói trên, thì mới có bứt phá trong phát triển kinh tế phù hợp với xu thế của nền kinh

tế thị trường hiện đại Đổi mới tư duy về vai trò “động lực” của khu vực kinh tế tư nhân sẽ có ý nghĩa rất quan trọng góp phần làm thay đổi tư duy trong thiết kế và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng tới các nguồn lực phát triển quốc gia, thiết lập một môi trường kinh doanh bình đẳng để buộc các doanh nghiệp nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác theo đúng cơ chế thị trường Các học thuyết kinh tế hiện đại đều cho rằng bình đẳng về cơ hội tiếp cận và sử dụng nguồn lực phát triển quốc gia và quyền kinh doanh giữa các khu vực kinh tế sẽ giúp nâng cao hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ, qua đó góp

Trang 13

phần quan trọng không chỉ thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh

tế, mà còn hỗ trợ chuyển đổi thành công sang mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều sâu, hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững

Kiến nghị 2: Cải cách thể chế là tiền đề quan trọng để các nguồn lực trong nền kinh tế được phân bổ một cách hiệu quả, qua đó giúp nền kinh tế được tái cơ cấu một cách căn bản

Cũng như ở các quốc gia khác, nền kinh tế Việt Nam được điều tiết bởi những thể chế chính thức và phi chính thức Thể chế chính thức bao gồm Hiến pháp, luật, đặc biệt là các luật về quyền sở hữu,

về tự do khế ước, tự do cạnh tranh, tổ chức công quyền, nhất là các thiết chế thi hành pháp luật và những quy trình kiểm soát quyền lực công được thực hiện bởi những cơ chế khách quan Thể chế phi chính thức bao gồm các quy tắc bất thành văn, thông lệ, tập quán v.v Các thể chế căn bản cần cho một nền kinh tế bao gồm một hệ thống pháp luật đáng tin cậy, ghi nhận và bảo hộ các quyền sở hữu,

tự do khế ước, tự do kinh doanh và cạnh tranh, một cơ chế đáng tin cậy giúp giải quyết các tranh chấp cũng như một chính quyền minh bạch, đáng tin cậy, mọi hành vi can thiệp của chính quyền vào nền kinh tế có tính tiên liệu và có khả năng lường trước được

Một vấn đề hệ trọng cần được sớm khắc phục là tình trạng chia cắt thể chế giữa các Bộ, ngành cũng như giữa các cấp chính quyền Biểu hiện rõ nét nhất của sự chia cắt thể chế giữa các Bộ ngành là

sự phối hợp lỏng lẻo, thậm chí tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa từ năm 2007 cho đến nay Ví dụ rõ nhất của sự chia cắt thể chế giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương là nền kinh tế

bị chia cắt thành 63 nền kinh tế tỉnh, thành, cạnh tranh rất quyết liệt

Trang 14

trong các dự án đầu tư công khổng lồ như cảng biển nước sâu, sân bay, khu kinh tế ven biển v.v

Xây dựng các thể chế phù hợp, trong đó đặc biệt quan trọng là quyền sở hữu và cạnh tranh bình đẳng, là một trong các tiền đề cho tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chất lượng thể chế là điểm đột phá trong phát triển Để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu, tạo cơ sở và điều kiện phân

bổ các nguồn lực phát triển một cách hiệu quả nhất, cải cách thể chế kinh tế ở nước ta trong giai đoạn tới cần được đẩy mạnh và tập trung chủ yếu vào những nội dung sau:

Sửa đổi Hiến pháp 1992: Các thể chế kinh tế nền tảng

đều được quy định trong Hiến pháp, bắt đầu từ các định hướng chính sách đối với các thành phần kinh tế, chế độ

sở hữu, các quyền tự do kinh doanh của người dân và

cơ cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước thực thi quyền lực công cộng Sửa đổi Hiến pháp 1992 lần này là cơ hội lớn

để điều chỉnh các thể chế kinh tế vì cứ khoảng một thập

kỷ mới lặp lại một lần

Sửa đổi các đạo luật về tổ chức các cơ quan nhà nước:

Trên cơ sở Hiến pháp sau khi được sửa đổi, các luật về

tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát Nhân dân và tổ chức chính quyền địa phương cũng như các luật về hoạt động giám sát có liên quan cần được sửa đổi phù hợp để các cơ quan dân cử có một vai trò đáng kể hơn, ví dụ trong các lĩnh vực quản lý đầu

tư công, quản lý công sản, quản lý đất đai Đây là cơ hội thiết kế lại các thiết chế chính trị phục vụ cho việc

Trang 15

chuyển đổi nền kinh tế theo mô hình mới dựa trên tự do kinh doanh và cạnh tranh, đề cao hơn sở hữu tư nhân và giám sát hiệu quả hơn khu vực kinh tế nhà nước.

Sửa đổi các luật về sở hữu, nhất là Luật Đất đai theo

hướng bảo đảm việc sử dụng đất mang tính ổn định, dài hạn bằng việc xác định rõ chủ thể sở hữu theo Hiến pháp, phân biệt rõ quyền của người sử dụng trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng với quyền quản lý nhà nước của chính quyền các cấp nhằm tạo ra động lực để các chủ thể quản lý và sử dụng khai thác một cách hiệu quả tài nguyên, tài sản đặc biệt, tư liệu sản xuất chủ yếu này.Ban hành Luật Đầu tư công và sửa đổi Luật Ngân sách

nhà nước (có thể thay bằng Luật Tài chính công) là cơ hội để thiết kế các thể chế tốt hơn nhằm kiểm soát chặt chẽ các quy trình sử dụng tài sản công và phân bổ phúc lợi Những thể chế này đã được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của các đề án tái cơ cấu nền kinh tế

Sửa đổi Luật Phá sản với thủ tục phá sản thuận lợi hơn

để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp, gắn với đổi mới nhận thức về phá sản doanh nghiệp, coi phá sản do-anh nghiệp, kể cả phá sản ngân hàng, là một hiện tượng bình thường của kinh tế thị trường, không hình sự hóa hành vi phá sản doanh nghiệp

Sửa đổi các văn bản pháp luật về phân cấp quản lý kinh

tế, trong đó có Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh phân

Trang 16

cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phân cấp quản

lý nhà nước, trong đó tập trung chủ yếu vào: (i) phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển; (ii) phân cấp quản lý ngân sách nhà nước; (iii) phân cấp quản lý đất đai, tài nguyên, tài sản nhà nước; và (iv) phân cấp quản lý doanh nghiệp nhà nước Việc sửa đổi

và bổ sung các văn bản pháp luật về phân cấp quản lý kinh tế sẽ có tác động mạnh tới ba cấu phần quan trọng nhất trong đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế

Nghiên cứu thành lập Ủy ban độc lập về Tái cơ cấu nền

kinh tế hoặc bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho Hội đồng quốc gia về Năng lực cạnh tranh và trao cho cơ quan này những quyền hạn đặc biệt về tái cơ cấu nền kinh tế Nhiều chuyên gia cho rằng gốc rễ của cải cách, cải tổ, đổi mới hay tái cơ cấu v.v vẫn là một sự thay đổi mạnh

mẽ thể chế để có thể thay đổi căn bản cách thức quản lý, điều hành nền kinh tế, cách thức phân bổ các nguồn lực không hiệu quả hiện nay Và kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy để có thể thực thi những thay đổi

về thể chế mang tính đột phá như vậy nhất thiết cần một thiết chế đặc biệt Việc hình thành một thiết chế mới không có nghĩa là phủ nhận vai trò của các thiết chế hiện hữu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước v.v ) mà lý do đơn giản là những cơ quan này không có đủ thẩm quyền và nhân lực cho những đòi hỏi mới; ngoài ra, rất khó dùng chính những thiết chế cũ để cải cách chính mình5

5 Một số ví dụ điển hình về các cơ quan chuyên trách cho tái cơ cấu bao gồm Jakarta

Trang 17

Initiati-Hình thành, kiện toàn các thiết chế độc lập điều tiết thị

trường như Ủy ban cạnh tranh, chống độc quyền, Ủy ban chứng khoán v.v Tách các thiết chế này khỏi cơ cấu của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước để hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tránh lạm dụng biện pháp hành chính để can thiệp vào thị trường

Kiến nghị 3: Đổi mới phương thức phân bổ nguồn lực đất đai, một trong các nhân tố sản xuất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với thành công của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế.

Các nhân tố sản xuất (gồm vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động) về nguyên tắc cần phải được phân bổ và dịch chuyển từ những ngành, thành phần, vùng kinh tế, và hoạt động kinh doanh có năng suất lao động thấp sang những ngành, thành phần, vùng kinh tế,

và hoạt động kinh doanh có năng suất lao động cao hơn theo cơ chế thị trường Tuy nhiên trong thời gian qua, việc phân bổ nguồn lực nói chung, đặc biệt là phân bổ đất đai còn nhiều bất cập Nguồn lực đất đai chưa thực sự được huy động hiệu quả nhất để trở thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển tràn lan nhưng tỷ lệ lấp đầy thấp, sử dụng lãng phí Tình trạng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện

dự án đầu tư nhưng chậm sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng vẫn

ve Taskforce (Indonesia), Ủy ban Hợp tác tái cơ cấu doanh nghiệp (Corporate Restructuring Coordination Committee - Hàn Quốc), Ủy ban Tái cơ cấu nợ doanh nghiệp (Corporate Debt Restructuring Committee - Malaysia), Ủy ban Tư vấn tái cấu trúc nợ doanh nghiệp (Corporate Debt Restructuring Advisory Committee - Thái Lan) Ngân hàng Thế giới trong Báo cáo năm 2011 cũng khuyến nghị Việt Nam nên thành lập Ủy ban về Tái cơ cấu nền kinh tế.

Ở Việt Nam cũng đã có 2 ví dụ rất điển hình cho sự thành công của những thiết chế nói trên

là Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính (Đề án 30) của Thủ tướng Chính phủ.

Trang 18

còn diễn ra khá phổ biến Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân rất thấp, kinh tế trang trại phát triển chậm, chỉ chiếm 1% số nông hộ Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu

hỗ trợ tín dụng nên rất khó cho các nông dân giỏi có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của các nông dân khác Kết quả là rất nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả Hiện nay, lao động nông thôn di cư ra làm việc tại đô thị, nhưng vẫn giữ đất ở quê

mà không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người ở lại nên không tăng được hiệu quả sử dụng đất Rất nhiều nông dân sản xuất không hiệu quả, kiếm thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp, phi chính thức nhưng vẫn muốn giữ đất để bảo hiểm rủi ro do thiếu hệ thống an sinh xã hội chính thức tại nông thôn Nhà nước chưa thực hiện tốt vai trò điều tiết nguồn lợi từ đất thông qua xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đầu tư kết cấu hạ tầng; chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư Trong đó, phần địa tô tăng lên do quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng của Nhà nước chủ yếu rơi vào túi của nhà đầu tư

Do đó, việc phân bổ nguồn lực nói chung, đặc biệt là nguồn lực đất đai cần được đổi mới theo hướng sau:

Đất là tài sản đặc biệt chỉ có thể sử dụng và khai thác có

hiệu quả nhờ vào sự quản lý và đầu tư ổn định, lâu dài

từ thế hệ này sang thế hệ khác Phải được bảo đảm an toàn dài hạn bằng việc xác định rõ chủ sở hữu, quyền của chủ sở hữu, quyền, nghĩa vụ của người sử dụng, xác lập quy hoạch, ước tính giá trị thì mới có thể tạo ra động lực để các chủ thể quản lý và sử dụng khai thác một cách hiệu quả

Trang 19

Cương quyết chấm dứt thái độ hy sinh nông nghiệp,

nông thôn để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa Cần giãn phát triển công nghiệp, đô thị về nông thôn; tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cho các tỉnh phải giữ diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch vì mục đích bảo đảm an ninh lương thực quốc gia

Thiết kế, triển khai và giám sát thực hiện chính sách và

quy hoạch cần đảm bảo chính xác các cân bằng chính giữa các ngành, các vùng, các đối tượng và có sự tham gia của mọi đối tượng Nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước và tăng cường sự tham gia của người dân trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất, tạo công bằng và

ổn định xã hội

II TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG

Kiến nghị 4: Tái cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư công theo hướng huy động vốn đầu tư của xã hội, giảm dần đầu tư từ nguồn vốn nhà nước và xây dựng cơ chế quản lý vốn đầu tư công hiệu quả.

Tái cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư công là quá trình kết hợp nhiều hình thức sở hữu vốn trong các hoạt động đầu tư phát triển, góp phần đạt được các mục tiêu tối ưu của quá trình đầu tư, tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích, hàng hóa công cho xã hội, tạo

ra sự tăng trưởng mạnh các chỉ tiêu kinh tế của đất nước trong điều kiện tiết giảm mạnh nguồn vốn nhà nước Với ý nghĩa đó, tái cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư công là một yêu cầu khách quan xuất phát từ tính đa dạng của các nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường: nguồn vốn ngân sách nhà nước (nguồn vốn đầu tư phát triển, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA); nguồn vốn ngoài cân đối ngân sách nhà nước (trái phiếu chính phủ, vay về cho vay lại); nguồn vốn của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; và các nguồn vốn khác

Trang 20

Để làm được điều đó cần thực hiện các giải pháp cụ thể sau:Tiếp tục cải cách hệ thống thuế, tín dụng, giá cả, v.v

nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, chính sách ưu đãi, tạo thêm nhiều cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế, nhất

là kinh tế tư nhân Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhà nước của nước ta hiện nay vẫn cao hơn nhiều so với các nước (khoảng 28%) và do vậy giảm khả năng tích lũy, đầu tư của người dân Cần giảm dần tỷ lệ này tới mức hợp lý hơn6 Thực hiện công khai hóa các danh mục công trình, dự án, quy trình và cơ chế khuyến khích đầu tư của Nhà nước để định hướng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn, làm cơ sở cho việc huy động các nguồn vốn

Hợp tác công - tư (PPP) có vị trí quan trọng trong cơ chế

huy động tài chính từ đất đai để đầu tư cho cơ sở hạ tầng Thiết lập mô hình tài chính cho các dự án đầu tư công để kết hợp các nguồn vốn nhà nước, nguồn vốn tư nhân và

sự hỗ trợ của các nhà tài trợ trong cùng một dự án đồng thời tăng cường hiệu quả cơ chế giám sát đầu tư công, trong đó tài chính liên quan đến đất đai có thể được coi

là cơ hội lớn nhất để thực hiện PPP trong lĩnh vực đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị như các tuyến đường vành đai v.v Chênh lệch địa tô là lợi ích kinh tế

mà nhà đầu tư tư nhân được hưởng từ hạ tầng công ích được đầu tư theo hình thức PPP

6 Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 nêu rõ

tỷ lệ huy động thuế và phí vào ngân sách không vượt quá 22-23%.

Trang 21

Nguồn vốn đầu tư từ NSNN và các nguồn vốn khác của

Nhà nước ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng có vai trò “vốn mồi”, kích thích, tạo “cú hích” để thúc đẩy và thu hút các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế khác Cần tái cơ cấu nguồn vốn này theo hướng ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực khó hoặc không thể thu hút đầu tư bằng các nguồn khác như đầu

tư cho nông nghiệp, nông thôn, khu vực miền núi; quốc phòng an ninh; giáo dục, y tế, phòng chống thiên tai, bảo

vệ môi trường; các mục tiêu về an sinh xã hội; đột phá

cụ thể chi phí cho việc dừng các dự án, công trình không hiệu quả, dở dang và kéo dài và đây cần được coi là chi phí cho việc tái cơ cấu đầu tư công

Kiến nghị 5: Đổi mới phân cấp quản lý kinh tế, đặc biệt là phân cấp quản lý và giám sát đầu tư là một yêu cầu cấp bách nhằm giải quyết triệt để những hạn chế, bất cập trong đầu tư công

Phân cấp quản lý kinh tế là một chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Mốc đột phá về phân cấp quản lý đầu tư ở Việt Nam là việc ban hành Nghị định số 108 năm 2006 hướng dẫn

Trang 22

thi hành một số điều của Luật Đầu tư Trước đó, các Bộ, ngành can thiệp sâu vào hoạt động đầu tư, trong khi thẩm định của các cơ quan này nhiều khi không sát thực tế Trong khi đó, UBND các tỉnh, thành

là nơi gần gũi nhất với hoạt động đầu tư, sát với doanh nghiệp, nắm các nguồn lực liên quan đến đầu tư như đất đai, lao động, các hoạt động kiểm tra, giám sát và bảo vệ lợi ích nhà đầu tư và người lao động cũng như giải quyết các vướng mắc của các nhà đầu tư Vì vậy, phân cấp cho các địa phương là một nhu cầu cần thiết, là một bước chuyển hoạt động quản lý nhà nước của các Bộ ngành ở trung ương

từ tiền kiểm sang hậu kiểm Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy tình trạng phân cấp chưa tương xứng với năng lực của chính quyền cấp dưới, phân cấp quá đà, quá nhanh, phân cấp mạnh nhưng thiếu sự kiểm tra, hướng dẫn có hiệu lực từ trung ương là một vấn đề lớn đang đặt ra hiện nay

Đối với đầu tư công, cạnh tranh giữa các tỉnh, thành dẫn tới việc các tỉnh, thành có thể làm những việc vượt thẩm quyền7, quyết định

dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn lại đề nghị Trung ương bố trí Hệ quả

là các dự án do địa phương quyết định quá nhiều, nhưng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách lại hạn hẹp và bị dàn trải Không ít dự án bị thiếu vốn, thực hiện cầm chừng, kéo dài, chậm đưa vào sử dụng, do vậy hiệu quả ngày càng giảm

Những hạn chế, bất cập trong việc phân cấp quản lý đầu tư xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó đặc biệt là: (i) thiếu các điều kiện bảo đảm phân cấp hiệu quả như chưa phân định rạch ròi quyền

và trách nhiệm quản lý của từng cấp (trung ương, địa phương); năng lực chưa tương xứng của các địa phương trong việc lựa chọn, quyết định và quản lý các dự án đầu tư, vai trò của các Bộ, ngành trong việc giám sát quyết định đầu tư của các địa phương; (ii) thiếu cơ chế phối

7 Từ 2006 đến nay phần lớn dự án đầu tư công được phân cấp cho ngành và địa phương và việc quyết định đầu tư công đã tách rời việc bố trí vốn.

Trang 23

hợp, cụ thể là ở cấp trung ương vai trò nhạc trưởng của Bộ Kế hoạch

sự phối hợp tốt ở cấp vùng để giải quyết các vấn đề liên vùng mặc dù

đã hình thành các Ban chỉ đạo cấp vùng, chưa có sự phối hợp giữa

Do đó, những giải pháp cơ bản cho việc đổi mới phân cấp và quản lý đầu tư công cho giai đoạn phát triển sắp tới bao gồm:

Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội,

các quy hoạch ngành, vùng, địa phương theo định hướng tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.Phân bổ nguồn lực theo tiêu chí phát triển các vùng kinh

Hình thành thiết chế quản lý vùng có các quyền quyết

định quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, quyết định quy hoạch và xây dựng các công trình hạ tầng trọng điểm của vùng, quy hoạch và xây dựng các đô thị lớn và

đô thị vệ tinh, khu kinh tế, khu công nghiệp có tính liên

8 Thậm chí tính kỷ luật trong công tác báo cáo con số đầu tư của địa phương lên Cục ĐTNN không được tuân thủ Chỉ riêng trong tháng 7/2008, chênh lệch giữa báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài và một số tỉnh miền Trung là khoảng 3,8 tỷ USD Trong số này có cả những dự

án đầu tư “tỷ đô” Con số báo cáo của Cục ĐTNN tháng 12/2008 là 64 tỷ USD, thấp hơn con

số thực là 7 tỷ USD Các đợt rà soát của Cục Đầu tư nước ngoài cũng đã phát hiện không ít

dự án được các địa phương cấp phép nhưng lại không có tên trong báo cáo tổng hợp.

9 Riêng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã cấp phép 18 dự án sản xuất thép (trong khi lợi thế là tỉnh ven biển, du lịch), trong đó tỉnh và khu công nghiệp đều được quyền cấp dự án, do đó đã vượt quá quy hoạch của Bộ Công Thương chỉ cho phép 6-7 dự án.

Trang 24

kết và chuyên môn hóa cao, các trường đại học, bệnh viện lớn trong phạm vi vùng, khu vực

Phân định rạch ròi quyền và trách nhiệm quản lý của

từng cấp, nâng cao năng lực của các địa phương trong việc lựa chọn, quyết định và quản lý các dự án đầu tư; tăng cường vai trò giám sát của các Bộ, ngành trung ương trong việc giám sát quyết định đầu tư của các địa phương Đối với các dự án sử dụng vốn từ Trung ương cần có sự phê duyệt và giám sát từ cấp có thẩm quyền ở Trung ương để tránh tình trạng các địa phương lập dự án tràn lan để giữ chỗ và xin ngân sách Trung ương Việc phê duyệt cần bảo đảm một số tiêu chí cần thiết, trong

đó có tính thiết thực với sự phát triển của địa phương và

Phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường sự tham gia của các

án đầu tư công.

Thực tế cho thấy, không ít dự án đầu tư công hiện đang lãng phí, không hiệu quả, đặc biệt việc chậm tiến độ11 là một trong những

10 Cách thức này đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện và cũng được các nước áp dụng đối với các khoản ODA thực hiện đối với Việt Nam Hàng năm các nước cam kết dành cho Việt Nam một khoản ngân sách nào đó, nhưng có thể chỉ một phần rất nhỏ trong mức cam kết đó được giải ngân vì Việt Nam không đưa ra được các dự án khả thi, thỏa mãn tiêu chí của tổ chức cam kết cấp vốn Bản thân các dự án ODA, một khi được giải ngân cũng sẽ được giám sát bởi tổ chức cấp vốn

11 Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2010 tình trạng chậm tiến độ thực hiện dự

án sử dụng vốn nhà nước còn khá lớn Cụ thể, trong số 34.607 dự án đang thực hiện đầu tư,

Trang 25

nguyên nhân chủ yếu làm tăng chi phí, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư và tác động tiêu cực đến nền kinh tế Hiệu quả đầu tư công thấp là hệ quả của hàng loạt các yếu tố, như đầu tư thiếu quy hoạch, thiếu kế hoạch chi tiết; đầu tư các dự án không còn cần thiết; đầu tư phân tán, vốn được phân bổ vào quá nhiều dự án nên các dự

án thường bị thiếu vốn và kéo dài tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và chậm đưa công trình vào sử dụng; đầu tư dàn trải dẫn đến dư thừa công suất, tỷ suất sử dụng công trình không đạt như dự kiến, chi phí vận hành không giảm; đầu tư thiếu đồng bộ dẫn tới công trình cụ thể hoàn thành mà không đưa vào sử dụng được hoặc công trình đầu tư

có liên quan thường bị dở dang, thậm chí không hoàn thành được Hơn nữa, quản lý và giám sát đầu tư còn yếu kém làm thất thoát vốn đầu tư và chưa bảo đảm chất lượng và hiệu quả công trình như dự kiến; phân cấp quyết định và sử dụng vốn đầu tư chưa đi kèm với giám sát, kiểm soát chất lượng và hiệu quả đầu tư

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, trước hết phải khắc phục các nguyên nhân dẫn tới yếu kém nêu trên Việc đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư công cần có những tiêu chí rất cụ thể, phân biệt về mặt kinh tế - xã hội và môi trường Căn cứ theo các tiêu chí đã ban hành, thực hiện rà soát, đánh giá lại tất cả các dự án (đang thực hiện hoặc trong quy hoạch); phân loại dự án theo thứ tự ưu tiên thực hiện, loại bỏ các dự án không còn đáp ứng các tiêu chí đặt ra Theo Nghị định 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ về Giám sát

và đánh giá đầu tư công, thì “đánh giá tác động” là đánh giá được thực hiện vào thời điểm thích hợp sau năm thứ 3 kể từ ngày đưa dự

án vào vận hành, nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động kinh tế - xã hội của dự án so với mục tiêu đặt ra ban đầu

thì có tới 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ.

Trang 26

Do vậy, yêu cầu quan trọng là phải nghiên cứu, ban hành

tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu

tư công Bộ tiêu chí được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí đánh giá sau: (i) đánh giá thực trạng kinh tế – kỹ thuật vận hành của dự án; (ii) đánh giá tác động kinh tế– xã hội của dự án; (iii) đánh giá tác động môi trường, sinh thái của dự án; và (iv) đánh giá tính bền vững của dự án;Thiết lập và vận hành quy trình hợp lý, chặt chẽ và có

hiệu quả về xác định, thẩm định, lựa chọn và thực hiện

dự án đầu tư nhà nước gồm các bước chủ yếu sau: (i) xác định chủ trương, định hướng chiến lược đầu tư công phù hợp với các quy hoạch phát triển có liên quan, mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên đầu tư của khung quản lý đầu tư trung hạn; (ii) đánh giá, thẩm định ban đầu đối với các

đề xuất dự án, loại bỏ các dự án không phù hợp với chủ trương định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển và khung quản lý đầu tư trung hạn; (iii) thẩm định, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư nhà nước; (iv) rà soát, đánh giá lại kết quả thẩm định dự án; (v) lựa chọn dự án và lên kế hoạch ngân sách, dự toán vốn đầu tư của các dự án được chọn phải phù hợp với tổng

số vốn đầu tư kế hoạch có thể cân đối được trong cùng một thời kỳ nhất định; (vi) thực hiện đầu tư, thay đổi, bổ sung (nếu cần thiết); (vii) hoàn thành đưa vào sử dụng;

và (viii) theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả dự án, so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội thực tế với hiệu quả kinh

Ngày đăng: 09/03/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Cơ quan chủ quản của các DNNN được cổ phần hóa - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 2 Cơ quan chủ quản của các DNNN được cổ phần hóa (Trang 48)
Hình 3: Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam tính theo giá thực tế, 1986-2010 - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 3 Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam tính theo giá thực tế, 1986-2010 (Trang 49)
Hình 4: Cơ cấu thành phần kinh tế của Việt Nam theo giá thực tế, 1986-2010 - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 4 Cơ cấu thành phần kinh tế của Việt Nam theo giá thực tế, 1986-2010 (Trang 49)
Hình 6: Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế của Việt Nam, - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 6 Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế của Việt Nam, (Trang 50)
Hình 5: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế của Việt Nam, 1986-2010 - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 5 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế của Việt Nam, 1986-2010 (Trang 50)
Hình 7: Hiệu quả đầu tư chung (ICOR) của nền kinh tế Việt Nam, 1986-2010 - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 7 Hiệu quả đầu tư chung (ICOR) của nền kinh tế Việt Nam, 1986-2010 (Trang 51)
Hình 8: Tỷ lệ vốn đầu tư so GDP theo thành phần kinh tế, 1986-2010 (%) - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 8 Tỷ lệ vốn đầu tư so GDP theo thành phần kinh tế, 1986-2010 (%) (Trang 51)
Hình 10: Năng suất lao động của Việt Nam, 1991-2010 (theo $PPP năm 1990) - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 10 Năng suất lao động của Việt Nam, 1991-2010 (theo $PPP năm 1990) (Trang 52)
Hình 9: Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, 1991-2010 - Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình tái cơ cấu nền kinh tế pot
Hình 9 Hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước, 1991-2010 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w