1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Phòng chống bạo lực với trẻ em và lao động trẻ em " docx

6 492 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 148,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể bao gồm những loại hành vi sau đây: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc những hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhâ

Trang 1

TS §ç Ng©n B×nh *

rong những năm gần đây, hiện tượng

bạo lực đối với trẻ em đang ngày càng

gia tăng Do hạn chế về nhận thức, do tuổi

tác và thiếu sự quan tâm của gia đình, trẻ em

đang không những bị bóc lột về sức lao động

mà còn bị đánh đập, chà đạp về nhân phẩm,

danh dự Đã đến lúc, Nhà nước và toàn xã

hội cần quan tâm hơn đến các biện pháp

phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao

động trẻ em Trong đó, việc xem xét, hoàn

thiện các quy định pháp luật về phòng,

chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ

em, cũng như tổ chức thực hiện tốt các quy

định này là một nhân tố quan trọng

1 Về khái niệm trẻ em, lao động trẻ

em và bạo lực đối với trẻ em

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật

của Việt Nam đang tồn tại những quy định

không thống nhất về độ tuổi để xác định thế

nào là trẻ em và lao động trẻ em

Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em thông qua ngày 15/6/2004 cho rằng trẻ

em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.(1)

Bộ luật hình sự nước Cộng hoà XHCN

Việt Nam năm 1999 có một số quy định gián

tiếp về “trẻ em” Cụ thể, trong các tội phạm

liên quan đến trẻ em, Bộ luật hình sự xác định

trẻ em là người dưới 16 tuổi, những tội phạm

đối với đối tượng này được chia thành 2 loại:

Tội phạm đối với trẻ em trong độ tuổi từ đủ

13 đến dưới 16 tuổi và tội phạm đối với trẻ

em dưới 16 tuổi Như vậy, với các quy định

của Bộ luật hình sự, có thể hình dung trẻ em

là những người dưới 16 tuổi, khác với người

vị thành niên là người dưới 18 tuổi

Tại Bộ luật lao động (BLLĐ) nước Cộng hoà XHCN Việt Nam không đưa ra điều luật xác định thế nào là “lao động trẻ em” mà chỉ

quy định: “người lao động là người từ đủ 15

tuổi trở lên”.(2) Đồng thời, BLLĐ cũng xác định lao động chưa thành niên “là người dưới

18 tuổi”(3) và quy định về việc cấm nhận trẻ

em chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nặng nhọc, độc hại…(4) Như vậy, việc xác định thế nào là trẻ em và lao động trẻ em trong các văn bản pháp luật lao động nhìn chung chưa rõ ràng Chỉ có thể suy đoán gồm 2 loại là: Lao động vị thành niên dưới 18 tuổi và lao động trẻ em dưới 15 tuổi

Đối chiếu với các quy định trong Công ước 182 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

về “Cấm và hành động tức thời để loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” và Khuyến nghị số 190 cũng về vấn đề này,(5) có thể thấy những điểm vênh giữa pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế về khái niệm

“lao động trẻ em” Tại hai văn bản của ILO, thuật ngữ “trẻ em” được áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi, trong khi theo quy định của pháp luật Việt Nam trẻ em lại là người dưới 16 tuổi Như vậy, quy định về độ tuổi không đồng nhất chính là một trong những vấn đề đầu tiên cần xem xét khi chuẩn hoá các

T

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

văn bản pháp lí làm cơ sở cho việc triển khai

các hoạt động phòng, chống bạo lực trẻ em

Căn cứ vào các quy định của pháp luật và

thực tiễn, có thể thấy hành vi bạo lực đối với

trẻ em và lao động trẻ em là hành vi cố ý gây

tổn hại hoặc hành vi có khả năng gây tổn hại

về thể chất, tinh thần đối với trẻ em và lao động

trẻ em Cụ thể bao gồm những loại hành vi sau

đây: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc những

hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính

mạng; lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc

phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi

hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lí gây

hậu quả nghiêm trọng; cưỡng ép quan hệ tình

dục (như hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu…)

với trẻ em và lao động trẻ em; cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ

của trẻ em hoặc lao động trẻ em; đối xử tồi tệ,

bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách,

không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân,

giam hãm ở nơi có môi trường độc hại, nguy

hiểm hoặc bắt làm những việc trái với đạo

đức xã hội; hành vi lạm dụng sức lao động trẻ

em, sử dụng sức lao động trẻ em vào công

việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với

chất độc hại, làm những công việc khác trái

với quy định của pháp luật về lao động

2 Về các biện pháp phòng, chống bạo

lực đối với trẻ em

Căn cứ vào các hoạt động thực tiễn và

hiệu quả của các hoạt động đó, có thể chia

thành các biện pháp như sau:

1) Nhóm các biện pháp phòng ngừa tình

trạng bạo lực đối với trẻ em như tư vấn,

tham vấn, giáo dục định hướng đối với trẻ

em, phổ biến, tuyên truyền pháp luật đối với

trẻ em và cộng đồng, xác định trách nhiệm

của các cơ quan, đoàn thể, quần chúng;

2) Nhóm các biện pháp nhằm phát hiện hành vi bạo lực đối với trẻ em như nâng cao ý thức nhân dân, giáo dục nhằm nâng cao khả năng phản ứng và tự phòng vệ của trẻ em, tăng cường sự quan tâm của gia đình và nhà trường đối với trẻ em và lao động trẻ em; 3) Nhóm các biện pháp phối hợp xử lí đối với các hành vi bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em, phối hợp liên ngành giữa các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, gia đình và cá nhân; 4) Nhóm các biện pháp sử dụng chế tài đối với người có hành vi bạo lực đối với trẻ

em Cụ thể như buộc bồi thường vật chất và khắc phục hậu quả đối với trẻ em và lao động trẻ em, xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự

3 Tình trạng bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em ở Việt Nam

Qua những thông tin được cập nhật, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, các tờ báo có uy tín và chất lượng… có thể thấy công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại cần giải quyết Tình trạng bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em đang có chiều hướng gia tăng Một số loại tội phạm như: giết hại, xâm hại tình dục, cố ý gây thương tích, buôn bán trẻ em, hành hạ lao động trẻ em, cưỡng bức lao động trẻ em đang có chiều hướng gia tăng Theo số liệu thống kê của Bộ công an,

từ năm 2001 đến 2006 mỗi năm có khoảng hơn 1500 vụ vi phạm quyền trẻ em(6) và có đến hơn 80% các bị cáo bị xét xử về các tội danh có liên quan đến xâm hại tình dục trẻ

em.(7) Đặc biệt, số vụ hiếp dâm trẻ em đang chiếm tỉ lệ cao trong các hành vi bạo hành trẻ

em đồng thời tính chất phạm tội ngày càng

Trang 3

nghiêm trọng, biểu hiện dưới nhiều dạng như:

nhiều người cùng hiếp một cháu, hiếp một

cháu nhiều lần, liên tục kéo dài, nhiều trẻ em

bị hiếp khi tuổi đời còn quá nhỏ

Các hành vi và tội phạm về bạo lực đối

với trẻ em và lao động trẻ em đang là vấn đề

xã hội nhức nhối, cấp bách ở nhiều vùng,

nhiều địa phương Bạo hành trẻ em và lao

động trẻ em để lại hậu quả nặng nề, lâu dài

đối với sự phát triển về sức khoẻ, tâm lí, tinh

thần trẻ em Tuy các vụ vi phạm bạo lực đối

với trẻ em và lao động trẻ em đã và đang

được phát hiện, đưa ra xử lí hành chính hoặc

truy cứu trách nhiệm hình sự ngày càng nhiều

nhưng quy trình về ngăn ngừa, phát hiện, xử

lí và hỗ trợ trẻ em bị bạo lực chưa được quy

định tổng thể, thiếu sự phối kết hợp giữa các

cấp, các ngành Điều này đã hạn chế rất nhiều

kết quả của hoạt động phòng, chống bạo lực

đối với trẻ em Ở tuyến cơ sở các dịch vụ hỗ

trợ pháp lí, y tế, phục hồi thể chất, tâm lí cho

trẻ em và lao động trẻ em bị bạo lực hầu như

chưa có hoặc có thì cũng rất hạn chế

Nguy cơ bị bạo hành có thể xảy ra đối với

trẻ em ở mọi độ tuổi Bất kì đối tượng nào

trong độ tuổi đã phát triển về sinh lí, có nghề

nghiệp hay không có nghề nghiệp, có quen

biết hay không với nạn nhân đều có thể là

những đối tượng có hành vi bạo lực đối với

trẻ em và lao động trẻ em, đặc biệt là các “ông

chủ” (người sử dụng lao động) trong quan hệ

với lao động trẻ em Tuy nhiên, tình trạng này

có thể kiểm soát được nếu chúng ta xác định

được những nguyên nhân sâu xa của các hành

vi này và có biện pháp phát hiện, phòng ngừa,

ngăn chặn, xử lí kịp thời và kiên quyết

Theo báo cáo không chính thức của

thanh tra lao động tại các địa phương, đặc biệt là các địa phương đang nổi lên như những “điểm nóng” của tình trạng bạo lực đối với lao động trẻ em, có thể thấy những vấn đề bất cập như sau: 1) Còn nhiều lao động vị thành niên bị làm việc trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như làm việc trong nhiều giờ liền, làm việc vào ban đêm hay công việc khiến trẻ em bị giam hãm vô lí tại địa điểm của người sử dụng lao động; 2) Một số em bé gái bị buộc hoặc bị lợi dụng làm các công việc dễ bị lạm dụng về mặt thể chất, tâm lí hay tình dục (như làm việc trong các quán bar, nhà hàng, khách sạn nhưng không có hợp đồng lao động hoặc trá hình dưới hình thức là người nhà, người quen ; 3) Vẫn còn một số lao động vị thành niên phải làm việc trong những điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, làm việc trong các không gian bị tù hãm, tiếp xúc với các tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất hoặc tinh thần của người lao động

4 Pháp luật Việt Nam liên quan đến phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em

a Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em với việc phòng, chống bạo lực đối với trẻ

em và lao động trẻ em

Văn bản này quy định rõ về quyền của trẻ

em, đó là trẻ em được gia đình, Nhà nước và

xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự;(8) xác định những hành vi trực tiếp gây nguy cơ bạo lực đối với trẻ em cần bị nghiêm cấm như dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, lợi dụng trẻ em lang thang, để trục lợi; dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ

em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh

Trang 4

bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc

lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ;

dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ

em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ

em; hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm

đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; lợi

dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ

em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm

phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh

dự của người khác; lạm dụng lao động trẻ em,

sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc,

nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm

những công việc khác trái với quy định của

pháp luật về lao động…;(9) đề cập trách nhiệm

của gia đình, các cơ quan nhà nước, nhà

trường, các đoàn thể quần chúng và xã hội

trong việc bảo vệ trẻ em và lao động trẻ em,

phòng chống nguy cơ bạo hành đối với đối

tượng đặc biệt này.(10) Cụ thể như:

- Quy định về việc gia đình, nhà nước và

xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân

thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện

các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em;

- Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân

thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị

xử lí kịp thời, nghiêm minh theo quy định

của pháp luật;

- Thành lập quỹ bảo trợ trẻ em nhằm

mục đích vận động sự đóng góp tự nguyện

của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong

nước và nước ngoài, viện trợ quốc tế và hỗ

trợ của ngân sách nhà nước cho sự nghiệp

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việc

huy động, quản lí và sử dụng quỹ bảo trợ trẻ

em phải đúng mục đích, theo chế độ tài

chính hiện hành của Nhà nước;

- Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm

phát hiện, giải quyết kịp thời tình trạng trẻ em

phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; tạo điều kiện cho trẻ em được học nghề, làm công việc phù hợp với sức khoẻ, lứa tuổi trong phạm vi địa phương;

- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm giữ liên hệ thường xuyên với trẻ em phải làm việc xa gia đình để giúp đỡ, giáo dục trẻ em;

- Đối với trẻ em cùng gia đình đi lang thang thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trẻ

em cùng gia đình đến lang thang có trách nhiệm yêu cầu và tạo điều kiện để gia đình lang thang định cư, ổn định cuộc sống và để trẻ em được hưởng các quyền của mình

- Trẻ em bị xâm hại tình dục được gia đình, Nhà nước và xã hội giúp đỡ bằng các biện pháp tư vấn, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và tạo điều kiện để ổn định cuộc sống;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện biện pháp giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn và tố cáo hành vi xâm hại tình dục trẻ em

b Pháp luật lao động với việc phòng,

chống bạo lực đối với lao động trẻ em

Pháp luật lao động quy định rõ về nghĩa

vụ của người sử dụng lao động trong việc sử dụng lao động trẻ em và cấm các hành vi bạo lực đối với lao động trẻ em như: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một

số nghề và công việc do Bộ lao động - thương binh và xã hội quy định; dối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải

có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu.(11)

Pháp luật lao động cũng quy định cụ thể

về quyền của lao động trẻ em trong việc bảo

vệ chống lại các nguy cơ bị bạo lực tại nơi

Trang 5

làm việc.(12) Cụ thể như: Người sử dụng lao

động chỉ được sử dụng người lao động chưa

thành niên vào những công việc phù hợp với

sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí

lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm,

chăm sóc người lao động chưa thành niên về

các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học

tập trong quá trình lao động; cấm sử dụng

người lao động chưa thành niên làm những

công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp

xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc,

công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của

họ theo danh mục do Bộ lao động - thương

binh và xã hội và Bộ y tế ban hành

c Quy định về trách nhiệm pháp lí đối

với hành vi bạo lực đối với trẻ em và lao

động trẻ em

Chính phủ đã ban hành Nghị định số

114/2006/NĐ-CP ngày 3/10/2006 quy định

xử phạt hành chính về dân số và trẻ em Tại

văn bản này đã xác định các hành vi bạo lực

đối với trẻ em và lao động trẻ em và mức xử

phạt hành chính Các biện pháp xử lí hành

chính cụ thể là: cảnh cáo; phạt tiền tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của

cơ sở sản xuất kinh doanh có hành vi bạo lực

đối với lao động trẻ em; tịch thu tang vật,

phương tiện được sử dụng để gây bạo lực đối

với trẻ em và lao động trẻ em; buộc thực hiện

trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em,

thực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ

em theo quy định; buộc chịu mọi chi phí để

khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em do hành vi

vi phạm hành chính gây ra; buộc chịu mọi chi

phí để đưa trẻ em trở về gia đình, gia đình

thay thế hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em

Ngoài việc xử phạt hành chính nói trên,

nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người có

hành vi bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự với các tội danh như: Tội hiếp dâm trẻ em; cưỡng dâm trẻ em; giao cấu với trẻ em; dâm ô đối với trẻ em; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của em… Đây là những tội danh với chế tài xử lí nghiêm khắc áp dụng đối với những cá nhân có hành vi bạo lực đối với trẻ em Đồng thời, các quy định này cũng nhằm răn đe những hành vi bạo lực có thể tái diễn trong xã hội, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ, trí tuệ của trẻ em

Bên cạnh những văn bản pháp luật nói trên, rải rác trong các quy định của một số văn bản pháp luật đơn ngành như: Luật tố tụng hình sự, Luật trợ giúp pháp lí, pháp luật

về tư vấn pháp lí, Luật luật sư… cũng có các quy định nhằm hỗ trợ, tư vấn và trợ giúp kịp thời đối với những trẻ em là nạn nhân của hành vi bạo lực trong xã hội

d Những tồn tại của pháp luật liên quan

đến pháp luật phòng, chống bạo lực đối với

trẻ em và lao động trẻ em

Đã có khá nhiều quy định của pháp luật nhưng tình trạng bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em vẫn gia tăng và tính chất ngày càng phức tạp? Dưới góc độ pháp lí, chúng tôi nhận thấy có một số tồn tại trong pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em như sau:

Thứ nhất, các văn bản pháp luật còn thiếu tính hệ thống Việc thực thi các quy định về phòng, chống bạo lực đối với trẻ em thuộc về các cơ quan, tổ chức khác nhau, chưa có sự phối hợp hành động của các tổ chức đó vì mục tiêu chung là bảo vệ trẻ em

và lao động trẻ em Cơ chế phối hợp đồng bộ

Trang 6

sẽ là một trong những nhân tố quan trọng

góp phần tháo gỡ một phần bất cập của công

tác phòng chống bạo lực đối với trẻ em

Thứ hai, theo đánh giá của ủy ban dân

số, gia đình và trẻ em, vấn đề mấu chốt

không phải nằm ở giai đoạn ban hành pháp

luật mà nằm ở giai đoạn thực thi pháp luật

Việc thanh tra, xử lí chưa kịp thời các hiện

tượng bạo hành đối với trẻ em và lao động

trẻ em, nhiều nơi để tình trạng bạo hành kéo

dài mà chính quyền địa phương không có

biện pháp xử lí kịp thời… Đó chính là điểm

mấu chốt cần tháo gỡ để làm tốt hơn công

tác phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và

lao động trẻ em

Thứ ba, một số khái niệm liên quan trực

tiếp đến vấn đề này vẫn thiếu tính chuẩn hoá

Ví dụ như quy định về độ tuổi để xác định

trẻ em và lao động trẻ em vẫn chưa thống

nhất giữa các văn bản pháp luật trong nước

và vênh với quy định trong các văn bản

pháp luật quốc tế đã được Nhà nước ta phê

chuẩn Điều này dẫn đến việc xác định phạm

vi, đối tượng cần bảo vệ chống lại các hành

vi bạo lực trẻ em rất khó khăn

5 Một số đề xuất nhằm hoàn chỉnh

pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng

các quy định về phòng chống bạo lực đối

với trẻ em và lao động trẻ em

Thứ nhất, cần chuẩn hóa các khái niệm

có liên quan đến trẻ em và lao động trẻ em

Xét trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt

Nam và sự phát triển tâm sinh lí, nhận thức

xã hội của người dân, theo chúng tôi nên quy

định trẻ em là người dưới 16 tuổi, lao động

trẻ em là người tham gia quan hệ lao động khi

chưa đủ 16 tuổi Cùng với việc xác định

thống nhất về độ tuổi như đề xuất nói trên,

cần hoàn chỉnh các quy định liên quan đến phòng, chống bạo lực đối với lao động trẻ em như: không bị cưỡng bức làm việc, không bị cưỡng ép làm đêm, làm thêm, bị bóc lột sức lao động, không bị ép làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại…

Thứ hai, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng nên đặt vấn đề rộng hơn là mọi cá nhân (bất kể là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam ) nếu dưới 16 tuổi đều được coi là trẻ em và lao động trẻ em khi tham gia quan hệ lao động ở

độ tuổi dưới 16 Như vậy, sẽ mở rộng phạm

vi bảo vệ của các quy định về phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em, phù hợp hơn với xu thế hội nhập quốc tế;

Thứ ba, tăng cường phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật cho người dân thông qua hoạt động của các đoàn thể ở cơ sở;

Thứ tư, nâng cao mức xử phạt hành chính

và hình sự với cá nhân, tổ chức có hành vi bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em./

(1).Xem: Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2).Xem: Điều 6 BLLĐ

(3).Xem: Điều 119 BLLĐ

(4).Xem: Điều 120 BLLĐ

(5) Hai văn bản này được thông qua tại phiên họp thường kì của ILO diễn ra vào ngày 17/6/1999 và được Việt Nam phê chuẩn bởi Quyết định của chủ tịch nước số 169/QĐ-CTN ngày 17/11/2000

(6).Xem số liệu thống kê “Chỉ tiêu trẻ em Việt Nam”,

2006, tr 111

(7) Như trên, tr 112

(8).Xem: Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em (9).Xem: Điều 7 Luật Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em (10).Xem: Điều 26, 54, 55, 56 Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em

(11).Xem: Điều 120 BLLĐ

(12).Xem: Điều 121 BLLĐ

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w