1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Ý thức pháp luật của cá nhân, cộng đồng về vấn đề bạo lực, phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, thực trạng và giải pháp " potx

5 732 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý thức pháp luật của cá nhân, cộng đồng về vấn đề bạo lực, phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em, thực trạng và giải pháp
Tác giả ThS. Phan Thị Luyện
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 153,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có sự thay đổi về ý thức đối với mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội, người ta thừa nhận rằng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em là vấn đề sức khoẻ cộng đồng cần được ưu tiên trong quá trìn

Trang 1

ThS Phan ThÞ LuyÖn *

ạo lực đối với phụ nữ và trẻ em là hiện

tượng xã hội mang tính toàn cầu, trở

thành mối lo ngại của cộng đồng quốc tế

Trên thế giới, trung bình cứ ba phụ nữ thì có

một người phải chịu đựng bạo lực trong suốt

cuộc đời của họ Vì thế, vấn đề bạo lực đối

với phụ nữ và trẻ em ngày càng được xem xét

một cách nghiêm túc Các tổ chức quốc tế,

các nhà hoạch định chính sách, những người

cung cấp dịch vụ, các nhóm phụ nữ và nam

giới đã và đang lên tiếng nhiều hơn nhằm

chống lại nạn bạo hành đối với phụ nữ và trẻ

em Đã có sự thay đổi về ý thức đối với mỗi

cá nhân và cộng đồng xã hội, người ta thừa

nhận rằng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em là

vấn đề sức khoẻ cộng đồng cần được ưu tiên

trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như

các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Bài

viết này tìm hiểu vấn đề bạo lực, phòng,

chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em qua

thực trạng ý thức pháp luật của cá nhân,

cộng đồng và một số giải pháp khắc phục

1 Thực trạng ý thức pháp luật của cá

nhân, cộng đồng về vấn đề bạo lực và phòng,

chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em

Để phòng, chống hiện tượng bạo lực đối

với phụ nữ và trẻ em, Đảng và Nhà nước đã

ban hành nhiều chính sách, pháp luật nhằm

bảo vệ và chăm sóc gia đình đặc biệt là phụ

nữ và trẻ em Từ đó phụ nữ và trẻ em có

nhiều điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện

các quyền và nghĩa vụ của mình Pháp lệnh dân số năm 2003 lên án việc dùng vũ lực ngăn cản hoặc ép buộc sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình Tháng 7/2004, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2004

- 2010 về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em Kế hoạch này đã phân định vai trò và trách nhiệm cho một số bộ và tổ chức, đoàn thể Tháng 5/2005, Thủ tướng đã kí Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược về gia đình của Việt Nam, chiến lược này đã đưa ra mục tiêu giảm mạnh bạo lực gia đình Luật bình đẳng giới và Luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng đã được ban hành Tuy nhiên, hiện tượng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em vẫn ngày một gia tăng Theo báo cáo của Bộ công an, trên toàn quốc cứ khoảng 2-3 ngày lại có một nạn nhân liên quan đến bạo lực gia đình Ba tháng đầu năm 2006, có 30,5% số vụ hành hung người có liên quan đến bạo lực gia đình Theo thống kê của Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bộ lao động-thương binh và xã hội thu được qua báo chí, phản ánh và xử lí cho thấy trong ba năm từ 2005-2007, số vụ xâm hại, bạo lực trẻ em trong gia đình tăng gấp 3

B

* Giảng viên Khoa lí luận chính trị Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

lần, số vụ xâm hại trẻ em ở nơi công cộng

tăng 7 lần, xâm hại trẻ em ở trường học tăng

13 lần Hàng ngày, trên các phương tiện

thông tin đại chúng đăng tải không ít những

thông tin liên quan tới bạo lực đối với trẻ em

Đã có sự thay đổi trong ý thức của người

dân về mức độ nghiêm trọng của hành vi

này Họ đã lên tiếng và kêu gọi sự giúp đỡ

của cộng đồng xã hội Nghiên cứu của Viện

khoa học xã hội Việt Nam năm 2005 tại 13

tỉnh và thành phố về bạo lực gia đình với

4.175 người (53,3% là phụ nữ) Kết quả

nghiên cứu cho thấy 21,2% phụ nữ nói rằng

họ đã bị chồng mắng chửi và 22,5% nam

giới thừa nhận họ đã từng mắng chửi vợ

Gần 6% phụ nữ trả lời họ đã bị chồng đánh

và 0,5% thừa nhận họ đã từng đánh chồng,

4,6% nam giới nói họ đã từng đánh vợ và

0,7% trả lời họ đã từng bị vợ đánh

Nghiên cứu do Viện nghiên cứu thanh

thiếu niên tiến hành tại 6 tỉnh ở miền Bắc và

miền Trung với 1.240 em học sinh tại các

trường tiểu học và trung học cơ sở cho thấy,

46% nói rằng bố mẹ chúng thường xuyên

phạt bằng cách này hay cách khác nếu chúng

có lỗi Có 50% em trả lời cha mẹ thỉnh thoảng

có phạt Trong đó 26% em bị phạt bằng hình

thức đánh, 65% em bị mắng chửi và 10% bị

các hình thức phạt khác Tuy nhiên, 45% em

cho rằng các em bị phạt một cách bất công và

72% em trả lời chúng rất buồn khi bị đánh

phạt và 28% nói rằng rất giận bố mẹ

Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và

môi trường trong phát triển (CGFED) đã tiến

hành nghiên cứu về nhận thức và thái độ của

cộng đồng đối với bạo lực trong gia đình

năm 2006 Khi đặt câu hỏi “Đã bao giờ nghe

nói về bạo lực gia đình chưa?”, có 54,9% số

người được hỏi trả lời đã nghe nói đến bạo lực gia đình Như vậy, có tới 45,1% số người được hỏi chưa bao giờ nghe nói về vấn đề này Mức độ nghe nói đến bạo lực gia đình tăng tỉ

lệ thuận với trình độ học vấn Người dân ở các tỉnh miền Bắc được nghe nói nhiều hơn đến phòng, chống bạo lực gia đình hơn các tỉnh miền Nam và có sự giảm dần về mức độ, càng vào miền Đông Nam bộ thì tỉ lệ người dân càng ít nghe nói đến vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình Cao nhất là Hà Nội 76%, Nam Định 71,5%, Thanh Hoá 67%, thấp nhất

là Trà Vinh 33% và Đồng Tháp là 42% Theo trình độ học vấn, trong số 25,5% không biết hành vi bạo lực là gì, thì học vấn càng thấp tỉ lệ không biết đến bạo lực càng cao: Dưới tiểu học 44,2%; trung học cơ sở 17,3%; trung học phổ thông 11,7%; trung học, cao đẳng, đại học1,9% Có 19% nam giới

và 31% phụ nữ trong mẫu nghiên cứu không biết gì đến bạo lực gia đình, thông tin về bạo lực gia đình nhận được phổ biến qua các phương tiện thông tin đại chúng: Truyền hình đài 56%, báo 35%, chính quyền đoàn thể 9,9%, bạn bè 4,2% và gia đình, người thân là 3,8%

Từ các thống kê trên cho thấy sự hiểu biết của người dân về vấn đề bạo lực gia đình còn rất hạn chế Nếu đề cập các hành vi như đánh đập, mắng chửi trong gia đình thì

họ dễ dàng nhận ra nhưng với bạo lực gia đình thì khái niệm này dường như dành cho các nhà chuyên môn

Thậm chí ở nhiều nơi ý thức pháp luật của cán bộ cấp cơ sở về bạo lực gia đình chưa chính xác mặc dù chính họ là những người có trách nhiệm trong việc triển khai, đưa pháp luật vào đời sống, giải quyết những công việc liên quan đến lợi ích của Nhà nước trên địa bàn cơ sở

Trang 3

Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em ở nước

ta đã tồn tại từ rất lâu Trong nhận thức của

người dân đây vẫn được coi là vấn đề riêng

tư của mỗi nhà và có xu hướng giải quyết

theo quan niệm không “vạch áo cho người

xem lưng” Không chỉ người dân mà ngay cả

cán bộ xã, ấp nhiều nơi cũng quan niệm bạo

lực gia đình là chuyện riêng tư

Những đặc điểm về trình độ học vấn, nghề

nghiệp khác nhau theo quan niệm của người

dân dẫn đến hình thức bạo lực khác nhau

Có người còn quan niệm việc cha mẹ mắng

chửi con cái không phải là hành vi bạo lực, một

số người khác lại quan niệm đánh đập mức độ

nghiêm trọng chứ còn như vài cái bạt tai hoặc

đánh vài roi cũng không phải là bạo lực

Khi hỏi quan điểm của người dân về giáo

dục con cái với câu nói “Yêu cho roi cho

vọt”, có 12,2% số người được hỏi đồng ý với

chuyện sử dụng đòn roi trong việc giáo dục

con cái; 34,4% cho rằng “tuỳ mức độ” mà có

thể đánh đòn Như vậy, trong quan niệm của

người dân vẫn còn theo quan điểm giáo dục

bằng vũ lực Nhiều người còn quan niệm

rằng chồng có quyền “dạy” vợ con mình

bằng cách sử dụng bạo lực

Nghiên cứu ý thức của cá nhân, cộng

đồng về nguyên nhân hiện tượng bạo lực đối

với phụ nữ và trẻ em, có thể chia nguyên nhân

dẫn đến bạo lực thành bốn nhóm Nhóm thứ

nhất do chồng hoặc vợ nghiện rượu, cờ bạc,

kinh tế khó khăn Nhóm thứ hai do vợ hoặc

chồng ngoại tình, không thoả mãn tình dục

hoặc bị người khác kích động Nhóm thứ ba

do bất bình đẳng giới, và do vợ hoặc chồng

chưa nhận thức đầy đủ về luật pháp, chuẩn

mực xã hội khác, trình độ học vấn thấp

Trong bốn nhóm nguyên nhân kể trên, hai

nguyên nhân đầu tiên được đa số người dân cho rằng nó gây ra bạo lực gia đình: 58,9% kinh tế khó khăn, nghiện rượu, cờ bạc được; 16% cho rằng nguyên nhân là do vợ hoặc chồng ngoại tình, không thoả mãn tình dục hoặc bị người khác kích động Không có ý kiến nào đề cập bất bình đẳng giới là nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình Phải chăng ý thức pháp luật về vấn đề này chưa hình thành hoặc theo họ đó không phải là nguyên nhân chính Trong khi đó, quan điểm của các nhà nữ quyền và người quản lí lại thường cho đó là nguyên nhân gốc rễ gây ra bạo lực gia đình Như vậy, có sự khác biệt về nhận thức vấn đề bạo lực giữa người dân và các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách Ý thức của người dân phần nhiều phụ thuộc vào các tập quán và quan niệm truyền thống Trong khi đó các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách áp dụng quan niệm về bạo lực theo cách riêng của họ Để hình thành ý thức pháp luật đúng đắn của người dân về vấn đề này không phải chỉ trong thời gian ngắn mà cần có quá trình và sự nỗ lực hơn nữa của các cơ quan tuyên truyền cũng như các cơ quan ban hành pháp luật Bất bình đẳng giới là hiện tượng mang tính lịch sử Thời kì phong kiến, người phụ

nữ bị hành hạ bởi họ phụ thuộc hoàn toàn vào chồng và pháp luật bảo vệ cho người đàn ông làm điều đó Quyền nhân thân của người phụ nữ bị phụ thuộc Khi chuyển sang chế độ xã hội mới, cùng với sự phát triển mọi mặt của kinh tế-xã hội, vai trò của người phụ nữ thay đổi Họ tham gia vào lĩnh vực kinh tế bình đẳng với nam giới và nguy cơ

đe dọa vai trò trụ cột của đàn ông đã làm nảy sinh nạn bạo hành gia đình Tuy nhiên, bên

Trang 4

cạnh những chuẩn mực đạo đức hình thành,

pháp luật mới được ban hành nhưng ý thức

của người dân vẫn duy trì những khuôn mẫu

hành vi cũ Người phụ nữ cam chịu cảnh bạo

lực với ý thức rằng nếu nói ra “xấu chàng

thì hổ ai” Chỉ có 5% số người cho rằng

nguyên nhân là do thiếu hiểu biết pháp luật

Những người này cho rằng Nhận thức pháp

luật trong mối quan hệ gia đình là nhận thức

của người vợ, người con Hiểu biết hạn chế

do trình độ họ không có nên họ không bảo

vệ được chính bản thân họ, họ không đấu

tranh được với lẽ phải, họ còn bị lệ thuộc

vào phong tục tập quán, kinh tế Vì vậy,

nguyên nhân chủ yếu là nhận thức hiểu biết

pháp luật bị hạn chế, không được học, không

hiểu biết gì, có học cũng không có thời gian

Từ thực trạng trên cho thấy sự hiểu biết

của người dân về pháp luật liên quan đến

bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em còn rất hạn

chế Đa số người dân hiểu biết về luật pháp

thông qua phương tiện chủ yếu là thông tin

đại chúng Điều này cho thấy công tác phổ

biến, tuyên truyền pháp luật về lĩnh vực này

có hiệu quả chưa cao Rất nhiều người chưa

hiểu đầy đủ, đa số cho rằng chỉ có sự hành

hạ về thể xác mới cấu thành bạo lực do tính

chất nghiêm trọng của nó gây ra

Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gây ra

nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương

đến sức khoẻ và thể xác, gây rối trật tự an toàn

xã hội và tổn thương tâm lí, tinh thần cho nạn

nhân và những người xung quanh Đặc biệt nó

ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ

em, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng li thân,

li hôn và trẻ em phạm pháp ngày càng gia

tăng Phần lớn người chưa thành niên phạm

tội là do trước đây đã từng là nạn nhân Đặc

biệt là trẻ em gái bị xâm hại tình dục Sự xâm hại tình dục có thế diễn ra ở bất kì nơi nào trong gia đình và ngoài gia đình Kẻ phạm tội

có thể là bất kì ai, có thể là bố, ông, họ hàng, người thân quen, hoặc hoàn toàn xa lạ Xâm hại tình dục dù diễn ra dưới hình thức gì cũng

để lại hậu quả lớn đối với trẻ em

Giải pháp cuối cùng của người phụ nữ bị bạo lực gia đình thường là li hôn Bạo lực gia đình là một trong những nguyên nhân chính, chiếm 60,3% trong tổng số các vụ li hôn trong toàn quốc năm 2005 Điều 151 Bộ

luật hình sự Việt Nam quy định: “Người nào

ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ,

vợ, chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù

các vụ bạo lực gia đình không bị xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình

sự Thậm chí khi giải quyết cho các đương

sự li hôn do bạo lực gia đình, toà án không

hề đề cập trách nhiệm hình sự của các đương

sự Điều đó không có tác dụng răn đe, nạn bạo hành gia đình vẫn tồn tại

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả khi phân tích hồ sơ tại Toà án nhân dân quận Thanh Xuân năm 2005, số vụ li hôn do bạo hành gia đình chiếm 23,2%, trong đó 100% phụ nữ là nạn nhân Khi ra toà li hôn, phần lớn người phụ nữ không chỉ chịu đựng nạn bạo hành của ông chồng một lần mà hành vi

đó lặp đi lặp lại nhiều lần

Trong quan hệ gia đình, phụ nữ luôn bị coi là người lệ thuộc Trong khi đó đàn ông được xem là nóng tính và bộc trực Uống

Trang 5

rượu cũng là lí do dẫn đến bạo lực nhưng

đàn ông uống rượu lại được xã hội chấp

nhận như đặc điểm nam tính của họ.(1) Hành

vi bạo lực ở chừng mực nào đó được chấp

nhận về mặt xã hội và là bình thường khi đàn

ông đánh vợ Mặt khác, cha, mẹ, người thân

các đương sự trong các vụ li hôn do bạo lực

gia đình cũng không có biện pháp nào nhằm

ngăn chặn bạo lực để bảo vệ chính con cái

và người thân họ Với hành vi bạo lực chỉ

khuyên giải thì không thể chấm dứt mà cá

nhân, cộng đồng xã hội cần có sự hiểu biết

về pháp luật trong lĩnh vực bạo lực gia đình

để có những biện pháp ngăn chặn kịp thời

Cái giá phải trả cho hành vi bạo lực đối

với phụ nữ và trẻ em là rất cao Nó dẫn đến

những tổn thương hữu hình và vô hình cho

gia đình, cộng đồng và xã hội Đó là cản trở

đối với quá trình xoá đói giảm nghèo, đối

với việc thực hiện các mục tiêu phát triển

thiên niên kỉ Nó làm gia tăng sự bất bình

đẳng và danh dự, sức khoẻ, an sinh và quyền

tự chủ của các nạn nhân

2 Một số giải pháp

Để nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân

và cộng đồng về vấn đề bạo lực và phòng

chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em cần

phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

pháp luật về Luật hôn nhân và gia đình, Luật

bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực

gia đình, pháp luật về quyền trẻ em cho cá

nhân và cộng đồng để họ biết, hiểu và thực

hiện đúng những quy định của pháp luật

Đồng thời tuyên truyền những chuẩn mực

đạo đức tốt đẹp trong cộng đồng loại bỏ

những chuẩn mực xã hội lạc hậu và quan

niệm cổ hủ về hôn nhân, về vai trò của các

cá nhân trong cộng đồng

Qua nghiên cứu cho thấy đa số người dân hiểu pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Do đó, cơ quan tư pháp phải phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí hướng dẫn, giải thích về nội dung, tính chất về các văn bản pháp luật có liên quan Để tuyên truyền, giáo dục pháp luật

có hiệu quả và cần nâng cao trình độ văn hoá cho người dân ở trình độ trung học cơ sở để hiểu được pháp luật, hình thành ý thức pháp luật Ngành giáo dục cũng cần phải tham gia tích cực trong việc tuyên truyền, giáo dục thông qua các bài giảng về giới, hành vi bạo lực trong chương trình giáo dục công dân

thể, cơ quan, tổ chức xã hội trong việc đấu tranh, lên án những hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em Xây dựng mạng lưới cộng đồng, phát huy vai trò dòng họ, láng giềng

để họ có ý thức phòng ngừa, tố giác hành vi bạo lực kịp thời

nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật Nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở để phổ biến, hướng dẫn cho người dân thực hiện pháp luật tốt hơn

xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả của các văn bản pháp luật đã ban hành; thu thập những thông tin phản hồi từ phía dư luận xã hội để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn xã hội./

(1).Xem: Nguyễn Hữu Minh,Vũ Tuấn Huy,Vũ Mạnh

Lợi, Bạo lực trên cơ sở giới: trường hợp ở Việt Nam,

Tài liệu của Ngân hàng thế giới, 11/1999

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w