1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN " doc

8 807 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 160,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình hình thành và phát triển của luật hình sự quốc tế, các vấn đề pháp lí về tương trợ tư pháp đã được điều chỉnh bằng các quy phạm tập quán, như aut dedere aut punire hoặc d

Trang 1

§ç M¹nh Hång * rong hợp tác quốc tế đấu tranh phòng

chống tội phạm, điều ước quốc tế là

công cụ pháp lí thường được các quốc gia sử

dụng nhiều nhất Mỗi điều ước quốc tế về

hình sự đều có nhóm đối tượng điều chỉnh

chuyên biệt, trong đó điều ước quốc tế về

tương trợ tư pháp về hình sự có đối tượng

điều chỉnh là các quan hệ pháp lí quốc tế liên

quan đến các hoạt động tác nghiệp điều tra và

tố tụng hình sự của cơ quan chức năng của

quốc gia Loại hình điều ước này có tính

chuyên môn cao, được các quốc gia sử dụng

phổ biến trong cuộc chiến chống tội phạm

hình sự, nhất là trong giai đoạn phát triển hiện

nay của quan hệ quốc tế dưới sự tác động của

xu thế toàn cầu hoá Vị trí, vai trò và tầm ảnh

hưởng quan trọng của điều ước quốc tế về

tương trợ tư pháp về hình sự đã được khẳng

định qua thực tiễn đấu tranh phòng chống tội

phạm của mỗi quốc gia Đó chính là động

lực thúc đẩy mạnh mẽ việc kí kết các điều

ước quốc tế đa phương toàn cầu cũng như

khu vực về tương trợ tư pháp về hình sự

Nguyên nhân có tính khách quan dẫn đến

việc các quốc gia phải tăng cường hoạt động

tương trợ tư pháp hình sự rất rõ ràng Trong

quá trình tiến hành điều tra và xét xử các vụ

án hình sự có thể phát sinh trường hợp thủ

phạm, nạn nhân hay nhân chứng, cũng như

các chứng cứ cần thiết của vụ án đang có

mặt hoặc đang ở trên lãnh thổ của quốc gia

khác Theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền

quốc gia trong luật quốc tế, các hành vi tố tụng hình sự của cơ quan tư pháp quốc gia

có thẩm quyền tài phán chỉ có thể được tiến hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia (trừ trường hợp giữa các quốc gia có kí kết điều ước quốc tế) Như vậy, để có thể xét xử thành công vụ án hình sự, các quốc gia phải

có sự hợp tác với nhau, theo đó các hành vi

tố tụng có liên quan phải được tiến hành theo đúng quy định trên lãnh thổ nước ngoài thông qua con đường tương trợ tư pháp Trong quá trình hình thành và phát triển của luật hình sự quốc tế, các vấn đề pháp lí

về tương trợ tư pháp đã được điều chỉnh bằng các quy phạm tập quán, như aut dedere aut punire (hoặc dẫn độ hoặc xét xử).(1) Tuy nhiên hiện nay, các hoạt động tương trợ tư pháp hình sự được điều chỉnh chủ yếu bằng các hiệp định song phương hoặc đa phương khu vực Đây là xu thế phát triển chung và ngày càng trở thành phổ biến trong quan hệ quốc tế Các quốc gia thành viên ASEAN cũng không nằm ngoài xu thế phát triển này Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề ngăn ngừa và trừng trị tội phạm, đại đa số các quốc gia thành viên ASEAN đã đi đến nhất trí kí kết Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự vào ngày 29 tháng 11 năm 2004 (gọi tắt là Hiệp định)

Việc kí kết Hiệp định không chỉ nhằm

T

* Liên hiệp các nhà thầu quốc tế

Trang 2

thiết lập cơ chế hợp tác trong lĩnh vực tư

pháp hình sự giữa các quốc gia ASEAN mà

còn hướng tới mục tiêu cao hơn là tăng cường

hợp tác an ninh-chính trị trong ASEAN và

xây dựng Cộng đồng an ninh-chính trị

ASEAN (ASC) vào năm 2015 Trong Kế

hoạch hành động ASC được thông qua tại

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 tổ chức

tại Viêng chăn, Lào tháng 11/2004, các quốc

gia ASEAN đã xác định 6 lĩnh vực hợp tác,

kèm theo là các chương trình và biện pháp cụ

thể để xây dựng ASC Một trong những lĩnh

vực hợp tác được xác lập trong quan hệ giữa

các quốc gia ASEAN là xây dựng và chia sẻ

các chuẩn mực ứng xử Để triển khai lĩnh

vực hợp tác này, Hiệp định tương trợ tư pháp

về hình sự được coi là một công cụ pháp lí

hữu hiệu mà các quốc gia thành viên

ASEAN đã, đang và tiếp tục sẽ sử dụng.(2)

Theo quy định, Hiệp định tương trợ tư

pháp về hình sự sẽ có hiệu lực đối với quốc

gia thành viên vào ngày quốc gia thành viên

nộp văn kiện phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia

nhập cho quốc gia nhận lưu chiểu là Malaysia

- nơi Hiệp định được kí kết và thông qua

Tính đến tháng 10/2007, đã có ba quốc gia

gửi thư phê chuẩn Hiệp định là Malaysia (phê

chuẩn ngày 24/5/2005), Việt Nam (phê chuẩn

ngày 20/9/2005) và Brunei (phê chuẩn ngày

2/2/2006)(3) Như vậy, mới chỉ có ba quốc gia

ASEAN chịu sự ràng buộc về mặt pháp lí bởi

các quy định của Hiệp định Đây là con số

còn khiêm tốn so với số lượng 10 quốc gia

thành viên ASEAN Điều này ảnh hưởng

không nhỏ trước hết đến việc triển khai thực

hiện Hiệp định và sau đó là quan hệ hợp tác

giữa các quốc gia ASEAN trong lĩnh vực

tương trợ tư pháp về hình sự

Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự gồm 32 điều khoản đề cập các vấn đề pháp lí

cơ bản như phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, hình thức và nội dung yêu cầu tương trợ, việc thực hiện yêu cầu tương trợ, vấn đề bảo mật và hạn chế sử dụng chứng cứ thu thập được Xuất phát từ mối quan hệ đặc thù giữa các quốc gia thành viên ASEAN, Hiệp định không điều chỉnh tất cả các vấn đề pháp lí liên quan đến tương trợ tư pháp, như vấn đề dẫn độ tội phạm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định

và một số vấn đề pháp lí khác sẽ được phân tích cụ thể ở các phần sau

1 Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự

Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, các quốc gia thành viên ASEAN(4) đã xác định rất rõ phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự Theo quy định tại Điều 1 Hiệp định, các hoạt động tương trợ tư pháp bao gồm:

- Chuyển giao và tiếp nhận lời khai, tài liệu, giấy tờ liên quan đến vụ việc hình sự;

- Thực hiện khám xét, kiểm soát, kiểm tra các vật chứng và địa điểm gây án;

- Cung cấp các bản chính và bản sao các loại giấy tờ quan trọng, các tài liệu và thông tin chứng cứ;

- Xác định, truy tìm tài sản có được từ hành vi phạm tội và các công cụ phạm tội;(5)

- Ngăn chặn việc phân chia và đóng băng các tài sản có được từ hành vi phạm tội, mà tài sản này có thể được trả lại, tịch biên hoặc tịch thu;

- Trả lại, tịch biên hoặc tịch thu các tài sản có được từ hành vi phạm tội;

Trang 3

- Xác định và nhận dạng các nhân chứng

và nghi phạm

Ngoài ra, các quốc gia thành viên còn có

thể thỏa thuận các vấn đề cần tương trợ tư

pháp khác nhưng với điều kiện phải phù hợp

với đối tượng điều chỉnh cũng như mục đích

của Hiệp định và phù hợp với pháp luật của

quốc gia được yêu cầu Việc xác định phạm

vi tương trợ tư pháp trên đây chỉ dành riêng

cho quan hệ giữa các quốc gia thành viên

Đồng thời, các điều khoản nói trên sẽ không

tạo ra cho bất cứ cá nhân nào được quyền

cung cấp, che giấu hoặc từ chối bất kì chứng

cứ nào, cũng như gây khó khăn cho việc thi

hành yêu cầu tương trợ tư pháp trong mối

quan hệ pháp lí quốc tế đặc thù giữa các

quốc gia thành viên Hiệp định Tuân thủ

nguyên tắc Pacta sunt servanda(6) của luật

quốc tế, các quốc gia thành viên phải có

nghĩa vụ tận tâm tương trợ tư pháp hình sự

trong khuôn khổ của Hiệp định, phải sử dụng

tất cả các biện pháp cần thiết để giúp đỡ lẫn

nhau trong quá trình điều tra, xét xử và đưa

ra phán quyết về các vụ án hình sự

Bên cạnh việc xác định rõ ràng phạm vi

tương trợ tư pháp, các quốc gia thành viên

Hiệp định còn thoả thuận nhất trí ghi nhận

cụ thể các trường hợp không áp dụng các

quy định của Hiệp định Theo đó, các vấn đề

pháp lí quan trọng của tương trợ tư pháp

hình sự như dẫn độ tội phạm, chuyển giao

người phạm tội để thi hành án, chuyển giao

việc xét xử hình sự… sẽ không thuộc phạm

vi điều chỉnh của Hiệp định Mặc dù đây là

các vấn đề pháp lí nằm trong khái niệm

tương trợ tư pháp nhưng xuất phát từ tính

chất phức tạp của vấn đề, chắc chắn chúng

sẽ được điều chỉnh trong một điều ước quốc

tế chuyên biệt có thể là song phương hoặc đa phương khu vực (trong khuôn khổ ASEAN) Đồng thời, Hiệp định đã thể hiện nhất quán quan điểm chung của các quốc gia kết ước khi ghi nhận rằng: Không một quy định nào trong Hiệp định này cho phép một quốc gia

thành viên “thực hiện thẩm quyền tài phán

hoặc các hoạt động chức năng trên lãnh thổ của quốc gia thành viên khác mà thẩm quyền

đó chỉ giành riêng cho quốc gia này theo

luật pháp quốc gia”.(7) Đây là quy định nhấn mạnh tới việc tôn trọng nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế Phạm vi tương trợ tư pháp theo Hiệp định còn được cụ thể hoá rõ hơn qua việc ghi nhận quyền từ chối tương trợ tư pháp của quốc gia thành viên được yêu cầu Quyền từ chối này bao gồm các quyền có hai cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể phát sinh trong thực tiễn tương trợ tư pháp

Ở cấp độ 1, thể hiện mức độ quyền từ chối tương trợ tư pháp của quốc gia được yêu cầu là tuyệt đối Các trường hợp từ chối tương trợ tư pháp ở cấp độ 1 được quy định tại khoản 1 Điều 3 Hiệp định Theo đó, quốc gia được yêu cầu sẽ không tương trợ tư pháp nếu theo đánh giá của họ yêu cầu tương trợ

tư pháp của quốc gia yêu cầu có liên quan đến việc điều tra, xét xử và kết án các cá nhân có hành vi phạm tội liên quan đến chính trị hoặc là tội phạm quân sự Hoặc quốc gia được yêu cầu có đầy đủ cơ sở cho rằng yêu cầu tương trợ được đưa ra dựa trên

cơ sở phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch hoặc quan điểm chính trị đối với cá nhân liên quan Ngoài ra ở cấp độ 1,

Trang 4

quốc gia còn từ chối tương trợ tư pháp trong

các trường hợp sau đây:

+ Đương sự có liên quan đã mãn hạn tù,

được ân xá hoặc miễn tội theo phán quyết có

hiệu lực của quốc gia được yêu cầu hoặc

quốc gia yêu cầu;

+ Yêu cầu tương trợ tư pháp liên quan

đến việc điều tra, xét xử và ra phán quyết đối

với hành vi được thực hiện trên lãnh thổ

quốc gia được yêu cầu và theo luật pháp

quốc gia này đây không phải là hành vi tội

phạm chống lại luật pháp quốc gia họ;

+ Các điều khoản trong yêu cầu tương

trợ tư pháp có thể ảnh hưởng đến an ninh

chủ quyền, trật tự công cộng hoặc các lợi ích

cộng đồng của quốc gia được yêu cầu;

+ Quốc gia yêu cầu không đảm bảo được

rằng các thông tin cung cấp sẽ chỉ được sử

dụng chuyên biệt cho vụ việc hình sự liên

quan đến hoạt động tương trợ tư pháp cụ thể;

+ Các điều khoản tương trợ có thể xâm

hại tới các vấn đề hình sự tại quốc gia được

yêu cầu;

+ Và một số trường hợp cụ thể khác

được quy định tại khoản 1 Điều 3 Hiệp định

Ở cấp độ 2, thể hiện mức độ quyền từ

chối tương trợ tư pháp của quốc gia được

yêu cầu là tương đối Quốc gia được yêu cầu

có thể từ chối trợ giúp nếu theo quan điểm

của quốc gia được yêu cầu, quốc gia yêu cầu

đã không tuân thủ một điều khoản quan

trọng của Hiệp định hay việc thực hiện

tương trợ tư pháp có thể xâm phạm tới an

ninh của cá nhân hữu quan, kể cả trong

trường hợp đang ở trong hoặc ngoài lãnh thổ

quốc gia được yêu cầu Cuối cùng, việc

tương trợ tư pháp có thể không được thi

hành nếu hoạt động tương trợ tạo ra gánh nặng tài chính cho quốc gia được yêu cầu (khoản 2 Điều 3 Hiệp định)

Trong tất cả các trường hợp từ chối tương trợ tư pháp, quốc gia được yêu cầu phải thông báo ngay cho quốc gia yêu cầu được biết về

cơ sở từ chối hoặc tạm đình chỉ tương trợ tư pháp theo Hiệp định (khoản 9 Điều 3 Hiệp định) Dựa trên cơ sở quy định hiện hành về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong khuôn khổ ASEAN đã được trình bày ở trên, các quốc gia thành viên sẽ chỉ định cơ quan trung ương có thẩm quyền trong lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự và các cơ quan này

sẽ liên lạc trực tiếp với nhau trong hoạt động tương trợ tư pháp hoặc thông qua kênh ngoại giao (Điều 4 Hiệp định)

2 Các vấn đề pháp lí về yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Hiệp định, yêu cầu tương trợ tư pháp phải được soạn thảo thành văn bản (ở hình thức viết) Tuy nhiên, trong các trường hợp khẩn cấp, yêu cầu

có thể được thể hiện dưới hình thức không thành văn bản nhưng trong khoảng thời gian

5 ngày phải chuyển sang hình thức viết Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp phải đảm bảo chứa đựng đầy đủ các nội dung cần thiết theo yêu cầu của quốc gia được yêu cầu Cụ thể, văn bản yêu cầu phải ghi nhận các thông tin liên quan đến tên của cơ quan yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc tiến hành xét xử hình sự, mục đích và bản chất của yêu cầu tương trợ tư pháp, bản

mô tả chi tiết bản chất của vụ việc hình sự, nội dung tóm tắt các sự kiện và văn bản pháp

lí có liên quan, bản mô tả chi tiết về hành vi

Trang 5

phạm tội, mức hình phạt cao nhất, các yếu tố

cấu thành tội phạm, các sự kiện và sự biến

quan trọng, nội dung cụ thể của các chứng cứ

và thông tin có liên quan, thời hạn cụ thể thi

hành yêu cầu tương trợ tư pháp cùng các nội

dung cần thiết khác… Ngoài ra, phụ thuộc

vào từng trường hợp cụ thể, văn bản yêu cầu

tương trợ có thể bao gồm nhận dạng, quốc

tịch và nơi ở của cá nhân là đối tượng của

việc điều tra hoặc xét xử hình sự, nhận dạng

và nơi ở của cá nhân cung cấp chứng cứ, nội

dung cụ thể của phương pháp lấy lời khai, thu

thập chứng cứ, danh sách các câu hỏi cho

người làm chứng cũng như bản mô tả chi tiết

tài sản, nhận dạng và nơi để tài sản cùng các

vấn đề quan trọng khác nếu cần thiết cho

hoạt động xét xử Trong trường hợp quốc gia

được yêu cầu nhận thấy các thông tin trong

bản yêu cầu không đảm bảo có thể thực hiện

có hiệu quả tương trợ tư pháp thì quốc gia

này có quyền đề nghị quốc gia yêu cầu

tương trợ cung cấp thêm thông tin bổ sung

Nhằm đảm bảo sự thống nhất trong hoạt

động tương trợ tư pháp hình sự, các quốc gia

thành viên Hiệp định đã nhất trí và ghi trong

Hiệp định rằng: Văn bản yêu cầu cùng các

giấy tờ, tài liệu liên quan phải được soạn

thảo bằng tiếng Anh, trong trường hợp cần

thiết phải kèm theo bản dịch sang tiếng nước

được yêu cầu hoặc bằng ngôn ngữ của nước

khác mà nước được yêu cầu chấp nhận

(khoản 3 Điều 6 Hiệp định)

Toàn bộ các yêu cầu cũng như các tài

liệu, giấy tờ có liên quan đến tương trợ tư

pháp sẽ được chuyển giao trực tiếp giữa các

cơ quan trung ương mà các quốc gia thành

viên chỉ định Trong các hoàn cảnh đặc biệt

và cấp thiết thì việc chuyển giao này sẽ được thực hiện thông qua hai tổ chức cảnh sát quốc tế là INTERPOL và ASEANAPOL (khoản 2 điều 5 Hiệp định) Về nguyên tắc, quốc gia được yêu cầu sẽ tiến hành ngay hoạt động tương trợ tư pháp theo phương thức đã được quy định trong luật hoặc trong thực tiễn quốc gia mình Tuy nhiên, theo yêu cầu, quốc gia tiến hành hoạt động tương trợ

tư pháp có thể sử dụng các phương thức mà quốc gia yêu cầu trợ giúp đưa ra, với điều kiện phải phù hợp với luật pháp và thực tiễn của quốc gia được yêu cầu

Trong toàn bộ quá trình thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, Hiệp định còn đưa ra nghĩa vụ bảo mật đối với cả hai quốc gia yêu cầu và được yêu cầu tương trợ (Điều 9 Hiệp định) Theo đó, quốc gia được yêu cầu phải

có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp thích hợp

để giữ bí mật về yêu cầu tương trợ, nội dung yêu cầu, tài liệu kèm theo, cũng như các hành động được thực hiện theo yêu cầu đó

Về phía quốc gia yêu cầu, căn cứ vào pháp luật nước mình, phải áp dụng các biện pháp thích hợp để giữ bí mật các thông tin, chứng

cứ đã được quốc gia đối tác cung cấp trong quan hệ tương trợ tư pháp Ngoài ra, quốc gia yêu cầu phải đảm bảo rằng các thông tin, chứng cứ được bảo mật, bảo vệ, không bị mất, không bị tiết lộ trái phép… và các hành

vi lạm dụng khác

Tất cả các vấn đề pháp lí liên quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp được trình bày ở trên sẽ được các quốc gia thành viên tận tâm

và thiện chí thực hiện trong khuôn khổ các quy định liên quan của Hiệp định cũng như pháp luật quốc gia của các nước này

Trang 6

3 Nội dung tương trợ tư pháp hình sự

Với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt

động của các cơ quan thực thi pháp luật

trong việc phòng ngừa, điều tra và truy tố tội

phạm, các quốc gia kết ước đã cùng nhau

nhất trí nội dung tương trợ tư pháp rất cụ thể

và chi tiết, bao trùm lên các vấn đề pháp lí

quan trọng của hoạt động tương trợ tư pháp

có tính truyền thống trong quan hệ quốc tế

Ở đây chúng tôi đề cập các vấn đề tương trợ

tư pháp có tính truyền thống và thực sự quan

trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn hội

nhập quốc tế hiện nay

Vấn đề đầu tiên và có thể coi là quan

trọng nhất trong hoạt động tương trợ tư pháp

hình sự giữa các quốc gia là vấn đề thu thập

chứng cứ và lấy lời khai của các cá nhân có

liên quan (người làm chứng, người bị tình

nghi…) Theo Điều 11 Hiệp định, quốc gia

được yêu cầu, phù hợp với pháp luật nước

mình, phải cố gắng thu thập được đầy đủ các

chứng cứ, lời khai có tuyên thệ, tài liệu, hồ

sơ từ nhân chứng để chuyển cho quốc gia

yêu cầu nhằm mục đích phục vụ cho quá

trình tố tụng Hiệp định mở rộng phạm vi thu

thập chứng cứ bằng việc cho phép sử dụng

kết nối truyền hình trực tiếp hoặc các công

cụ giao tiếp thích hợp khác nhằm thực hiện

quá trình thu thập chứng cứ, lời khai… nếu

việc làm đó là vì công lí Đồng thời, khi có

yêu cầu lấy lời khai của cá nhân, quốc gia

được yêu cầu phải cố gắng và tận tâm lấy lời

khai tự nguyện của họ

Trong việc sử dụng chứng cứ, quốc gia

yêu cầu không có quyền tuyệt đối Theo Điều

8 của Hiệp định, quốc gia này không được sử

dụng, tiết lộ hoặc chuyển giao thông tin hay

chứng cứ do quốc gia được yêu cầu cung cấp

để phục vụ cho các mục đích khác với mục đích đã ghi trong văn bản yêu cầu tương trợ nếu không được sự đồng ý của quốc gia cung cấp chứng cứ (quốc gia được yêu cầu) Tuy nhiên, trong trường hợp bản cáo trạng (buộc tội) bị thay đổi thì có thể sử dụng thông tin và chứng cứ đã được cung cấp với điều kiện quốc gia được yêu cầu đồng ý và tội phạm đó thuộc đối tượng điều chỉnh của Hiệp định đồng thời yếu tố cấu thành tội phạm là căn

cứ để yêu cầu tương trợ Bên cạnh đó, quyền được cung cấp thông tin và chứng cứ của quốc gia yêu cầu còn bị hạn chế bởi quyền từ chối cung cấp chứng cứ được ghi nhận trong Hiệp định Theo điều khoản có liên quan (Điều 12 Hiệp định), cá nhân được yêu cầu đưa ra lời khai, cung cấp tài liệu, hồ sơ hoặc chứng cứ tại quốc gia được yêu cầu có thể từ chối thực hiện các hành vi đó nếu pháp luật của quốc gia yêu cầu hoặc được yêu cầu cho phép hoặc trong trường hợp pháp luật của hai quốc gia này yêu cầu cá nhân không được cung cấp chứng cứ, thông tin… cho dù

có yêu cầu tương trợ tư pháp được thực hiện theo đúng quy định

Hiệp định còn cho phép quốc gia yêu cầu được quyền đề nghị quốc gia được yêu cầu cung cấp cho họ các bản sao tài liệu, hồ sơ công khai đang thuộc quyền quản lí của cơ quan nhà nước cũng như tiến hành các hoạt động khám xét, thu giữ và chuyển giao mọi tài liệu, hồ sơ hoặc các vật khác cho quốc gia yêu cầu nếu có cơ sở cho rằng hồ sơ, tài liệu

và các vật đó có liên quan đến vụ án hình sự tại quốc gia yêu cầu Mặt khác, quốc gia yêu cầu còn có thể đề nghị quốc gia được yêu

Trang 7

cầu nỗ lực định vị, phát hiện, cầm giữ,

phong tỏa, tịch biên, tước đoạt hoặc xung

công tài sản có được do phạm tội và các

công cụ, phương tiện hỗ trợ cho việc phạm

tội Tất cả các quyền nói trên của quốc gia

yêu cầu sẽ được quốc gia được yêu cầu thực

hiện theo đúng quy định với điều kiện tuân

thủ và phù hợp với pháp luật của quốc gia

này (quốc gia được yêu cầu)

Vấn đề tiếp theo là trợ giúp để thực hiện

các hành vi tư pháp liên quan đến các cá

nhân Đây là vấn đề thường xuất hiện trong

thực tiễn tương trợ tư pháp hình sự và đã

được các quốc gia thành viên ASEAN rất

quan tâm Theo Hiệp định, quốc gia được

yêu cầu có thể giúp đỡ trong việc đảm bảo

cho một người có mặt tại quốc gia yêu cầu để

hỗ trợ việc điều tra hình sự hay có mặt trong

các hoạt động tố tụng liên quan đến vụ việc

hình sự tại quốc gia yêu cầu, trừ trường hợp

người đó chính là bị cáo (Điều 14 Hiệp định)

Đối với người bị giam giữ tại quốc gia được

yêu cầu mà sự hiện diện của người này là cần

thiết tại quốc gia yêu cầu trong quá trình điều

tra thì quốc gia được yêu cầu sẽ có thể đồng ý

cho phép tạm thời chuyển giao người này cho

quốc gia yêu cầu (khoản 1 Điều 15 Hiệp

định) Trong cả hai trường hợp, mọi hoạt

động dẫn giải cá nhân có liên quan phải

được thực hiện theo đúng pháp luật và thực

tiễn của quốc gia được yêu cầu đồng thời

phải được sự đồng ý của đương sự Các quy

định này hoàn toàn không cản trở việc sử

dụng truyền hình trực tiếp hoặc các phương

tiện truyền thông thích hợp khác theo quy

định của pháp luật và thực tiễn của quốc gia

được yêu cầu nếu việc đó được thực hiện vì

công lí (khoản 7 Điều 15 Hiệp định)

Quá trình dẫn giải cá nhân có liên quan

từ quốc gia được yêu cầu sang quốc gia yêu cầu cũng là vấn đề quan trọng, góp phần đảm bảo thực thi có hiệu quả việc giải quyết các vụ việc hình sự Chính vì vậy, trong Hiệp định đã có thêm Điều 16 quy định về đảm bảo an toàn cho người bị dẫn giải Nội dung điều này ghi nhận: Khi một người có mặt tại quốc gia yêu cầu theo các quy định nêu trên, quốc gia yêu cầu phải bảo đảm rằng họ sẽ không bị giam giữ, truy tố, trừng phạt hoặc chịu bất kì hạn chế nào về tự do tại nước yêu cầu Đồng thời, quốc gia yêu cầu không được tiến hành thu thập chứng cứ đối với người này nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử vụ án hình sự khác với vụ án hình sự nêu trong yêu cầu tương trợ, cũng như không được mở các vụ kiện dân sự chống lại họ đối với các hành vi được cho là đã xảy ra trước khi họ rời khỏi quốc gia được yêu cầu Ngoài ra, điều khoản về bảo đảm an toàn còn quy định ở mức độ cao để bảo vệ các cá nhân được dẫn giải không phải chịu bất kì hình phạt nào, không phải chịu trách nhiệm pháp lí hay gặp rắc rối với pháp luật

Tinh thần hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thành viên ASEAN còn được nâng cao qua việc Hiệp định ghi nhận vấn đề quá cảnh người bị giam giữ Theo quy định tại Điều 17, quốc gia được yêu cầu, căn cứ vào pháp luật và thực tiễn nước mình có thể đồng ý cho phép quá cảnh qua lãnh thổ nước mình người đang bị quốc gia yêu cầu hoặc quốc gia thứ ba giam giữ để có mặt trực tiếp tại quốc gia yêu cầu trong một vụ án hình sự Trong trường hợp

Trang 8

phương tiện vận chuyển người bị dẫn giải

dừng lại tại quốc gia được yêu cầu thì nhân

viên của quốc gia yêu cầu hoặc nước thứ 3

đang thi hành công vụ này vẫn tiếp tục chịu

trách nhiệm về việc trông giữ trong suốt thời

gian quá cảnh tại quốc gia được yêu cầu, trừ

khi quốc gia này có đề nghị khác Tuy nhiên,

khi được quốc gia yêu cầu chấp thuận, quốc

gia được yêu cầu có thể tạm thời tiến hành

các biện pháp giam giữa người này cho đến

khi chuyến đi được tiếp tục Trong trường

hợp ngược lại, chuyến đi bị gián đoạn không

được thực hiện trong thời gian hợp lí thì

quốc gia được yêu cầu có thể chuyển trả

người đang bị dẫn giải cho quốc gia nơi

người này được chuyển đi Tất cả mọi chi

phí mà quốc gia được yêu cầu phải gánh

chịu sẽ được quốc gia yêu cầu hoàn trả Việc

đưa nội dung quá cảnh người bị giam giữ đã

tạo thuận lợi và điều kiện tối đa cho các

quốc gia thành viên ASEAN đấu tranh có

hiệu quả với tội phạm trong khu vực

Bên cạnh những nội dung quan trọng của

tương trợ tư pháp hình sự đã được nghiên

cứu ở trên, trong khuôn khổ Hiệp định còn

đề cập các vấn đề pháp lí khác cũng nằm

trong nội dung tương trợ tư pháp hình sự

giữa các quốc gia thành viên ASEAN như

hoàn trả chứng cứ cho quốc gia được yêu

cầu (Điều 19), xác định và nhận dạng người

có liên quan (Điều 20), cung cấp tài liệu với

nội dung tống đạt giấy tờ có liên quan đến

vụ án hình sự được ban hành (Điều 21), xác

nhận và chứng thực các loại giấy tờ, tài liệu

theo yêu cầu của quốc gia thành viên (Điều

24), giải quyết tranh chấp phát sinh trong

quá trình thực hiện tương trợ tư pháp (Điều

28) cũng như các vấn đề khác có tính chất thủ tục hành chính mà bất kì điều ước quốc

tế nào cũng phải ghi nhận trong quá trình kí kết và thực hiện theo luật quốc tế

Sự ra đời của Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia thành viên ASEAN là thành công lớn của sự hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm trong khu vực Đông Nam Á Hiệp định này thể hiện ở mức độ cao tinh thần hoà hợp và hữu nghị trong tiến trình phát triển của Hiệp hội ASEAN Với 32 điều khoản, văn bản pháp lí quốc tế quan trọng này của ASEAN chắc chắn sẽ trở thành công cụ pháp lí hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong khu vực, đặc biệt là tội phạm khủng bố quốc tế - mối đe dọa có tính toàn cầu hiện nay Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chúng ta có quyền tin rằng Hiệp định tương trợ tư pháp

về hình sự của ASEAN sẽ góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ hoà bình và an ninh khu vực, qua đó đảm bảo sự ổn định và bền vững của trật tự pháp lí quốc tế./

(1).Xem: Nguyễn Thị Thuận, Luật hình sự quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2007, tr.17

(2).Xem: Annex for ASEAN Security Community

Plan of Action Nguồn: http://www.aseansec.org

(3) Nguồn http://www.aseansec.org/Ratification.pdf (4) Cụ thể bao gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippine, Singapore và Việt Nam (Lời nói đầu của Hiệp định)

(5) Thuật ngữ “công cụ phạm tội” được hiểu là tài sản được sử dụng liên quan đến việc thực hiện hành

vi phạm tội (khoản 4 Điều 1 Hiệp định)

(6) Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế

(7).Xem: Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự trong ASEAN năm 2004

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w