Vấn đề hài hoà hoá pháp luật cần được nghiên cứu từ góc độ thực tiễn hợp tác pháp luật của các nước ASEAN Trong phạm vi một số tổ chức quốc tế, hài hoà hoá pháp luật nhiều khi có nghĩ
Trang 1PGS.TS Hoµng Ph−íc HiÖp *
1 Quan niệm về hài hoà hoá pháp luật
Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về
khái niệm “hài hoà”, “hài hoà hoá”, “hài
hoà hoá pháp luật” và nội hàm của các khái
niệm đó
1.1 Vấn đề hài hoà hoá pháp luật cần
được nghiên cứu từ góc độ thực tiễn hợp tác
pháp luật của các nước ASEAN
Trong phạm vi một số tổ chức quốc tế,
hài hoà hoá pháp luật nhiều khi có nghĩa
tương đồng với nhất thể hoá pháp luật
Chẳng hạn, Tổ chức hải quan thế giới
(WCO) đã có một số điều ước quốc tế về hài
hoà hoá pháp luật, tiêu biểu là Công ước về
hệ thống hài hoà hoá về mã số và mô tả hàng
hoá (The International Convention on the
Harmonized Commodity Description and
Coding System) hoặc Công ước Kyoto về
đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan
(The International Convention on the
Simplification and Harmonization of
Customs procedures) Các công ước này là
các bộ luật quốc tế, bộ quy tắc xử sự mà vốn
là các luật lệ của các nước khác nhau trên thế
giới đã dùng (có thể có cách hiểu, giải thích
khác nhau) và đã được pháp điển hoá dưới
dạng các văn bản pháp luật thực chất thống
nhất để áp dụng trong thực tiễn thương mại
giữa các nước Những cách hiểu tương tự
cũng có thể thấy qua hoạt động của Uỷ ban
pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) trong việc soạn thảo các luật mẫu về các lĩnh vực khác nhau của pháp luật thương mại quốc tế, qua các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc
Trong phạm vi ASEAN, vấn đề hài hoà hoá pháp luật được chính thức đưa ra thảo luận tại Hội nghị bộ trưởng tư pháp và pháp luật các nước ASEAN lần thứ 4 tại Singapore vào tháng 11/1999 Tại điểm 7
Tuyên bố chung Hội nghị này có ghi rõ: "7
Các bộ trưởng lưu ý đến những lĩnh vực mà các nước đặc biệt quan tâm và có cách giải thích khác nhau Các lĩnh vực đó bao gồm các phương thức để đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, hài hoà hoá pháp luật (the harmonisation of laws), thách thức đối với công nghệ mới và sự phát triển trong pháp luật quốc tế liên quan đến quyền tài phán quốc gia và miễn trừ tư pháp cũng như nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và bảo vệ chủ quyền quốc gia" Tại điểm 12 Tuyên bố Hội nghị các quan chức tư pháp và pháp luật cao cấp các nước ASEAN tháng 9/2001 (ASLOM 2001) tại
Singapore, ghi nhận: "12 ASLOM thứ bảy
đã thảo luận và thoả thuận cần tiếp tục trao đổi ý kiến và kinh nghiệm giữa các nước
* Vụ pháp luật quốc tế
Bộ tư pháp
Trang 2ASEAN về việc hài hoà hoá pháp luật
thương mại của các nước này và cách thức
để cải thiện thủ tục hợp pháp hoá các tài
liệu" (the harmonisation of their trade laws
and ways to improve the procedures for the
legalisation of documents)
Tại điểm 9 Tuyên bố chung của Hội nghị
bộ trưởng tư pháp và pháp luật các nước
ASEAN năm 2002 tại Bangkok cũng có ghi
rõ: " 9 Các bộ trưởng thông qua khuyến
nghị về việc thành lập ASEAN Law Forum
(ALF) với sự tham gia rộng rãi các luật gia
và các nhà nghiên cứu Các bộ trưởng
thoả thuận về các chuyên đề cần thảo luận
tại ALF đầu tiên là: b, Các phương thức
hài hoà hoá pháp luật thương mại ASEAN
(modalities for harmonization of ASEAN
trade laws) ”.
Hội nghị ASLOM tháng 8/2004 tại
Brunei Darussalam đã bổ sung yêu cầu về
hài hoà hoá các quyền sở hữu trí tuệ (the
harmonization of intellectual property rights)
Tại điểm 9 Tuyên bố Hội nghị bộ trưởng
tư pháp và pháp luật các nước ASEAN năm
2005 tại Hà Nội (ALAWMM Hanoi, 2005)
ghi rõ: "9… Các bộ trưởng chấp thuận các
kiến nghị của ASLOM về thành lập các nhóm
công tác để kiểm tra kết quả xây dựng các
phương thức hài hoà hoá pháp luật thương
mại của các nước thành viên, nhất thể hoá
pháp luật về hợp pháp hoá các tài liệu của
các cơ quan công quyền nước ngoài (uniform
laws for the legalization of documents "
Như vậy, trong ASEAN, vấn đề hài hoà
hoá pháp luật đã được bàn đến khá nhiều
nhưng thực tế mới dừng lại ở một số kết quả khá khiêm tốn, tập trung chủ yếu vào việc làm cho các khái niệm pháp luật của các nước ASEAN trong một số lĩnh vực cụ thể
có nội hàm xích lại gần nhau hơn, có cách giải thích, quan điểm, nội dung cụ thể giống nhau hơn, làm cho các bộ phận cấu thành các chế định pháp luật cụ thể được kết hợp hài hoà hơn trong một chỉnh thể pháp luật của các nước ASEAN Khái niệm hài hoà hoá pháp luật có quan hệ mật thiết với khái niệm nhất thể hoá pháp luật nhưng chưa có
sự đồng nhất với nhau như ở một vài nơi khác đã nêu do tình hình cụ thể về hội nhập của khối ASEAN Hài hoà hoá pháp luật trong thực tiễn hợp tác pháp luật của các nước ASEAN mới cho chúng ta biết thông tin về việc xây dựng pháp luật của các nước ASEAN khác nhau, thông qua thông tin đó
và thông qua quá trình trao đổi ý kiến, hợp tác giữa các chuyên gia pháp luật của các nước trong khối để có tác động cần thiết đến việc tiếp thu cách hiểu giống nhau hoặc gần giống nhau nội dung của một số khái niệm pháp luật, quy tắc chơi trong khuôn khổ hợp tác nội khối ASEAN, làm cho cách giải thích các vấn đề pháp luật của các nước ASEAN trong một số lĩnh vực cụ thể xích lại gần nhau hơn, làm cho các luật gia có cách nhìn, quan điểm, nội dung pháp luật cụ thể giống nhau hơn, tránh được cái gọi là xung đột danh pháp (conflict of qualification) Còn con đường, phương thức hài hoà hoá pháp luật ở đây là tuỳ thuộc từng nước Hội nghị
bộ trưởng tư pháp và pháp luật các nước
Trang 3ASEAN cũng như Hội nghị các quan chức
cao cấp tư pháp và pháp luật các nước
ASEAN không bắt buộc và cũng chưa đưa ra
được quy tắc gì bắt buộc các nước ASEAN
phải tuân theo trong lĩnh vực hài hoà hoá
pháp luật này Mặt khác, cũng cần thấy quá
trình nhất thể hoá pháp luật trong một số lĩnh
vực khác (do các chuyên gia không phải là
pháp luật làm, ví dụ như trong lĩnh vực
thương mại hàng hoá, đầu tư quốc tế trong
ASEAN) cũng đã đạt được những kết quả
đáng kể Đó là quá trình xây dựng một hoặc
một số bộ quy định, quy tắc pháp luật thống
nhất áp dụng chung trong khối ASEAN (kết
quả thường là các hiệp định của ASEAN về
một số vấn đề cụ thể)
1.2 Vấn đề hài hoà hoá pháp luật cũng
cần được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ
Trong Từ điển Tiếng Việt,(1) “hài hoà”
có nghĩa là “có sự kết hợp cân đối giữa các
yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng
không có định nghĩa về “hài hoà hoá”
Theo Oxford Advanced Learner's Dictionary
của Trường đại học tổng hợp Oxford(2) thì
"hài hoà hoá" (Harmonasation) có nghĩa là
"làm cho một cái gì đó trở nên cân đối, đúng
với điều đã thoả thuận " Từ điển này còn
giải thích tiếp, đó là "quá trình làm các lợi
ích, ý kiến khác nhau thành một chỉnh thể
đúng với thoả thuận"
Theo Black's Law Dictionary(3) thì "hài
hoà", "làm cho hài hoà", "hài hoà hoá" là
những thuật ngữ được dùng trong các văn
bản pháp luật đồng nghĩa với các từ "đúng
với thoả thuận" (in agreement), "phù hợp với" (in accordance) hoặc "tương thích với" (conformity)
Do có nhiều cách hiểu về hài hoà hoá như vậy nên trong bài tham luận này chúng tôi chỉ giới hạn ở cách hiểu vẫn thường gặp trong thực tiễn hợp tác pháp luật của ASEAN như đã trình bày ở trên
2 Vấn đề hài hoà hoá pháp luật về đầu tư trong khuôn khổ ASEAN
2.1 Vấn đề hài hoà hoá pháp luật về đầu
tư trong khuôn khổ ASEAN cần phải được xem xét trong một chỉnh thể với với vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của ASEAN
Vấn đề đầu tư và các hoạt động liên quan đến đầu tư, kể cả vấn đề hài hoà hoá pháp luật về đầu tư trong khuôn khổ ASEAN cần được nghiên cứu trong một chỉnh thể với các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế của ASEAN Điều này được thể hiện rõ nét qua kết cấu của website của Ban thư kí ASEAN (http://www.aseansec.org.) Mặt khác, do việc hài hoà hoá pháp luật về đầu tư lại là một trong những nội dung hợp tác giữa các
cơ quan tư pháp và pháp luật ASEAN nên vấn đề này được sự quan tâm nhiều của các hội nghị thuộc phần hợp tác pháp luật, cho
dù vai trò chính ở đây vẫn nghiêng về các cơ quan chuyên về hợp tác kinh tế (Hội nghị bộ trưởng kinh tế - AEM, Hội đồng AIA, Hội đồng AFTA, hội nghị các bộ trưởng, các quan chức chuyên ngành kinh tế) Chính các
cơ quan này là nơi để đưa ra các vấn đề cụ thể cần phải hài hoà hoá trong hợp tác ASEAN, trong đó có vấn đề hài hoà hoá
Trang 4pháp luật về đầu tư Một số kết quả hài hoà
hoá pháp luật về đầu tư đã được đưa ra từ
chính hoạt động của các cơ quan này chứ
không phải từ hoạt động của các cơ quan
pháp luật và tư pháp ASEAN Kết quả hoạt
động của các cơ quan pháp luật và tư pháp
các nước ASEAN đã được nêu ở trên cho
thấy mức độ hạn chế trong hoạt động hài hoà
hoá pháp luật về đầu tư của các thiết chế pháp
luật các nước ASEAN trong lĩnh vực này
2.2 Vấn đề hài hoà hoá pháp luật về đầu
tư trong khuôn khổ ASEAN đi theo hướng
chọn một số nội dung pháp luật về đầu tư
của các nước ASEAN có cách hiểu thống
nhất hoặc gần giống nhau hoặc tương
đương nhau để xem xét
- Nền tảng pháp luật thực định về đầu tư
của các nước thành viên ASEAN khá phức
tạp Đến nay, ASEAN có mười nước thành
viên là Brunei, Lào, Campuchia, Indonesia,
Malaysia, Myanma, Philippine, Singapore,
Thái Lan và Việt Nam Hệ thống pháp luật
của các nước ASEAN khá khác nhau Tuy
vậy, một mặt, trong lĩnh vực đầu tư quốc tế
người ta dễ nhận thấy ở đây có sự giao thoa
của nhiều hệ thống pháp luật về đầu tư khác
nhau Hệ thống pháp luật này chịu nhiều ảnh
hưởng của các học thuyết kinh tế và pháp
luật về đầu tư của các nước công nghiệp phát
triển và cơ chế giải quyết các vấn đề kinh tế
trong hợp tác nội khối ASEAN mà cơ quan
cao nhất của nó là Hội nghị các bộ trưởng
kinh tế các nước ASEAN Cơ chế điều chỉnh
pháp luật trong lĩnh vực đầu tư quốc tế ở đây
được xây dựng cơ bản dựa vào các mô hình
về cơ chế điều chỉnh pháp luật được áp dụng khá phổ biến trong thương mại, đầu tư quốc
tế, coi vấn đề đầu tư là vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh các tranh chấp, bất đồng về quan điểm giữa các nước, do đó phải hết sức thận
trọng Mặt khác, hệ thống pháp luật về đầu
tư của các nước ASEAN vẫn giữ được đậm nét những đặc thù, truyền thống của văn hoá pháp luật, tư duy kinh tế riêng của từng nước
đã hình thành và phát triển qua nhiều năm trong khu vực Đông Nam Á
- Xét về bình diện vĩ mô, khung pháp luật vĩ mô của các nước ASEAN khá phong phú, tập trung tinh hoa của các đại gia đình pháp luật lớn trên thế giới Đại diện cho đại gia đình pháp luật xã hội chủ nghĩa có Việt Nam; đại diện cho đại gia đình pháp luật lục địa (civil law family) có Campuchia, Lào, Indonesia, Myanma, Thái Lan; đại diện cho đại gia đình pháp luật án lệ (English common law family) có Brunei, Singapore, Malaysia; đại diện cho đại gia đình pháp luật hỗn hợp giao thoa giữa các hệ thống pháp luật lục địa
và án lệ (Mix family of Civil law and American common law Systems) có Philippine
Sự khác nhau về khung pháp luật vĩ mô như vậy đã đẻ ra vô số các vấn đề pháp lí và cách ứng xử khác nhau giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực đầu tư quốc tế cũng như cách thức hài hoà hoá các quy định của pháp luật về đầu tư trong khuôn khổ ASEAN Tuy có khác nhau về khung pháp luật vĩ mô nhưng trong pháp luật thực định
về đầu tư quốc tế của các nước này vẫn có nhiều điểm giao thoa, phản ánh những xu
Trang 5hướng vận động chung của quá trình xích lại
gần nhau hơn của các dòng tư tưởng pháp
luật, kinh tế quốc tế của các nước thành viên
ASEAN do có quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và thành lập khu vực đầu tư ASEAN
theo Hiệp định khung về khu vực đầu tư
ASEAN năm 1997 Điểm chung thứ nhất mà
người ta dễ nhận thấy ở các nước này trong
cơ chế điều chỉnh pháp luật các quan hệ đầu
tư quốc tế là có cơ quan nhà nước thống nhất
quản lí các hoạt động đầu tư quốc tế, cho dù
tên gọi của chúng rất khác nhau Chẳng hạn,
ở Việt Nam cơ quan đó là Bộ kế hoạch và
đầu tư (MPI); ở Indonesia - Cơ quan điều
phối đầu tư (BKPM & ICB); ở Malaysia -
Cơ quan phát triển công nghiệp Malaysia
(MIDA); ở Philippine và Thái Lan đều có
Hội đồng đầu tư (BOI); Singapore có Uỷ ban
phát triển kinh tế (EDB) Điểm chung thứ
hai là chính sách và pháp luật về đầu tư của
các nước này đều theo hướng mở ra bên
ngoài, ngày càng thông thoáng hơn, rộng rãi
hơn, ngày càng ưu đãi hơn cho dòng đầu tư
trực tiếp (FDI) từ nước ngoài vào nước
mình Điểm chung thứ ba là các nước này có
xu hướng tìm mọi cách để bảo hộ đầu tư của
nước mình ở nước ngoài và không ngừng cải
thiện môi trường đầu tư trong nước thông
qua việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung luật lệ
trong nước và kí kết các điều ước quốc tế
khác nhau có liên quan đến đầu tư quốc tế
Đáng chú ý nhất trong số các điều ước quốc
tế loại đó là các hiệp định về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư (BITs), các hiệp định về
tránh đánh thuế trùng (BATTs) và tham gia
các hiệp định nhiều bên về trọng tài và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đặc biệt là tham gia Công ước ICSID 1965, NY Convention 1958 Những điểm này cho phép xác định được nội dung pháp lí khu vực cần hài hoà hoá
- Xét về bình diện vi mô, khung pháp luật vi mô của các nước này đều tập trung xử
lí một số vấn đề cơ bản, đó là: Cách hiểu khái niệm đầu tư quốc tế như thế nào cho phù hợp tình hình quốc tế và tình hình mỗi nước; các tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo thông lệ đầu
tư quốc tế; cơ chế và quy tắc tiếp nhận các khoản đầu tư quốc tế và định lập các dự án có vốn đầu tư nước ngoài; các quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp; các cấu thành khác của khung pháp luật vi mô như các yêu cầu về việc tiến hành hoạt động đầu tư, các quy định về tăng cường hoạt động đầu tư, vấn
đề chuyển vốn về nước, các vấn đề về thuế, vấn đề quốc hữu hoá, trưng mua, trưng dụng, vấn đề bảo hộ người tiêu dùng, chuyển giao công nghệ, các chuẩn mực xã hội, chính sách cạnh tranh, quy tắc xử sự của doanh nghiệp
và doanh nhân, vấn đề môi trường Đây là những nội dung cụ thể mà các nước có thể chọn để hài hoà các quy định cụ thể trong pháp luật về đầu tư của từng nước trong khuôn khổ ASEAN./
(1).Xem: Viện ngôn ngữ học, Viện khoa học xã hội
Việt Nam, Từ điển tiếng Việt, (chủ biên: Hoàng Phê),
Trung tâm từ điển học xuất bản năm 1997
(2).Xem: Oxford Advanced Learner's Dictionary, p 570 (3).Xem: Black's Law Dictionary, Nxb WP.Co.,
1991, p 495