Vì vậy, để có được sự hoà hợp của các quốc gia Đông Nam Á bất chấp những khác biệt về chế độ chính trị, trình độ phát triển thì cần phải xem xét sự phát triển và gắn kết của Đông Nam Á x
Trang 1Ths Chu M¹nh Hïng *
hu vực Đông Nam Á từ nhiều thập
niên gần đây đã trở thành tâm điểm
chú ý của các nhà nghiên cứu trên thế giới
bởi vị thế đặc biệt của nó trong thế giới hiện
đại Là khu vực lịch sử văn hoá riêng đồng
thời cũng là khu vực chiến lược, phát triển
năng động Thực tiễn của Đông Nam Á đã
phản ánh những biến chuyển lớn của thế
giới Vì vậy, để có được sự hoà hợp của các
quốc gia Đông Nam Á bất chấp những khác
biệt về chế độ chính trị, trình độ phát triển
thì cần phải xem xét sự phát triển và gắn kết
của Đông Nam Á xét dưới góc độ văn hoá
với tư cách là những giá trị vật chất, tinh
thần do con người tạo ra trong lịch sử Để
thấy được rõ nét hơn về sự hình thành, phát
triển của văn hoá Đông Nam Á chúng ta có
thể nhìn nhận thông qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn ảnh hưởng bởi các quốc gia
phương Đông: Trong thời gian dài của lịch
sử, các nước Đông Nam Á đã tiếp nhận văn
hoá của Ấn Độ, Trung Quốc, Arập kết hợp
với văn hoá bản địa của chính mình để xây
dựng nên những nền văn hoá mang tính quốc
gia dân tộc trung đại Đây là thời kì đột biến
văn hoá thứ nhất của Đông Nam Á Mối giao
lưu văn hoá trong thời kì này chủ yếu là giữa
từng nước Đông Nam Á với các nước có nền
văn hoá phát triển hơn mà nó đã chịu ảnh
hưởng Có trường hợp mối giao lưu văn hoá
diễn ra gián tiếp chủ yếu qua những cuộc di
dân, bằng tôn giáo hoặc hôn nhân hoặc bằng
chiến tranh xâm lược, áp đặt, đồng hoá Đến khi đó, giữa một số nước trong khu vực cũng
đã xuất hiện những giao lưu văn hoá nhất định điển hình như giữa những nước cùng theo Phật giáo Theravada và theo Islam Đây
là những mối giao lưu văn hoá đầu tiên mang tính khu vực trước khi người Đông Nam Á có ý thức về khu vực của mình Nội dung văn hoá thời kì này chủ yếu ở góc độ tôn giáo và trên cơ sở tôn giáo
- Giai đoạn ảnh hưởng bởi các quốc gia phương Tây: Các nước Đông Nam Á bị các nước tư bản phương Tây xâm chiếm và cùng với quân đội, bộ máy cai trị, phương tiện máy móc, văn hoá phương Tây đã du nhập ồ ạt vào Đông Nam Á Những biến động lớn lao, sâu xa đã đưa Đông Nam Á đến với thế giới hiện đại trong khi bản thân Đông Nam Á vẫn đang tồn tại chế độ phong kiến Sự tiếp xúc với sức mạnh vật chất, với những nền văn hoá
xa lạ từ chỗ bị động rồi đến chấp nhận bởi sức ép của chủ nghĩa tư bản phương Tây Đông Nam Á đứng trước vấn đề dân tộc mới
mẻ, không chỉ bảo vệ mà còn phải cải tạo và xây dựng Không thể bảo vệ được dân tộc nếu chỉ dựa vào vốn liếng của quá khứ mà thôi Chính vận mệnh dân tộc lại đòi hỏi Đông Nam Á phải nhanh chóng chiếm lĩnh lấy những đỉnh cao mới của thế giới, đặc biệt là văn hoá, khoa học kĩ thuật của phương Tây
K
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội
-
Trang 2thì mới có thể bảo tồn được dân tộc Đây là
thời kì đột biến lần thứ hai ở Đông Nam Á
Mối giao lưu văn hoá ở thời kì này chủ yếu
diễn ra giữa các nước Đông Nam Á và các
nước phương Tây Xét riêng về văn hoá, quan
hệ giao lưu đã mở rộng hơn trước cả về
không gian lẫn nội dung Thời kì trước, sự
giao lưu văn hoá mới chỉ diễn ra giữa các
nước phương Đông thì giai đoạn này đã mở
rộng sang châu Âu, châu Mĩ và cả thế giới tuy
ở mức độ thấp, có giới hạn và mang tính lệ
thuộc Về nội dung, thời kì trước giao lưu văn
hoá chỉ giới hạn ở lĩnh vực tôn giáo thì nay đã
mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực của văn hoá,
đặc biệt là cả khoa học, kĩ thuật Trong thời kì
này, tuỳ theo quan hệ chính trị, văn hoá đã
hình thành những cụm quốc gia tương đối
gần gũi nhau Mặc dù chưa hình thành khu
vực Đông Nam Á thực sự nhưng mối quan hệ
giữa những nước trong khu vực đã có những
thay đổi quan trọng Mối hiềm khích xung đột
và những hành động chiến tranh xâm chiếm
giữa các nước trong khu vực với nhau hầu
như không còn nữa, mặc dù trong quá trình
xâm lược các nước tư bản đã để lại những
hậu quả nặng nề ở nơi này, nơi khác nhưng
nhìn chung bản đồ quốc gia hiện đại đã được
xác định Các nước trong khu vực thì chỉ có
những giao lưu văn hoá gián tiếp qua những
quốc gia phương Tây và ngôn ngữ phương
Tây Do sự so sánh định vị trên thế giới, giữa
họ đã nảy nở ý thức về mối quan hệ láng
giềng Do cùng bị các nước phương Tây xâm
chiếm (trừ Thai Lan) giữa họ cũng có những
mối đồng cảm về thân phận của những người
dân thuộc địa nhưng ý thức về mối quan hệ
khu vực vẫn chưa được hình thành
Từ thế kỉ thứ III trước công nguyên đã
xuất hiện việc đi lại qua vùng Đông Nam Á của các thuyền buôn các nước để mua hương
liệu, gia vị Vào thời kì đó “mặc dù giới hạn
địa lí và vị trí của nó còn lu mờ, Đông Nam
Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu, gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con người đi biển thành thạo và can
đảm”.(1) Khi những con đường buôn bán trên đất liền từ Trung Quốc qua Trung Á đến châu Âu được thông suốt thì việc buôn bán bằng đường biển qua Đông Nam Á bị suy giảm Ngược lại, khi những con đường buôn bán trên đất liền bị tắc nghẽn thì giao lưu kinh tế ở Đông Nam Á lại hưng thịnh lên vì khu vực này kiểm soát con đường biển quan trọng từ Á sang Âu Chính vì nhận thấy vị trí quan trọng của Đông Nam Á nên người châu
Âu đã xâm chiếm khu vực này nhằm trực tiếp kiểm soát Đông Nam Á, nắm độc quyền con đường buôn bán quốc tế
Khu vực này hình thành rõ rệt khi người Anh lập ra Bộ chỉ huy quân sự Đông Nam Á trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ II nhằm hợp nhất các nước thuộc địa tách biệt của các
đế quốc Anh, Hà Lan, Pháp, Mĩ thành khu vực chung Từ sự xuất hiện khái niệm về khu vực Đông Nam Á như đã nêu thì có thể thấy rằng nhận thức về tính khu vực của Đông Nam Á bắt nguồn từ bên ngoài Đông Nam Á Điều này phần nào giải thích về sự chậm trễ của mối quan hệ giao lưu giữa các nước trong khu vực với nhau Các nước lớn, đặc biệt là các cường quốc coi các nước ở Đông Nam Á trong sự phân biệt trực tiếp với Đông Á và Nam Á thuộc một khu vực địa lí - chính trị - quân sự riêng trong khi định đoạt những chính sách chiến lược chung toàn cầu Trong
Trang 3khi đó chính các nước Đông Nam Á lại chưa
có nhận thức rõ rệt và đầy đủ về tính khu vực
của mình Việc nghiên cứu về Đông Nam Á
cũng bắt đầu và phát triển mạnh ở ngoài khu
vực như ở Nhật Bản, Mĩ…
Sau Chiến tranh thế giới thứ II và thời kì
đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đông Nam Á
mới xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới
như khu vực chính trị có những nét tương
đồng rõ rệt Tính khu vực của Đông Nam Á
lúc này được xem xét trong mối tương quan
với những khu vực địa lí chính trị khác trên
thế giới Đông Nam Á được nhìn nhận như
khu vực khi nó bắt đầu có vị trí nhất định
trong đời sống chính trị thế giới và sâu xa hơn
nó còn thể hiện tính khu vực về văn hoá
Trước khi tiếp xúc với Ấn Độ và Trung
Quốc, cư dân Đông Nam Á đã có đời sống
văn hoá khá cao Thành tựu rõ nhất là việc tạo
ra nền nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á là
một trong năm trung tâm xuất hiện các cây
trồng trên thế giới, thậm chí nhà bác học Mĩ
C.O Sauer còn cho rằng trung tâm cổ nhất
của nông nghiệp thế giới là vùng Đông Nam
Á.(2) Việc các cư dân Đông Nam Á trong thời
cổ đại đã tự mình phát minh và phát triển nền
nông nghiệp lúa nước là thực tế lịch sử Cây
lúa trở thành cây lương thực điển hình cho
phần lớn các dân tộc Nam Á, Đông Nam Á,
Đông Á và làm nên đặc trưng văn hoá vật
chất của họ Trước khi tiếp xúc với văn hoá
Ấn Độ, Trung Quốc, người Đông Nam Á
sống trong nền văn hoá Đông Sơn của mình
Đó là thời kì văn minh đồng thau ở Đông
Nam Á Chiếc trống đồng phổ biến rộng rãi ở
Đông Nam Á là hiện vật tiêu biểu của văn
hoá khu vực Nghề luyện kim cũng đã được
phát minh ở Đông Nam Á, kĩ nghệ đúc đồng
đã cho ra đời những sản phẩm vừa là công cụ lao động vừa thể hiện tính văn hoá và có ảnh hưởng lớn trong việc phát triển xã hội, kinh tế của các nước Đông Nam Á Một số nước đã mau chóng bước qua giai đoạn cuối cùng của chế độ thị tộc đạt tới trình độ một xã hội phát triển hình thành nhà nước, quốc gia Về quan
hệ gia đình, dòng họ, chế độ mẫu hệ là nét đặc trưng cơ bản của xã hội cổ truyền Đông Nam Á Sau đó chuyển dần sang chế độ phụ
hệ do ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ, Arập Tuy vậy, trong xã hội Đông Nam Á những tàn dư mẫu hệ vẫn còn khá đậm như người Chăm, Jarai, Êđê, Minangkabau… Tổ chức xã hội cơ bản của Đông Nam Á là làng Khi mới xuất hiện, làng là đơn vị cư trú của người đồng tộc, khép kín, tách biệt, tự cung
tự cấp và mang tính phòng ngự Có thể nói làng là tổ chức độc lập trong cấu trúc của quốc gia và là nét đặc trưng cơ bản của tổ chức xã hội cổ truyền của Đông Nam Á
Từ những đặc điểm đã nêu của văn hoá Đông Nam Á cùng với ngôn ngữ, huyền thoại, tín ngưỡng, phong tục tập quán… của các cư dân và tộc người ở Đông Nam Á có thể nhìn nhận Đông Nam Á là khu vực địa lí-văn hoá trước khi trở thành khu vực địa lí - chính trị Với cuộc đột biến lần thứ nhất, Đông Nam Á bước vào thời kì phát triển văn hoá rực rỡ Các tôn giáo hình thành, các nền văn hoá quốc gia dân tộc cũng xuất hiện và phát triển Tại đây đã xuất hiện những công trình nghệ thuật đặc sắc đạt đến trình độ cao như Angkor ở Campuchia, Pagan ở Myanmar, Borobudur ở Indonesia Với cuộc đột biến văn hoá lần thứ hai, Đông Nam Á bước vào thời kì phát triển văn hoá mới Trong thời kì này, nền văn hoá dân tộc được mở rộng cả về
Trang 4nội dung và hình thức Nét đặc trưng của văn
hoá Đông Nam Á thời kì này là nó trở nên
hiện đại hơn và quốc tế hơn trong khi vẫn giữ
gìn và phát triển tính truyền thống dân tộc
Sự giao lưu văn hoá trong cả hai thời kì
đó chủ yếu mang tính hướng ngoại: Thời kì
thứ nhất là những nền văn hoá cổ đại phương
Đông; thời kì thứ hai là nền văn hoá của các
quốc gia tư bản phương Tây
- Giai đoạn đề cao ý thức dân tộc và tính
khu vực: Ngày nay, Đông Nam Á đứng trước
cuộc đột biến văn hoá lần thứ ba Yêu cầu
mới của thời kì này là xây dựng đất nước
thành những xã hội phát triển toàn diện, trong
đó sự phát triển về kinh tế và văn hoá là quan
trọng hàng đầu Tất cả các quốc gia đều đã
giành được độc lập và với khung cảnh chính
trị mới, ý thức dân tộc mạnh mẽ là nét nổi bật
trong tất cả các nước ở Đông Nam Á Các
quốc gia cố gắng tìm lại sức mạnh của mình
trong truyền thống, lịch sử và văn hoá dân
tộc Văn hoá dân tộc trong sự phát triển bền
vững là nét đặc trưng của các quốc gia Đông
Nam Á ngày nay Mặt khác, thời kì này sự
nảy nở rõ rệt ý thức về tính khu vực từ bên
trong các quốc gia Đông Nam Á là điểm nhấn
mấu chốt Các nước thành viên ASEAN bắt
đầu nhận thức về mối quan hệ và lệ thuộc lẫn
nhau trong khu vực để đưa đến một số chính
sách chung chủ yếu đối với các nước phát
triển và cho phép ASEAN có tiếng nói quan
trọng hơn trước kia trên trường quốc tế Mối
quan hệ khu vực tạo nên sức mạnh mới cho
ASEAN và sự nhận thức về mối quan hệ đó
là tự giác từ bên trong bản thân các quốc gia
Đông Nam Á Trong thời đại ngày nay, quốc
gia dân tộc, khu vực và thế giới là ba phạm
trù quan trọng có tác động tương hỗ với nhau
Việc kết hợp khéo léo các phạm trù trên sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển Với Đông Nam Á, hội nhập khu vực đang là yêu cầu khách quan Để thúc đẩy quá trình này, việc đẩy mạnh giao lưu văn hoá trong khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng Mục đích của việc giao lưu văn hoá này là vì hoà bình
và phát triển trong khu vực
Những năm gần đây, hiện tượng li khai ở một số nước Đông Nam Á có chiều hướng trỗi dậy: Indonesia thành công trong việc xây dựng “quốc gia đa dạng trong sự thống nhất” làm khuôn mẫu cho “Đông Nam Á đa dạng trong sự thống nhất” nay cũng đứng trước nhiều nguy cơ bị phá vỡ sự thống nhất bởi vấn đề ở tỉnh Aceh-tỉnh giàu có và có lịch sử gắn bó lâu dài với Indonesia; Philippine đối phó với phong trào Hồi giáo li khai ở Mindanao; Thái Lan đang phải dành nhiều công sức để ổn định 4 tỉnh phía Nam của họ, nơi sinh sống của những người Muslim… Làn sóng li khai gia tăng sẽ ảnh hưởng tới an ninh khu vực Tình hình trên xuất phát từ những bất ổn chính trị của các quốc gia mà nguồn gốc sâu xa là do mâu thuẫn dân tộc, xung đột tôn giáo và có tác động không tốt tới việc xây dựng Đông Nam
Á với tư cách là cộng đồng liên kết các quốc gia trong đó có cộng đồng văn hoá
Để duy trì an ninh và tạo ra sự hội nhập khu vực, sự giao lưu văn hoá trong đó có việc nghiên cứu khu vực, tìm hiểu văn hoá, cần đi trước một bước để mở đường và chuẩn bị cho quá trình này Đó là Đông Nam
Á hoà bình và phát triển và cũng là những vấn đề đặt ra cho các nước và khu vực Đông Nam Á đúng như Tầm nhìn ASEAN 2020 đã nhấn mạnh: Xây dựng nhóm hài hoà các
Trang 5quốc gia Đông Nam Á, hướng ra bên ngoài,
sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng,
gắn bó với nhau bằng quan hệ đối tác trong
phát triển năng động và trong cộng đồng các
xã hội đùm bọc lẫn nhau
Với nhận thức về mối liên kết khu vực,
các quốc gia thành viên ASEAN đã nhất trí
thông qua bản Hiến chương ASEAN để
thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015
trong đó có Cộng đồng văn hoá-xã hội Cộng
đồng này đóng vai trò là một trong ba trụ cột
hợp tác của ASEAN trong hiện tại và tương
lai, cụ thể là:
Thứ nhất: Cộng đồng văn hoá-xã hội là
hiện thực hoá Tầm nhìn ASEAN 2020 về hội
nhập khu vực nhằm hình thành khu vực
ASEAN hoà bình, ổn định, hiểu biết lẫn nhau,
kinh tế-xã hội phát triển đồng đều, giảm bớt
khoảng cách giàu - nghèo và chênh lệch kinh tế
Thứ hai: Cộng đồng văn hoá-xã hội dựa
trên sự hội tụ lợi ích của các quốc gia thành
viên nhằm thúc đẩy các nỗ lực làm sâu sắc
hơn hội nhập và là tiền đề để mở rộng liên kết
trong các lĩnh vực khác đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế để đưa ASEAN trở thành khu vực
có khả năng cạnh tranh về công nghệ, có
nguồn nhân lực được đào tạo, có mạng lưới
các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ
Thứ ba: Cộng đồng văn hoá-xã hội sẽ tạo
cơ chế vững chắc cho sự phát triển bền
vững, bảo vệ môi trường và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên cũng như nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân Tạo ra các
quy tắc ứng xử và những biện pháp hợp tác
để đối phó và giải quyết ở cấp độ khu vực
vấn đề ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em,
tội phạm xuyên quốc gia
Thứ tư: Cộng đồng văn hoá-xã hội sẽ tạo
ra cơ chế quản lí với sự tham gia rộng rãi của nhân dân, trong đó nhân phẩm của con người
và lợi ích của cộng đồng được tôn trọng
Thứ năm: Cộng đồng văn hoá-xã hội là
sự rộng mở nhất quán đặc điểm của mỗi dân tộc, là sự hài hoà giữa văn hoá khu vực và văn hoá thế giới với những yêu cầu mang tính khách quan cũng như những nhu cầu nội tại của chính các quốc gia thành viên trong
đó mọi người được tiếp cận một cách công bằng các cơ hội để phát triển không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc nguồn gốc văn hoá-xã hội
Thứ sáu: Cộng đồng văn hoá-xã hội coi gia đình vững mạnh là đơn vị cơ bản của xã hội trong đó trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật được đặc biệt quan tâm
Như vậy việc thành lập Cộng đồng ASEAN nói chung và Cộng đồng văn hoá-xã hội nói riêng là một thích ứng của ASEAN trước tình hình quốc tế có nhiều biến động,
đó là việc làm cụ thể để hiện thực hoá Tầm nhìn ASEAN 2020 Không những vậy việc hình thành Cộng đồng văn hoá-xã hội ASEAN còn bắt nguồn từ chính nhu cầu nội tại của các nước ASEAN bởi mỗi nước ngoài những đặc điểm văn hoá, xã hội mang tính truyền thống còn bị ảnh hưởng và bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài có nguồn gốc văn hoá Giao lưu văn hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi ASEAN hơn lúc nào hết cần phải khẳng định bản sắc của riêng mình trong thế giới đa dạng và luôn biến đổi./
(1) Donald G.Mc Cloud, System and Process in Southeast Asia, Westwie Press, USA, 1986, P.10
(2).Xem: GS Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam
Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr.332