1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " ASEAN và những nỗ lực hướng tới xây dựng thành công cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á " ppt

8 406 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 185,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ban đầu với số lượng thành viên hạn chế, ASEAN đã phát triển trở thành tổ chức quốc tế chung của khu vực bao gồm 10 quốc gia thành viên và hiện nay, ASEAN đang hướng tới mục tiêu trở thà

Trang 1

Ths Lª ThÞ Anh §µo * iệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN) được thành lập trên cơ sở

Tuyên bố Băng Cốc ngày 08/8/1967 với năm

quốc gia thành viên sáng lập Ban đầu với số

lượng thành viên hạn chế, ASEAN đã phát

triển trở thành tổ chức quốc tế chung của

khu vực bao gồm 10 quốc gia thành viên và

hiện nay, ASEAN đang hướng tới mục tiêu

trở thành Cộng đồng vào năm 2015.(1)

Mặc dù văn kiện thành lập ASEAN đã

bày tỏ tham vọng là nhằm xây dựng “mối

quan hệ hợp tác để thúc đẩy hoà bình, thịnh

cũng đã phải mất đến 40 năm xây dựng và

phát triển, ASEAN ngày nay mới có được

quyết tâm đầy đủ là trở thành tổ chức với tên

gọi là “Community - Cộng đồng”, chứ

không chỉ là Hiệp hội các quốc gia Đông

Nam Á Đây là quyết định mang tính đường

lối, thể hiện bản chất của tổ chức và những

mối quan hệ liên quốc gia trong khu vực

Trong một nghiên cứu chủ yếu về vai

trò của ASEAN đối với trật tự an ninh khu

vực, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á,

Amitav Acharya cho rằng việc xây dựng

ASEAN theo đúng nghĩa “Cộng đồng” - nơi

mà các quốc gia có sự quan tâm và chia sẻ

lẫn nhau trước hết phải hướng đến những giá

trị chung về mặt xã hội như xoá đói, giảm

nghèo, giáo dục, y tế, an sinh xã hội…

Nghiên cứu cũng khẳng định rằng các quốc gia sáng lập ASEAN tham vọng phát triển tổ chức này trở thành cộng đồng xã hội của khu vực (hơn là trở thành khối liên minh kinh tế, chính trị) để giúp cho ASEAN có thể vượt qua những chia rẽ và khoảng cách do chế độ thuộc địa để lại và hướng tới mối quan hệ hoà bình giữa những quốc gia mới giành được độc lập trong khu vực.(3) Với quan điểm đó, bài viết này đề cập việc xây dựng Cộng đồng ASEAN mang tính xã hội, tính cộng đồng nhằm tăng cường đoàn kết và hợp tác trong khu vực vì những giá trị chung

I CƠ SỞ XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN

1 Nhận thức chung

Đã có nhiều học thuyết về quan hệ quốc

tế cho rằng hệ thống quốc tế giống như một công trình xã hội.(4) Các lực lượng vật chất như tài nguyên thiên nhiên, địa lí, lực lượng sản xuất, sức mạnh quân sự… đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia chỉ khi chúng được thiết lập với ý nghĩa cụ thể đối với quốc gia Nói cách khác, sức mạnh và những lợi ích chiến lược của mỗi quốc gia là quan trọng nhưng chúng quan trọng như thế nào lại tùy thuộc vào quốc gia

H

* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

đó là bạn hay là thù và điều này lại do ý

thức, quan niệm chung quyết định

Do đó, nếu các quốc gia coi hệ thống

quốc tế về cơ bản như một nơi chiến lược

để ganh đua về sức mạnh, ảnh hưởng và đạt

được những lợi ích vật chất thì chiến tranh

và xung đột vũ trang sẽ liên tục xảy ra trong

đời sống chính trị toàn cầu Mặt khác, nếu

các quốc gia coi hệ thống quốc tế là nơi các

quốc gia có thể chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau thì

các tổ chức thể hiện mối quan hệ giữa các

quốc gia có thể được xây dựng thành một

cộng đồng Trong cộng đồng ấy, việc phát

triển những giá trị xã hội, nâng cao mức

sống, thu hẹp khoảng cách và đảm bảo sự

phát triển bền vững là mối quan tâm hàng

đầu chứ không phải là việc tạo ra những

liên minh chiến lược trong hệ thống an ninh

cạnh tranh

Trong khuôn khổ nhận thức như trên,

xây dựng Cộng đồng ASEAN, vì vậy, là sự

lựa chọn đường lối của chính các quốc gia

thành viên tổ chức này chứ không phải là sự

áp đặt hay là được ấn định từ trước Việc

xây dựng Cộng đồng ASEAN được định

hướng là xây dựng tổ chức quốc tế khu vực

có tính xã hội, tính cộng đồng, hướng đến

những giá trị chung về mặt xã hội vì lợi ích

của nhân dân các nước thành viên Nó cũng

hướng vào củng cố hoà bình, chấm dứt

xung đột giữa các quốc gia, chấm dứt

những cuộc chiến tranh với danh nghĩa

“thay mặt” hay “ủy nhiệm” được đưa ra

dưới hình thức “tìm kiếm bước tiến mới cho

đối thoại và hoà bình” Xây dựng Cộng

đồng ASEAN vừa là quá trình, vừa là dấu

mốc của kỉ nguyên mới Và ASEAN hiện nay, với quan điểm hướng tới sự hội nhập

và đoàn kết sâu rộng sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng thành công Cộng đồng các quốc gia ở Đông Nam Á

2 Cơ sở xã hội

Nhận thức rằng quá trình xây dựng ASEAN trở thành một cộng đồng trước hết phải giải quyết được những vấn đề xã hội cơ bản nhằm nâng cao ý nghĩa của việc xây dựng cộng đồng và đoàn kết khu vực ASEAN vì vậy đã bắt tay vào một chương trình hợp tác thực sự hiệu quả trên các lĩnh vực xã hội Cụ thể:

a Về xoá đói, giảm nghèo

Đánh giá phối hợp giữa Uỷ ban kinh tế

xã hội Liên hợp quốc về châu Á-Thái Bình Dương (UN-ESCAP), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Ngân hàng

phát triển châu Á (ADB) cho rằng: “Khu vực

châu Á Thái Bình Dương nói chung đang trên con đường đạt được những mục tiêu

giai đoạn 1993 - 2002, tỉ lệ người dân có thu nhập dưới 1 USD/ngày đã giảm từ 17.4% xuống còn 7.5% ở Indonesia và từ 14.6% xuống còn 2.2% ở Việt Nam Những quốc gia khác cũng đã đạt được bước tiến dài trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo.(5) Trong vài thập niên qua, ASEAN cũng

có sự hội nhập nhanh chóng và có khả năng cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư vào thị trường toàn cầu và khu vực Tuy nhiên, việc mở cửa nền kinh tế cũng mang đến sự cạnh và áp lực thị trường lao động lớn hơn ASEAN vẫn có hàng triệu người

Trang 3

có thu nhập thấp Năm 2006, ASEAN có

khoảng 262 triệu lao động thì khoảng 148

triệu người đã không kiếm đủ tiền để nuôi

sống bản thân và gia đình họ (thu nhập ở

mức dưới 3 USD/ngày) và trong số đ, có

28,5 triệu lao động và gia đình họ phải sống

với thu nhập dưới 1 USD/ngày Điều này có

nghĩa là cứ 10 người lao động ASEAN thì

có 1 người và gia đình họ phải sống ở mức

rất nghèo.(6)

Những nghiên cứu tổng thể về ASEAN

cho thấy: Trên cơ sở chuẩn nghèo quốc gia

thì 8 trong số 10 quốc gia ASEAN có tỉ lệ

người có thu nhập ở mức nghèo chiếm từ 5

đến 35% trong rất nhiều năm (1999 - 2003)

Nông thôn là khu vực có nhiều người lao

động có thu nhập thấp với tỉ lệ nghèo theo

thống kê chiếm khoảng 11 đến 42% (so với

thành thị thì tỉ lệ này chiếm từ 2 đến 25%

trong tổng số lao động thành thị) Theo

chuẩn quốc tế, người nghèo là người có thu

nhập 1 USD/ngày thì tỉ lệ người nghèo ở

ASEAN chiếm từ 0.2 đến 77.7% Theo tiêu

chuẩn này thì tỉ lệ nghèo ở Campuchia, Lào,

Myanma và Việt Nam cao gấp bốn lần so

với các quốc gia khác của ASEAN.(7)

b Về giáo dục

Nhiều quốc gia ASEAN đạt được thành

tựu đáng kể trong giáo dục với chỉ tiêu là

vào năm 2015 tất cả trẻ em nam và nữ trong

khu vực đều phổ cập giáo dục bậc tiểu học

Ví dụ, ở Campuchia tỉ lệ trẻ em ở độ tuổi đến

trường được đăng kí vào học tiểu học tăng từ

69.3% năm 1991 lên 97.6% vào năm 2004

Ở Lào, tỉ lệ này tăng từ 67.4% năm 1991 lên

81.7% năm 2004 Theo báo cáo của các quốc

gia ASEAN thì trong các giai đoạn khác nhau, tỉ lệ biết chữ chiếm từ 68.7% đến 95.1% dân số.(8)

c Về y tế

Tỉ lệ chi tiêu ngân sách nhà nước dành cho y tế của các quốc gia thành viên ASEAN chiếm từ 1.3 đến 7.8% trong tổng chi tiêu của chính phủ Tại các quốc gia ASEAN, khu vực thành thị được tiếp cận với nguồn nước sạch nhiều hơn là khu vực nông thôn Trung bình khoảng 77.7% dân số ASEAN được tiếp cận với nguồn nước sạch và khoảng 90% trong số

đó là ở khu vực thành thị.(9)

Sự lây lan của những bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện đã trở thành chủ đề tất yếu của hợp tác quốc tế và khu vực bởi không một quốc gia đơn lẻ nào có thể ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của nó Nhận thức được rằng mức độ lây nhiễm HIV rất cao ở châu Á và Đông Nam Á, ASEAN đã thành lập Lực lượng đặc nhiệm ASEAN về phòng chống AIDS (viết tắt là ATFOA) và đã tổ chức hai hội nghị ở cấp thượng đỉnh về phòng chống AIDS vào năm 2001 và 2007 Một mạng lưới trực tuyến giám sát sự lây lan bệnh truyền nhiễm ở ASEAN đã được thành lập

có sự hợp tác với nhiều quốc gia nhằm chuẩn

bị sẵn sàng đối phó, kể cả sản xuất thuốc men và các phương tiện để bảo vệ và khống chế bệnh Tamiflu và những bệnh truyền nhiễm khác.(10)

d Về an sinh xã hội

Tổng chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội chiếm từ 0.02 đến 8% Tuy nhiên, cũng có nhiều báo cáo cho hay chỉ có khoảng 32.5% dân số được tiếp cận với

Trang 4

chương trình an sinh xã hội An sinh ở các

quốc gia thành viên ASEAN bao gồm lương

hưu, trợ cấp thất nghiệp, thai sản, tử tuất và

các chế độ khác Có 7/10 quốc gia đã thông

qua văn bản pháp lí hoặc là chính sách về

trợ giúp bộ phận người dân yếm thế trong

xã hội, ví dụ, là nạn nhân của bạo lực gia

đình, người tàn tật và trẻ em bị bỏ rơi hoặc

bị buôn bán.(11)

đ Về lao động

Từ năm 2000 - 2007, lực lượng lao động

ở ASEAN tăng 11,8% (tức là tăng từ 235,2

triệu lao động lên đến 263 triệu lao động),

tạo thêm 27,8 triệu việc làm mới Cũng trong

thời gian này, tỉ lệ thất nghiệp ở ASEAN

tăng 51.3% (tức là từ 6,3 triệu lên 18,6 triệu

người lao động thất nghiệp).(12)

Sự gia tăng nhanh chóng của sự chuyển

dịch lao động trong khu vực là bằng chứng

cho thấy sự hội nhập về thị trường lao động

giữa các quốc gia ASEAN Năm 2005, số

lao động xuất khẩu ở ASEAN là 13,5 triệu

lao động thì chỉ có khoảng gần 40% trong số

đó (5,3 triệu lao động) là sang làm việc ở các

quốc gia ngoài ASEAN Việc chuyển dịch

lao động này mang lại nguồn thu và lợi ích

cho nhà nước và cho chính những người lao

động Tuy nhiên, một lực lượng lớn lao động

ngụ cư và sự gia tăng của nó cũng đặt ra

những vấn đề lớn liên quan đến quản lí

người ngụ cư và áp lực đảm bảo quyền lợi

cho họ Về vấn đề này, ASEAN đã có Tuyên

bố về bảo vệ và nâng cao quyền của lao

động ngụ cư Theo đó, một ủy ban phụ trách

việc thực hiện Tuyên bố và triển khai chỉ đạo

của các nhà lãnh đạo ASEAN về vấn đề này

sẽ được thành lập

Trong giai đoạn từ 2005 - 2015, lực lượng lao động ASEAN dự kiến là sẽ tăng khoảng 65 triệu lao động Trong đó, số lao động nông nghiệp dự kiến là 6,6 triệu lao động, trong khi lao động công nghiệp dự tính

sẽ tăng khoảng 24 triệu và dịch vụ là 35 triệu lao động Khu vực dịch vụ không chỉ là khu vực chủ yếu tạo việc làm mà còn sẽ trở thành khu vực sử dụng nhiều lao động nhất, khoảng 40% tổng lao động của ASEAN vào năm 2015.(13)

e Về phát triển bền vững

Bảo vệ rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự bền vững của môi trường Nhìn chung, mức độ bao phủ của rừng ở Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam cao hơn khoảng 16% so với 6 quốc gia ASEAN còn lại Tính theo đầu người, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào có tỉ lệ rừng bao phủ tính theo đầu người cao nhất: 2,4 hecta/người

Tỉ lệ này ở Philippine, Thái Lan và Việt Nam là thấp nhất, chỉ có 0,5 hecta/người Nhưng nhìn tổng thể thì Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam vẫn có tỉ lệ rừng bao phủ cao.(14)

Một trong những cam kết mà mục tiêu phát triển thiên niên kỉ đưa ra là giảm lượng cácbon dioxide và sự thải chloroflourocarbon (CFC) vào khí quyển Trong giai đoạn 2000

- 2003, lượng cácbon dioxide tỏa ra tính theo đầu người ở Campuchia là thấp nhất (0,04 tấn/người) và cao nhất trong giai đoạn này là

ở Darussalem, Philippine (17,7 tấn/người) Tính tổng thể ở ASEAN thì tỉ lệ này là 1,6 tấn/người Trung bình, lượng cácbon dioxide

Trang 5

thải ra ở các nước Campuchia, Lào, Myanma

và Việt Nam thấp hơn so với mức trung bình

của 6 nước ASEAN còn lại.(15)

Về vấn đề này, ASEAN đã kí Hiệp định

về kiểm soát ô nhiễm khói bụi xuyên biên

giới ASEAN Hiệp định này quy định việc

thành lập Trung tâm điều phối ASEAN về

kiểm soát ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới

và Indonesia đã đăng cai được là nơi đặt trụ

sở chính của Trung tâm này Hiện nay, Hiệp

định về thành lập cơ cấu tổ chức, quy chế

hoạt động và quản lí của Trung tâm đang

được các quốc gia soạn thảo

f Về bản sắc và sự hiểu biết lẫn nhau

trong khu vực

Trong việc nâng cao bản sắc và sự hiểu

biết lẫn nhau trong khu vực, Báo cáo tổng

quan về ASEAN xem xét đến sự phổ biến

của các kênh truyền hình phát về các quốc

gia ASEAN và coi đó là cơ sở thể hiện sự

quan tâm đối với đời sống văn hoá và sự

phát triển của các quốc gia thành viên

ASEAN Theo đánh giá, có 3 quốc gia được

coi là phát triển tốt việc này Campuchia là

quốc gia có số lượng nhiều nhất những

kênh truyền hình phát về ASEAN (dù chủ

yếu là phát về Thái Lan) Cộng hoà dân

chủ nhân dân Lào có 7 kênh phát về Thái

Lan và Việt Nam Singapore được báo cáo

là có 3 kênh phát về các quốc gia thành

viên ASEAN Việt Nam không có bất cứ

một kênh truyền hình nào phát về quốc gia

thành viên ASEAN Có 4 quốc gia đưa

thông tin qua phim về ASEAN được chiếu

ở các rạp trong nước.(16)

Hệ thống giáo dục chính thức đang được

sử dụng như là một kênh thúc đẩy sự quan tâm tìm hiểu về ASEAN Trong số các quốc gia của ASEAN cung cấp số liệu thì Campuchia, Indonesia, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Việt Nam đã trích dẫn lịch

sử và văn hoá ASEAN như là một môn học trong chương trình đào tạo ở trường học Những thiết chế khu vực đã được thành lập

để đạt được mục đích này, bao gồm: Trung tâm về truyền thống và văn hoá khu vực được thành lập bởi Bộ giáo dục các quốc gia Đông Nam Á, mạng lưới các trường đại học ASEAN cũng là nơi trợ giúp cho hoạt động nghiên cứu và tìm hiểu về ASEAN.(17)

II CỘNG ĐỒNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI ASEAN (ASCC) VÀ NHỮNG YẾU TỐ

CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN

1 Cộng đồng văn hoá-xã hội ASEAN (ASCC)

Việc xây dựng ASEAN mang tính xã hội, cộng đồng trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng Cộng đồng văn hoá-xã hội ASEAN Các nhà lãnh đạo ASEAN đã tuyên

bố rằng Cộng đồng ASEAN sẽ bao gồm ba trụ cột: Cộng đồng an ninh, Cộng đồng kinh

tế và Cộng đồng văn hoá-xã hội Trong Tuyên bố Ba li II năm 2003, các quốc gia ASEAN đã khẳng định ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN có mối “quan hệ chặt chẽ và

củng cố lẫn nhau” vì mục tiêu thúc đẩy hoà bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực ASEAN thống nhất trên cơ sở sự liên kết chặt chẽ về kinh tế sẽ là nền tảng cho việc củng cố đoàn kết, ổn định và gia tăng quyết tâm chính trị của ASEAN, thu hút

Trang 6

các thành viên ASEAN tích cực tham gia

vào các cơ chế liên kết an ninh-chính trị của

khu vực Bên cạnh đó, ASCC cũng có mối

quan hệ với hai trụ cột còn lại Việc xây

dựng ASCC nếu như có tác động tích cực

trong đời sống của nhân dân các nước thành

viên thì sẽ giúp ASEAN tăng cường được vị

thế của mình trên các lĩnh vực kinh tế, chính

trị Chương trình hành động của ASCC cũng

đặc biệt ghi nhận rằng “Cộng đồng văn

hoá-xã hội ASEAN gắn kết một cách bền chặt

không thể tách rời với trụ cột an ninh và

kinh tế của Cộng đồng ASEAN

Như vậy, nhận thức và thực tế chung là

ASCC sẽ góp phần thúc đẩy sự ổn định và

phồn thịnh trong khu vực và có vai trò quan

trọng trong việc xây dựng ASEAN trở thành

tổ chức mang tính xã hội, cộng đồng Nhìn

chung, có hai ý nghĩa chính mà thành tố xã

hội của việc xây dựng ASCC đóng góp vào

việc hình thành nên Cộng đồng ASEAN

Trước hết ở cấp độ quốc gia, xây dựng

ASCC sẽ mở rộng hơn nữa mối quan hệ hợp

tác trên lĩnh vực văn hoá-xã hội, đem lại

phát triển và tăng trưởng về phúc lợi xã hội,

sự công bằng và thân thiện ở ngay chính tại

từng quốc gia và khu vực Đông Nam Á Thứ

hai là ở cấp độ liên quốc gia, sự hợp tác về

khía cạnh văn hoá-xã hội sẽ tạo ra sự hiểu

biết lẫn nhau một cách tích cực, làm cho các

quốc gia gắn bó với nhau hơn và tránh được

những rắc rối tiềm ẩn giữa các quốc gia vốn

có biên giới và tài nguyên kề cận

Theo cựu Tổng thư kí ASEAN Rodolfo

Severino, nếu chúng ta coi Cộng đồng văn

hoá-xã hội như là phương tiện để nâng cao

nhận thức về một Đông Nam Á đồng thuận,

để xây dựng nhận thức chung trong khu vực

và để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước thành viên ASEAN thì phần cốt lõi của Cộng đồng ASEAN phải là Cộng đồng văn hoá-xã hội Theo ông, Đông Nam Á không thể là Cộng đồng an ninh bền vững lâu dài, Cộng đồng kinh tế hiệu quả và cũng không thể là Cộng đồng ASEAN theo nghĩa đúng nhất và sâu sắc nhất của từ này nếu như nó không là Cộng đồng văn hoá-xã hội Ông tin tưởng rằng điều đó là nguyên lí

và ở mức độ rộng hơn, sẽ không thể có ý thức về bản sắc khu vực nếu như ASEAN không dựa trên những giá trị chung Nếu không chấp nhận hệ thống những giá trị chung này, ASEAN sẽ không thể giải quyết được vấn đề rằng các quốc gia thành viên sẽ

tự do hành động, không theo chuẩn mực xử

sự như đã thỏa thuận Và ASEAN cũng sẽ thấy rằng không thể nâng cao được nhận thức trong nhân dân ASEAN rằng nó là một cộng đồng

2 Những yếu tố cơ bản để xây dựng Cộng đồng ASEAN

Có ít nhất ba yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để xây dựng trụ cột văn hoá-xã hội và hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN Trước hết, mục tiêu, hành động và những thành tựu đạt được của ASEAN phải gắn kết chặt chẽ với nhân dân Đông Nam Á,

có tác động tích cực đến đời sống của họ Người dân Đông Nam Á phải bị thuyết phục rằng chính phủ các nước này không hứa suông về vấn đề hợp tác và đoàn kết khu vực

mà đây là những cam kết gắn bó với nhau

Trang 7

một cách thực sự, vì những giá trị chung Để

làm được điều đó, ASEAN cần phải tiếp tục

hợp tác và giải quyết tốt hơn nữa các vấn đề

xã hội, bao gồm xoá đói, giảm nghèo, an

sinh xã hội, dân chủ, nhân quyền… ASEAN

phải quyết tâm theo đuổi những mục tiêu

phát triển thiên niên kỉ và những cam kết về

thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc

gia thành viên Những thách thức đang được

vạch ra và việc thực hiện những chính sách

để giải quyết nó mới là điều quan trọng với

người dân ASEAN

ASEAN phải bằng chính nguồn lực của

ASEAN, tuy nhiên, sự trợ giúp của các quốc

gia trong và ngoài tổ chức cũng là nguồn lực

hết sức cần thiết Một mặt, ASEAN phải

khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn nữa

các nguồn lực tại chỗ và nguồn lực huy

động Mặt khác, ASEAN cần mở rộng hợp

tác hơn nữa với các quốc gia và các đối tác

phát triển khác Khái niệm ASEAN nên mở

rộng và vượt ra khỏi phạm vi liên chính phủ

ASEAN thẩm quyền phải vận hành cùng

ASEAN mang tính xã hội Đường lối thẩm

quyền sẽ vạch ra định hướng, thúc đẩy môi

trường thuận lợi và tạo niềm tin trong nhân

dân Đông Nam Á Đồng thời, ASEAN thẩm

quyền cũng vẫn phải tiếp tục đóng vai trò cơ

bản trong cái mà Tổng thư kí ASEAN Ong

Keng Yong gọi là “sự tạo điều kiện và tăng

cường chất xúc tác” cho sự hiểu biết và hợp

tác trong khu vực

Về vấn đề này, ASEAN phải tiếp tục gắn

kết và trao quyền cho mạng lưới các tổ chức

chuyên môn của khu vực hoạt động trong

lĩnh vực xã hội, bộ phận chuyên gia cố vấn các vấn đề quốc gia, những tổ chức chuyên môn, những viện hàn lâm, cộng đồng khoa học, những người theo chủ nghĩa nhân văn

và nhân đạo, khu vực kinh tế cá thể, các tổ chức phi chính phủ và những tổ chức tích cực khác đã ủng hộ và cam kết cùng vì lí tưởng và mục đích của Cộng đồng ASEAN

Thứ ba, ASEAN nên tiếp tục hợp tác thực sự trong những lĩnh vực du lịch văn hoá, trao đổi nghiên cứu, bảo vệ và phát triển quyền của lao động ngụ cư, trao đổi thông tin qua truyền hình, sách báo và các phương tiện điện tử ASEAN phải tiến theo mục tiêu

mà Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 12 năm

2007 (tại Cebu Philippine)(18) đã đề ra là thúc đẩy thành lập một cộng đồng có sự quan tâm

và chia sẻ lẫn nhau Một số tổ chức và hoạt động hiện nay như: Hệ thống đại học ASEAN, Diễn đàn hàng năm về du lịch ASEAN, Chương trình trao đổi phóng viên trường học ASEAN, Chương trình trao đổi tin tức ASEAN, mạng lưới về di sản văn hoá, cắm trại hàng năm của Đoàn thanh niên ASEAN và Diễn đàn về lao động ngụ cư ASEAN… cũng cần phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của mình Đó là một vài yêu cầu đối với các hệ thống thiết chế (cơ quan) chịu trách nhiệm về an sinh xã hội, lao động, phát triển nông thôn và xoá đói, giảm nghèo của ASEAN

Như vậy, ở một quy mô và mức độ đáng

kể, triển vọng về tạo ra tư cách pháp lí cho ASEAN xã hội, một ASEAN mang tính cộng đồng và ở mức độ sự đóng góp của nó đối với việc tìm kiếm hoà bình và an ninh

Trang 8

khu vực thì tất cả những vấn đề này phần lớn

vẫn nằm ở ngay trong năng lực của mỗi quốc

gia thành viên ASEAN Giá trị chiến lược

của ASEAN nằm ở chính sức mạnh được tập

hợp của chính tổ chức, ở việc lên khung vấn

đề và quá trình đưa ra quyết định giải quyết

vấn đề cũng như là ở sự ủng hộ tích cực

trong khu vực Vì vậy, “sự chủ động của các

quốc gia là yếu tố cơ bản để giải quyết các

vấn đề đã được nêu ra Tuy nhiên, các quốc

gia thành viên có thể đạt được kết quả đáng

kể dựa trên các cam kết và mục tiêu chính trị

cấp quốc gia thông qua sự ủng hộ tích cực

trong khu vực”.(19)

Giữa cam kết và kết quả đạt được là cả

một quá trình Những nỗ lực cần được tiếp

tục để xây dựng thiết chế khu vực bao gồm

nhiều bộ phận chuyên môn, vừa tiến bộ, lại

vừa nhanh chóng thích nghi So với những

cách tiếp cận được định hướng mang tính

chiến lược như tham vọng về sự cân bằng

quyền lực hoặc thế cân bằng chiến lược thì

xây dựng ASEAN, với nghĩa là xây dựng sự

thống nhất và xây dựng cộng đồng là cách

thức tốt nhất để thúc đẩy hoà bình, ổn định

và hợp tác trong khu vực cũng như quốc tế

Xây dựng ASEAN trở thành Cộng đồng các

quốc gia Đông Nam Á có nhiều hứa hẹn và

xứng đáng để chúng ta ủng hộ./

(1) ASEAN được thành lập năm 1967 với 5 thành

viên ban đầu là Thái Lan, Malaysia, Indonesia,

Philippine và Singapore; mãi đến năm 1984 mới kết

nạp thêm được Brunei và tiếp theo đó là kết nạp Việt

Nam năm 1995, Lào và Myanma năm 1997,

Campuchia năm 1999

(2).Xem: Tuyên bố thành lập ASEAN ngày 08/8/1967

tại Băng Cốc

(3).Xem: Amitav Acharya, Xây dựng một Cộng đồng

an ninh ở Đông Nam Á, London: Routledge, 2001,

p 194 -195

(4).Xem: Alxander Wendt, Social Theory of

International Polictics, (Cambridge University Press, 1999) Quan điểm này cho rằng (a) những tổ chức mang tính chất “cộng đồng” của con người được thành lập trước hết là do ý tưởng, quan niệm chung, chứ không phải do những nguồn lực vật chất quyết định và (b) lợi ích của quốc gia được thiết lập và bảo vệ cũng chính bởi những ý tưởng, quan niệm chung này (5).Xem: Báo cáo phối hợp của UN - ESCAP; UNDP

và ADB, tr 2 (6) Văn phòng khu vực châu Á-Thái Bình Dương

(ILO), Xu hướng lao động và xã hội ở ASEAN năm

2007: Hội nhập - những cơ hội và thách thức, Bangkok 2007

(7).Xem: Mario Lambberte, The Secretary of

ASEAN, Báo cáo tổng thể ASEAN: Những phương

thức điều chỉnh sự phát triển hướng tới Cộng đồng ASEAN, 3/2006

(8).Xem: M.C Abad, Jr., Xây dựng một ASEAN mang

tính xã hội (trình bày tại Hội nghị bàn tròn châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 21, Kuala Lumpur 4-8/6/2007) Nguồn http://www.aseansec.org

(9).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr.3

(10).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr.4

(11).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr.5

(12) Xu hướng lao động và xã hội ở ASEAN năm 2007:

Hội nhập - những cơ hội và thách thức, Sđd, tr 7 - 8

(13).Xem: Xu hướng lao động và xã hội ở ASEAN

năm 2007: Hội nhập - những cơ hội và thách thức, Sđd, tr.8

(14).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr.5

(15).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr.5

(16).Xem: Mario Lambberte, Báo cáo tổng thể

ASEAN: Những phương thức điều chỉnh sự phát triển hướng tới Cộng đồng ASEAN, Sđd, 3/2006

(17).Xem: M.C Abad, Jr., Sđd, tr 6

(18).Xem: Tuyên bố Cebu hướng tới một cộng đồng

có sự quan tâm và chia sẻ lẫn nhau, ngày 13/1/2007 (19) Chương trình hành động Viêng Chăn, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 10 năm 2004

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w