1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 và Hiến chương ASEAN năm 2007 - cơ sở pháp lý cho sự ra đời và phát triển của ASEAN " docx

5 1,2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 148,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể do tên gọi và nội dung của văn kiện này mang “màu sắc” của một tuyên bố chính trị hơn là văn bản pháp lí quốc tế nên giá trị điều ước của văn kiện này đã bị một số học giả nghi ng

Trang 1

ăn bản pháp lí quốc tế đầu tiên cho sự

ra đời của ASEAN chính là Tuyên bố

Băng Cốc năm 1967 (còn được gọi là Tuyên

bố ASEAN) được các ngoại trưởng của 5

quốc gia Thái Lan, Singapore, Philippine,

Indonesia, Malaysia thông qua ngày 8/8/1967

tại thủ đô của Thái Lan Quyết định xây dựng

Hiến chương ASEAN đã được thông qua tại

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 ở

Kuala lumpur (Malaysia) tháng 12/2005 Sau

hai năm rưỡi soạn thảo, ngày 20/11/2007, tại

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 ở

Singapore, nguyên thủ và người đứng đầu

chính phủ 10 nước thành viên ASEAN đã kí

vào bản Hiến chương ASEAN Có thể khẳng

định sự ra đời của Hiến chương là nhu cầu tất

yếu của ASEAN sau 40 năm thành lập, đánh

dấu bước ngoặt trong lịch sử tồn tại và phát

triển của tổ chức Nếu đối chiếu Tuyên bố

Băng Cốc với Hiến chương ASEAN có thể

thấy một số điểm cần lưu ý sau:

Thứ nhất: Về tính chất, cả hai văn kiện

này đều là những điều ước quốc tế đa

phương Tuy nhiên, trong thực tế, đối với

Hiến chương ASEAN, chắc chắn sẽ không

tồn tại quan điểm khác nhau về giá trị “điều

ước” của văn bản này Nhưng với Tuyên bố

Băng Cốc, đã có những quan điểm cho rằng

một trong những điểm đặc biệt của ASEAN

chính là tổ chức này ra đời trên cơ sở của

một “Tuyên bố” chứ không phải là một điều

ước quốc tế Có thể do tên gọi và nội dung của văn kiện này mang “màu sắc” của một tuyên bố chính trị hơn là văn bản pháp lí quốc tế nên giá trị điều ước của văn kiện này

đã bị một số học giả nghi ngờ.(1) Tuy nhiên, dưới góc độ của luật quốc tế nói chung, luật điều ước quốc tế và luật tổ chức quốc tế nói riêng có thể khẳng định Tuyên bố Băng Cốc cũng là điều ước quốc tế đa phương bởi vì:

- Về mặt pháp lí, theo quy định của khoản

1 Điều 2 Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế thì điều ước là “một thoả

thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được luật pháp quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận

đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau cũng như không phụ thuộc

vậy, tính chất điều ước của một văn kiện pháp lí quốc tế không hề bị chi phối bởi việc

nó được gọi là “tuyên bố” hay “hiến chương”

- Về mặt thực tế, từ sau khi Tuyên bố Băng Cốc được thông qua, một tổ chức quốc

tế khu vực với tên gọi Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nation - ASEAN) đã ra đời Có thể vẫn còn sự nhìn nhận khác nhau về ASEAN, đặc biệt là ở những thập niên đầu tiên khi tổ

v

* Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

chức này mới xuất hiện, nhưng vai trò, vị trí

của ASEAN đối với hợp tác phát triển của

mỗi quốc gia thành viên cũng như khu vực

và thế giới là không thể phủ nhận

Thứ hai: Về nội dung và mức độ hoàn

chỉnh của Tuyên bố Băng Cốc và Hiến

chương ASEAN có sự khác biệt rõ rệt Tuyên

bố Băng Cốc năm 1967 mới chỉ dừng ở mức

độ “khai sinh” ra ASEAN Tuyên bố Băng

Cốc ngoài phần mở đầu chỉ có 5 điểm với nội

dung đề cập tới việc thành lập ASEAN, mục

đích tôn chỉ của Hiệp hội, bộ máy của

ASEAN (2) Để ASEAN vận hành trong suốt

40 năm qua còn có hệ thống các văn bản pháp

lí quốc tế được các thành viên thoả thuận

thông qua vào các thời điểm lịch sử khác

nhau như: Hiệp định thành lập Ban thư kí

ASEAN năm 1976; Hiệp ước hợp tác thân

thiện Đông Nam Á năm 1976; Hiệp định

khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN

năm 1992; Nghị định thư về cơ chế giải quyết

tranh chấp kinh tế của ASEAN năm 1996;

Hiệp định về Đông Nam Á không có vũ khí

hạt nhân Ngoài ra, khi thực hiện chức năng

của mình trong các lĩnh vực ASEAN cũng đã

từng kí kết một số điều ước quốc tế với các

đối tác bên ngoài như: Hiệp định về cơ chế

giải quyết tranh chấp ASEAN - Trung Quốc,

Hiệp định khung về quan hệ đối tác kinh tế

toàn diện ASEAN - Hàn Quốc, Hiệp định

khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN -

Ấn Độ Từ tên gọi của những văn bản pháp

lí quốc tế này có thể thấy đây chính là những

điều ước quốc tế giữa một bên là quốc gia với

một bên là tổ chức quốc tế.(3) Tuy nhiên, đối

với những điều ước quốc tế nói trên, mặc dù

vẫn được gọi là “Hiệp định ASEAN - Hàn

Quốc, Hiệp định ASEAN - Trung Quốc ”

nhưng hình thức kí kết lại không giống với một số điều ước quốc tế mà các tổ chức quốc

tế liên chính phủ khác là một bên kí kết Điển hình như Liên hợp quốc, một số điều ước quốc tế mà Liên hợp quốc là thành viên đều

do một số cơ quan chính của Liên hợp quốc thay mặt tổ chức này kí kết Ví dụ như những điều ước quốc tế mà Hội đồng bảo an kí kết với một số quốc gia thành viên Liên hợp quốc

về việc huy động lực lượng quân đội tham gia các chiến dịch gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế theo quy định của Điều 43 Hiến chương Liên hợp quốc hoặc các điều ước quốc tế mà Hội đồng kinh tế-xã hội kí kết với một số tổ chức quốc tế liên chính phủ như Tổ chức lao động quốc tế, tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc theo quy định của Điều 63 Hiến chương Liên hợp quốc.(4) Cho đến nay, các điều ước quốc tế mà ASEAN đã kí kết với đối tác của mình đều có

sự tham gia kí kết của đại diện các thành viên ASEAN (trong đó có Việt Nam)

Xuất phát từ sự thoả thuận giữa các thành viên, từ vị thế của ASEAN nên mặc

dù cũng đã có một số thành công nhất định nhưng việc thực hiện quyền năng chủ thể luật quốc tế của ASEAN trong thời gian qua còn rất khiêm tốn Như vậy, nếu không có Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 thì không thể

có ASEAN với tư cách là một tổ chức quốc

tế liên chính phủ có tính chất khu vực.(5) Chính vì vậy, phủ nhận giá trị điều ước của Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 là không hợp

lí xét cả ở phương diện lí luận và thực tiễn Tính chất liên chính phủ của ASEAN không phải đến khi Hiến chương ASEAN ra đời mới được xác lập Nhưng để thúc đẩy phát triển hợp tác trong đó có hợp tác về nhân

Trang 3

quyền, về thương mại và đầu tư hướng tới

hoà bình, ổn định và thịnh vượng của

ASEAN và cộng đồng quốc tế thì Tuyên bố

Băng Cốc năm 1967 và những văn kiện hiện

hành là chưa đủ ASEAN cần phải xây dựng

một khuôn khổ pháp lí thống nhất, chặt chẽ

và hiệu quả hơn Hiến chương ASEAN ra

đời chính là để đáp ứng đòi hỏi này Với các

quy định trong Hiến chương, tư cách chủ thể

luật quốc tế, tính chất liên chính phủ của

ASEAN được khẳng định rõ ràng hơn

Hiến chương ASEAN ngoài lời mở đầu

bao gồm 13 chương, 55 điều, không những

“hệ thống hoá” lại nhiều nội dung cơ bản về

nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ cấu tổ

chức trong các văn kiện pháp lí quốc tế

trước năm 2007 mà còn ghi nhận một số quy

định mới trong đó điển hình nhất là vấn đề

thành lập cơ quan nhân quyền được quy định

tại Điều 14 Chương V So với các quy định

tương ứng trong Tuyên bố Băng Cốc và một

số văn kiện khác của ASEAN như Hiệp ước

Bali, Tuyên bố hoà hợp ASEAN… Các mục

tiêu và nguyên tắc hoạt động của ASEAN

trong Hiến chương ASEAN đã được cụ thể

hoá tương đối chi tiết.(6)

Hiến chương quy định những vấn đề

pháp lí về thành viên ASEAN trong Chương

III Nguyên tắc bình đẳng, thoả thuận, tôn

trọng Hiến chương chi phối địa vị pháp lí

của các thành viên ASEAN Trong các điều

kiện kết nạp thành viên mới vào ASEAN,

điều kiện “được tất cả các nước thành viên

ASEAN công nhận” - điều kiện mang tính

chủ quan vẫn tiếp tục được ghi nhận Thẩm

quyền quyết định kết nạp thành viên mới sẽ

do Cấp cao ASEAN quyết định, Hội đồng

điều phối ASEAN sẽ quy định về thủ tục xin

gia nhập và kết nạp

Cơ cấu của ASEAN theo Hiến chương gồm 9 cơ quan, đó là: Cấp cao ASEAN; Hội đồng điều phối ASEAN; các hội đồng cộng đồng ASEAN; các cơ quan chuyên ngành cấp

bộ trưởng ASEAN; Tổng thư kí ASEAN và Ban thư kí ASEAN; Uỷ ban các đại diện thường trực bên cạnh ASEAN; ban thư kí quốc gia ASEAN; Cơ quan nhân quyền ASEAN; Quỹ ASEAN Chức năng, nhiệm vụ cũng như cơ cấu của từng cơ quan đều được quy định cụ thể trong các điều khoản tương ứng của Hiến chương So với quy định về cơ cấu của ASEAN trong các văn kiện hữu quan,

hệ thống các cơ quan của ASEAN cũng như chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan theo Hiến chương đã được kiện toàn đáng kể.(7) Ngoài ra, ASEAN có thể đặt quan hệ với các thể chế có liên quan được liệt kê trong Phụ lục 2 của Hiến chương.(8) Danh sách các thể chế này có thể được cập nhật theo khuyến nghị của Uỷ ban các đại diện thường trực Hiến chương ASEAN với tính chất là cơ

sở pháp lí cho hoạt động của ASEAN - tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực có quyền năng chủ thể luật quốc tế đã dành 1 chương (Chương VI) quy định về vấn

đề ưu đãi và miễn trừ dành cho các cơ quan, các quan chức của ASEAN, các đại diện thường trực của quốc gia thành viên cũng như các quan chức đang thực thi nhiệm vụ của ASEAN Cơ sở pháp lí của các quyền ưu đãi, miễn trừ này được xác định trong thoả thuận giữa ASEAN và nước chủ nhà, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, luật của quốc gia thành viên ASEAN Trong các văn kiện trước đây của ASEAN, vấn đề này hầu như chỉ được quy định trong Hiệp

Trang 4

định thành lập Ban thư kí ASEAN.(9)

Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp, các

quy định trong Hiến chương ASEAN là hoàn

toàn phù hợp với nguyên tắc hoà bình giải

quyết tranh chấp của luật quốc tế theo đó các

bên tranh chấp có nghĩa vụ phải giải quyết

hoà bình mọi tranh chấp quốc tế và có quyền

tự do thoả thuận lựa chọn biện pháp giải

quyết tranh chấp thích hợp Ngoài việc duy trì

các cơ chế giải quyết tranh chấp hiện có trong

các văn kiện của ASEAN như cơ chế giải

quyết tranh chấp trong Nghị định thư Manila

năm 1996, trong Hiệp ước hợp tác thân thiện

Đông Nam Á năm 1976… ASEAN có thể

thiết lập các cơ chế giải quyết tranh chấp phù

hợp trong tất cả các lĩnh vực hợp tác như cơ

chế trọng tài (đối với tranh chấp có liên quan

đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiến chương

hoặc các văn kiện khác của ASEAN) Đối với

tranh chấp vẫn chưa giải quyết được mặc dù

đã áp dụng những điều khoản về giải quyết

tranh chấp của Hiến chương ASEAN thì phải

đưa lên Cấp cao ASEAN Với tư cách là cơ

quan hoạch định chính sách tối cao của Tổ

chức, theo quy định tại Điểm e khoản 2 Điều

7 Hiến chương, Cấp cao ASEAN sẽ được

quyền quyết định

Quan hệ đối ngoại của ASEAN cũng sẽ

tuân thủ các nguyên tắc, mục tiêu được đề ra

trong Hiến chương Việc định hướng chính

sách chiến lược cho quan hệ đối ngoại, triển

khai quan hệ đối ngoại, kí kết điều ước quốc

tế với các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế

được quy định cụ thể tại Chương XII Hiến

chương Theo quy định của khoản 7 Điều 41,

thẩm quyền kí kết điều ước quốc tế của

ASEAN lần đầu tiên được xác định rất rõ

ràng trong Hiến chương Đây cũng chính là một trong những căn cứ khẳng định tư cách chủ thể luật quốc tế của Tổ chức Ngoài ra, Hiến chương cũng có những quy định về quan hệ giữa ASEAN với các tổ chức quốc

tế, các thể chế quốc tế; về vấn đề tiếp nhận đại diện của các tổ chức quốc tế và các quốc gia không phải thành viên được bổ nhiệm bên cạnh ASEAN

Trong những điều khoản cuối cùng của Hiến chương, điều kiện để Hiến chương có hiệu lực, các quy định về sửa đổi, xét lại Hiến chương, giải thích Hiến chương, cơ quan lưu chiểu Hiến chương cũng được quy định rõ Đặc biệt, trong bối cảnh vẫn tiếp tục thừa nhận giá trị hiệu lực của các điều ước quốc tế, các tuyên bố và các văn kiện khác của ASEAN đã có trước Hiến chương, khoản 2 Điều 52 đã khẳng định giá trị ưu tiên của

Hiến chương khi có sự “không nhất quán giữa quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên ASEAN theo các văn kiện nói trên

vi(10) nhưng có thể thấy quy định của Điều 52 Hiến chương ASEAN về cơ bản cũng tương

tự như quy định của Điều 103 Hiến chương

Liên hợp quốc theo đó “trường hợp có sự xung đột giữa những nghĩa vụ của các hội viên Liên hợp quốc chiểu theo Hiến chương

và những nghĩa vụ chiểu theo bất cứ một hiệp định quốc tế nào thì những nghĩa vụ của các hội viên chiểu theo Hiến chương phải được ưu tiên thi hành”

Từ khi Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 ra đời cho đến thời điểm Hiến chương được kí kết, ASEAN cũng đã có không ít các cam kết nhằm kiện toàn thể chế Đặc biệt là sau mỗi

Trang 5

kì Hội nghị thượng đỉnh, ASEAN đều xây

dựng định hướng hợp tác, thông qua các thoả

thuận nhằm tăng cường vai trò và hiệu quả

của hợp tác khu vực đối với các quốc gia

thành viên Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân

khách quan và chủ quan nên một số thành

công mà ASEAN đạt được trong 40 năm tồn

tại ở mức khiêm tốn Trước những biến động

của thế giới và khu vực, ASEAN phải được

tiếp tục hoàn thiện Hiến chương ASEAN ra

đời sẽ có thể đáp ứng được đòi hỏi này Hiện

nay, đối với sự ra đời của Hiến chương có

nhiều cách đánh giá và những bình luận khác

nhau Điển hình như: Hiến chương ASEAN

“mới chỉ hệ thống hoá lại những thoả thuận

và tuyên bố trước đây của ASEAN” ; “thiếu

tính đột phá” ; “thiếu một cơ chế rõ ràng về

giải quyết tranh chấp, trách nhiệm đền

bù”…(11) Tuy chưa thực sự hoàn hảo nhưng

như khẳng định của Thủ tướng Singapore Lý

Hiển Long thì “việc kí kết bản Hiến chương

hôm nay chỉ là bắt đầu của quá trình lâu dài

mang tính liên tục mà tất cả các thành viên

của ASEAN phải cùng tham gia ASEAN cần

thích nghi dần với văn hoá tuân thủ”.(12)

Sau khi Hiến chương được đại diện của

10 quốc gia thành viên kí chính thức vào

ngày 20/11/2007, ngày 7/1/2008, Singapore

đã trở thành thành viên đầu tiên trong

ASEAN chính thức phê chuẩn dự thảo Hiến

chương Tính đến tháng 4/2008, ngoài

Singapore còn có thêm 5 quốc gia là Lào,

Malaysia, Brunei, Việt Nam và Cămpuchia

phê chuẩn Hiến chương.(13) Các nước thành

viên còn lại của ASEAN đều tỏ rõ quyết tâm

sẽ phê chuẩn Hiến chương trước cuối năm

2008 Theo quy định của khoản 4 Điều 47,

Hiến chương ASEAN sẽ có hiệu lực sau 30

ngày, kể từ khi Tổng thư kí ASEAN lưu chiểu văn kiện phê chuẩn thứ 10, cùng với quyết tâm và nỗ lực của các quốc gia thành viên, hi vọng rằng sau khi Hiến chương có hiệu lực, ASEAN sẽ thực sự trở thành một khối thống nhất về mặt pháp lí và khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế./

(1) Thông thường, điều ước quốc tế thành lập tổ chức quốc tế liên chính phủ có tên gọi là “hiến chương”,

“quy chế”, “điều lệ”, “hiệp ước”… Để loại điều ước này phát sinh hiệu lực, các bên kết ước cũng thường

áp dụng thủ tục phê chuẩn

(2) Theo Tuyên bố Băng Cốc, cơ cấu của ASEAN gồm: Hội nghị cấp bộ trưởng; Uỷ ban thường trực; các uỷ ban ad hoc và uỷ ban thường trực; ban thư kí quốc gia ở mỗi nước thành viên.

(3) Trong thực tiễn quốc tế, bên kí kết trong quan hệ điều ước quốc tế không nhất thiết chỉ là một quốc gia hay một chủ thể nhất định của luật quốc tế

(4).Xem: Hiến chương Liên hợp quốc.

(5) Theo luật tổ chức quốc tế, đặc thù của một tổ chức quốc tế liên chính phủ là: Được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế; thành viên là các quốc gia độc lập có chủ quyền; có quyền năng chủ thể luật quốc tế (6) Điều 1 Hiến chương quy định tới 15 mục tiêu hoạt động; Điều 2 Hiến chương ngoài việc khẳng định tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc cơ bản đã nêu trong các văn kiện khác của ASEAN còn ghi nhận 14 nguyên tắc hoạt động của ASEAN

(7).Xem: Điều12, 14, 15 Hiến chương ASEAN (8).Xem: Phụ lục 2 Hiến chương ASEAN

(9).Xem: Hiệp định thành lập Ban thư kí ASEAN (10) Hiến chương ASEAN chỉ đề cập quan hệ giữa các văn bản pháp lí quốc tế của ASEAN với Hiến chương còn Hiến chương Liên hợp quốc đề cập quan

hệ giữa Hiến chương với tất cả các điều ước mà hội viên Liên hợp quốc là thành viên

(11).Xem: http://vietbao - vn/thegioi/phe chuan Hien chuong ASEAN/40230280/159 ngày 21/11/2007 (12).Xem: http://vietbao - vn/thegioi/phe chuan Hien chuong ASEAN/40230280/159 ngày 21/11/2007 (13) Thư phê chuẩn Hiến chương ASEAN của Việt Nam được Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm kí ngày 14/3/2008

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w