1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc

10 540 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 301,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng Số Xuân sớm S Xuân muộn M Chênh lệch M/S tạ/ha Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT e Một số biện pháp chỉ đạo ứng phó với những

Trang 1

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU

ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Lê Hưng Quốc

SUMMARY

Impacts of climate factor on winter-spring rice and solutions for production

in the red river delta region

Up to now, cold and warm weather have still considered as natural disaster for winter-spring rice season in the Red River Delta Region (RRD) Rice in this season only gains optimal yield if and only if the climate is favorable Based on the new cultivated technologies, procedures and available varieties, if farmers move from winter-spring to spring-summer rice, impacts of disadvantage climate on rice production will be diminished

Spring-summer rice will start at the beginning of spring If cold weather still remains after beginning

of spring, farmers can delay transplanting and wait for warm temperature The longer cold weather lasts, the longer rice transplant delays, rice also obtains high yield Spring-summer rice production will eliminate impacts of cold and warm weather on winter-spring rice, move from passive remains

to initiative situation to stabilize spring rice season like other rice seasons in different regions of Vietnam

Rice varieties with short duration from 100 to 105 days which are cultivated in wet season (previous season) with high yield and quality will adapt for spring-summer rice production and favorably create conditions for developing early wet season to expand winter crops with enough four months Spring-summer season will be new cropping pattern with high economic efficiency and sustainability in the Red River Delta Region

Expansion of direct seedling rice areas in spring-summer is approaching to modernization and mechanization of rice production in the Red River Delta and North Coastal Region of Vietnam in coming years

Keywords: Winter - spring rice, climate, Red River delta

I TÌNH HÌNH VỤ SẢN SUẤT LÚA

ĐÔNG XUÂN Ở CÁC TỈNH ĐỒNG

BẰNG SÔNG HỒNG

1 Tóm tắt diễn biến thời tiết vụ đông xuân

Số liệu theo dõi thời tiết 25 năm cho thấy

tính dao động của thời tiết mùa đông miền

Bắc là một quy luật, hầu như không có mùa đông nào giống mùa đông nào, các chỉ số trung bình (TB) chỉ có ý nghĩa tương đối (Bảng 1) Từ số liệu trên cho thấy 60% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng giêng; 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng hai; 10% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng mười hai

Bảng 1 Thời tiết trung bình vụ đông xuân 25 năm qua (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông 1981- 2006)

Tháng

Nhiệt độ (0C/ngày)

TB

Max

Min

24,41 33,90 15,50

21,44 32,50 8,70

17,72 29,40 5,30

16,27 27,60 6,10

17,16 20,80 6,20

19,72 33,10 7,30

23,40 36,10 13,30

26,70 36,80 16,50

28,75 39,30 20,80 Mưa (mm/tháng)

Trang 2

Max

Min

469,90 10,40

586,30 4,00

59,00 0,00

185,00 5,20

115,30 4,70

189,20 9,40

283,00 20,90

255,90 62,20

476,80 43,80 Giờ nắng (giờ/tháng)

TB

Max

Min

152,00 179,70 91.70

133,70 200,40 75,90

125,70 217,40 57,70

69,00 128,50 11,90

42,60 90,00 14,40

48,00 109,50 12,90

91,00 150,60 33,00

172,60 226,40 140,90

167,70 215,50 98,60

Tháng 2, 3 trời ít nắng nhất, có ngày hầu

như không có nắng Những năm rét đậm, rét

muộn, thời tiết âm u cả tháng, có khi hết cả

tháng 4 Số giờ nắng ngược lại với lượng

mây Số giờ nắng là điều kiện cơ bản để đạt

được năng suất lúa cao Trong 15 ngày trước

trỗ và 25 ngày sau trỗ- tổng số 40 ngày cuối

cùng của vụ lúa xuân phải có trên 200 giờ

nắng mới đạt năng suất lúa cao, vì vậy lúa đông xuân phải trỗ từ 1/5 trở đi mới tốt

* Tổng tích ôn hữu hiệu (HH): Là

nhiệt độ trên 100C (giới hạn thấp của mạ) Trong phạm vi dưới 320C/ngày, tốc độ sinh trưởng của mạ tỉ lệ thuận với tích ôn hữu hiệu

Bảng 2 Tổng tích ôn 3 tháng 12 + 1 +2 (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông)

1973 - 1974 =1450oC

1974 - 1975 = 1532oC

1975 - 1976 = 1448oC

1976 - 1977 = 1351oC

1977- 1978 = 1517oC

1978 - 1979 = 1666oC

1979 - 1980 = 1547oC

1980 - 1981 = 1575oC 1981-1982 = 1510oC

1982 - 1983 = 1343oC

1983 - 1984 = 1312oC

1984 - 1985 = 1445oC

1985 - 1986 = 1491oC

1986 - 1987 = 1756oC

1987 - 1988 = 1450oC

1988 - 1989 = 1413oC

1989 - 1990 =1575oC

1990 - 1991 = 1656oC

1991 - 1992 = 1548oC

1992 - 1993 = 1617oC

1993 - 1994 = 1586oC

1994 - 1995 = 1531oC

1995 - 1996 = 1449oC

1996 - 1997 = 1561oC

1997 - 1998 = 1630oC

Tổng tích ôn ba tháng mùa đông (90

ngày) của tháng 12 + 1 + 2 bình quân 25

năm qua là 15120C, năm cao nhất là 17560C

(1986 - 1987) và năm thấp nhất 13120C (1983 - 1984) chênh nhau 4440C trong 90 ngày, bình quân 50C/ngày

Bảng 3 Biến động nhiệt độ bình quân/tuần 25 năm (Trạm Ba La)

Nhiệt độ bình quân10 ngày (°c) So sánh năm ấm và rét Bình quân Tuần max Tuần min 1986/1987 ấm quá

(AQ)

1983/1984 rét đậm (RĐ)

Có thể kể ra một số năm biến động thời tiết ấm và rét như sau:

Trang 3

1973 - 1974 1987 - 1988 1986 - 1987 (AQ) 1997 - 1998

1995 - 1996

2 Tóm tắt diễn biến sản xuất lúa đông

xuân

a) Diễn biễn năng suất: 10 năm

(1960-1970): Vụ lúa đông xuân miền Bắc chiếm

đại bộ phận là lúa chiêm, năng suất trung

bình là 20 tạ/ha, biến động từ khoảng 13,61

tạ đến trên 20 tạ/ha

- Từ 1970 có thể coi là năm chuyển

mùa Năm 1971 lúa xuân chiếm ưu thế,

năng suất đều trên 20 tạ/ha, năng suất trung

bình 1970 - 1980 đạt 27,33 tạ/ha

Từ 1985 năng suất trung bình đạt 31,9 tạ/ha

Thái Bình 42 tạ/ha, Hải Hưng 38 tạ/ha, Hải Hậu

48 tạ/ha, Đan Phượng 55 tạ/ha HTX Vũ Thắng

70 tạ/ha; HTX Xuân Phương 80 tạ/ha

- Những năm 1990: NSTB đạt 53,40 tạ/ha;

những năm 2000: NSTB đạt 60,07 tạ/ha

- Từ những năm 1982 trở đi, ngoài

ảnh hưởng của thời tiết và các yếu tố

giống, kỹ thuật, còn có tác dụng quyết

định của "chế độ khoán sản phNm đến

nhóm và người lao động" nên năng suất

lúa chiêm và lúa xuân đều tăng, riêng lúa

xuân tăng nhiều hơn lúa chiêm

b) Quy luật năng suất lúa đông xuân

trong mối tương quan với thời tiết được

tổng kết là:

- N ăm rét đậm: Được mùa

- N ăm rét bình thường: Bội thu

- N ăm ấm: N ăng suất lúa đông xuân

không cao

c) Diễn biến sản xuất về giống lúa, trà

lúa đông xuân

Từ bộ giống lúa, bố trí các trà gieo mạ,

hình thành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ

vào 25/4 đến 10/5 Xuân sớm: Gieo mạ tháng 11; xuân chính vụ: Gieo mạ tháng 12; xuân muộn: Gieo mạ cuối tháng 1 đầu tháng 2

- Giai đoạn trước 1990: Thời gian này

có giống N N 8 năng suất cao, có ưu thế trong trà xuân chính vụ, có một số giống dài ngày năng suất khá ổn định nên cơ cấu chỉ đạo là:

+ Xuân sớm 30 - 35% diện tích (DT); xuân chính vụ 50 - 55% DT; xuân muộn 10

- 20% DT + Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10, DT10, N N 8, Xi12, CR203

- Giai đoạn trước 2000: Thời gian này

có giống CR203 (IR8423) thích ứng rộng, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp với trà xuân muộn nên cơ cấu chỉ đạo là:

+ Xuân sớm 30 - 35% DT; xuân chính

vụ 15 - 20% DT;- Xuân muộn 45 - 65% DT + Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10, DT10, CR203; Q5, Khang dân, lúa lai

- Giai đoạn 2000 đến nay: Giống Khang dân, Q5 là chủ lực, các giống lúa lai ngắn ngày, năng suất cao như N hị, Bồi tạp, các giống chất lượng cao như Bắc thơm,

HT, LT phát triển rộng nên cơ cấu chỉ đạo là: Giảm hẳn xuân chính vụ, xuân sớm; tăng tối đa trà xuân muộn

N hư vậy: Xuân chính vụ từ 55 - 60% diện tích đến nay giảm không còn đáng kể; xuân sớm từ 30 - 40% diện tích đến nay giảm nhiều, chỉ còn ở một số tỉnh có chân đất lúa trũng như Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc cấy với tỷ lệ 10 - 15% diện tích; xuân muộn từ 10 - 20% DT tăng lên 80 - 90% DT

Trang 4

Bảng 4 Cơ cấu các trà lúa xuân hiện nay (%)

(Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT)

Bộ giống lúa đông xuân khá phong phú,

có 20 giống lúa đạt năng suất bình quân

trên 60 tạ/ha chủ yếu là các giống ngắn

ngày như KD 18, Q5

d) Diễn biến năng suất lúa xuân

Trong 40 năm qua năng suất lúa đồng

bằng sông Hồng tăng nhanh từ 13,3 tạ/ha

lên 62,9 tạ/ha năm 2004 Trong 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng thì có 9 tỉnh năng suất trà xuân muộn cao hơn trà xuân sớm Tỉnh Ninh Bình, xuân muộn cao hơn xuân sớm 12,1 tạ/ha, tỉnh Nam Định, Vĩnh Phúc chênh lệch 9 tạ/ha

Bảng 5 Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Số

Xuân sớm (S) Xuân muộn (M) Chênh lệch M/S

(tạ/ha)

(Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT)

e) Một số biện pháp chỉ đạo ứng phó với

những năm thời tiết ấm và rét bất thường

1) Năm rét đậm:

- Những năm sáu mươi, quy trình sản

xuất đề ra gieo mạ xung quanh đại hàn và

cấy cuối tháng 2 đầu tháng 3 (đây là thời vụ

lý thuyết đạt năng suất cao) và đề ra giải pháp ủ thúc mầm mạ xuân Quy trình này gây ra sự lãng phí nhiên liệu (thúc mầm) và mất thóc giống, cấy đi cấy lại nhiều lần, hệ

số mạ - cấy chỉ 2 - 3 Sau 1968, quy trình mới đề ra gieo NN8 vào đầu tháng 12, thay

Trang 5

biện pháp ủ thúc mầm bằng ủ đống tạo ra

sự "chuyển trà" vào năm 1970/1971

Thời vụ gieo mạ các giống dài ngày từ

1 - 20/12 Không gieo vào cuối tháng 11 như

trước Thời vụ gieo mạ các giống ngắn ngày

từ 20/1 đến xung quanh 5/2 (lập xuân)

Che phủ nilon cho mạ: 1 kg nilon mỏng

khổ 2,2 m dài 30 m, diện tích 66 m2, che

được 46 m2 mạ, giá thành cho 1 m2 mạ

khoảng 500 - 700 đồng (kể cả khung), 1 sào

cấy cần 10 m2 mạ chi phí thêm 5000 đồng,

công lao động 5000 đ Vì vậy với lúa lai chi

phí thêm 7000 - 10.000 đ, tiết kiệm 1 kg

giống giá 20.000 đồng, cấy sớm được 10

ngày Với giống thuần chi phí thêm 15.000

đồng tiết kiệm được 3 - 4 kg thóc giống trị

giá 20 - 25.000 đồng, cấy sớm được 10

ngày Chất lượng mạ tốt hơn hẳn mạ không

che phủ nilon

- Cấy mạ non, tuổi mạ cấy không quá

5 lá

+ Cách tính: Lá 1 là lá nhỏ, chỉ dài 1 cm

(ở rìa luống mạ) Sau đó tính tương quan lá

mạ còn xanh trên cây mạ đó với cây mạ ở

giữa luống Tuổi mạ tính từ lá thứ 1 đến lá

trên cùng, nếu lá trên cùng bằng bao nhiêu

phần 10 lá thứ 2 từ trên xuống thì tính phần

lẻ ấy, thí dụ 4,5 lá; 5,5 lá

+ Tuổi mạ tính theo lá không quá 40%

tổng số lá của giống đó Ví dụ: DT 10 có 18

lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 7,2 lá; Q5

có 13 lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 5,2

lá; KD18 có 12 lá thì tuổi mạ cao nhất

không quá 4,8 lá Cấy mạ già chức năng

sinh lý bị đảo lộn dù có tăng mức chăm bón

vẫn không đạt năng suất cao, hiệu quả thấp

+ Mật độ cấy: Hàng sông 20 cm Hàng

con tùy loại đất, giống có thể cấy 10, 11, 12,

13, 14, 15 cm để có mật độ cấy xung quanh

40 - 45 khóm/m2 Cấy 2 - 3 dảnh/khóm,

không quá 4 dảnh/khóm

- Lộ ruộng là TBKT nâng ruộng lúa

bình thường thành ruộng cao sản

Khi lúa đẻ đủ số nhánh khoảng 300 -

350 nhánh/m2 là tiêu nước lộ ruộng Để lộ ruộng đất nẻ chân chim, rắn bùn, mặt đất có

rễ trắng xuất hiện Khi lúa có đòng non tưới ngập nước trở lại và bón thúc kali Khi lúa vào chắc, tiêu hết nước phòng mưa úng Thời kỳ lúa có đòng dài 10 cm là cần nước nhất, tuyệt đối không để lúa bị hạn Thời kỳ lúa trổ cần giữ lớp nước sâu 10 cm để khắc phục thời tiết bất thuận (gió Đông Bắc muộn, gió nóng sớm, có lớp nước đệm) 2) Năm ấm và rất ấm:

Những năm 1978 - 1979; 1986 - 1987;

1990 - 1991; 1992 - 1993; 2006 - 2007 là những năm ấm khác thường

- Biện pháp chỉ đạo thành công:

+ Làm lúa tái sinh: Khi lúa trổ gặp rét,

bị lép nhiều, cắt bỏ 2/3 cây lúa (chừa 30 cm) giữ nước ruộng lúa không cho trâu bò vào ruộng, bón thêm 2 - 3 kg đạm/sào, 5 kg lân

và 1 kg kali cuối vụ Sau 60 ngày có thể thu

30 - 40 tạ/ha Trong mỗi nách lá đều có mầm nhánh ở dạng ngủ, kích thích mầm ngủ

"thức" dậy sẽ có nhánh lúa trổ như mạ non tạo ruộng lúa trẻ Bón thêm N tạo tỷ lệ C/N thấp, để bật nhánh ngủ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm đã phổ biến quy trình này, nâng lên thành quy trình thâm canh lúa tái sinh vụ xuân cho năm trỗ sớm gặp rét và áp dụng ở vùng trũng bỏ hóa vụ mùa (điển hình Nho Quan, Gia Viễn) và vụ thu đông ở đồng bằng sông Cửu Long (không cấy vụ 3 khi lũ về) biện pháp này gọi là "bỏ mẹ bắt con" + Biện pháp phân loại các trà mạ, trà lúa để có biện pháp chăm sóc đặc biệt: Bao gồm: Kỹ thuật hãm mạ chưa cấy vội, chăm bón thêm phân cho mạ bị già khi

đã cấy, giữ nước không để ruộng bị hạn, lùi thời vụ gieo cấy v.v

Nói chung những năm ấm, nên lùi thời

vụ gieo mạ lại 10 - 15 ngày (nếu thời tiết tháng 11, 12, 1 đều ấm) hãm mạ và giữ nước, phân loại các trà lúa, bón thêm phân (bằng khoảng 20 - 30% tổng lượng phân

Trang 6

bón bình thường) đều có tác dụng giảm đỡ

việc giảm năng suất lúa xuân

- Biện pháp chỉ đạo không thành công:

+ Nhổ lúa cấy lại: Biện pháp này Hà

Nội áp dụng đầu tiên năm 1986 - 1987 và

1990 - 1991 Về lý thuyết thì có thể được

nhưng trong thực tiễn áp dụng trên hàng

vạn hecta rất khó vì các hộ chăm bón, gieo

cấy, điều khiển nước khác nhau dẫn tới

ruộng cấy lại không bằng ruộng không nhổ

bỏ đi và tích cực chăm bón vì lúa tiếp tục

đẻ và trỗ các nhánh sau gặp thời tiết ấm, đủ

ánh sáng vẫn cho năng suất khá

Nói chung việc khắc phục giảm thiệt

hại năng suất lúa xuân năm ấm là bất khả

kháng vì bản chất các giống lúa ngắn ngày

phụ thuộc tổng tích ôn và tích ôn hữu hiệu,

khó có thể có giải pháp hiệu quả cho hàng

trăm ngàn hecta Cách tốt nhất là chuyển

sang làm vụ lúa xuân hè, bỏ hẳn các trà lúa

dễ bị ảnh hưởng của mùa đông hanh khô và

ngay cả mùa đông lạnh Nm

II N HỮN G GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO

SẢN XUẤT ỔN ĐNN H VÀ TĂN G N ĂN G

SUẤT LÚA ĐÔN G XUÂN Ở VÙN G

ĐỒN G BẰN G SÔN G HỒN G:

1 Giải pháp tổng thể là chuyển sang sản

xuất vụ lúa xuân hè

Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng

châu thổ phù sa cổ có điều kiện và lợi thế

cạnh tranh sản xuất lúa thứ hai của nước ta

(thuỷ lợi tốt, dân trí cao, truyền thống văn

minh lúa nước lâu đời) sau đồng bằng sông

Cửu Long (ở ĐBSCL diện tích rộng, phù sa

bồi hàng năm, giá thành rẻ, thời tiết thuận

lợi quanh năm)

Sau nhiều năm vùng ĐBSH đã chuyển

từ vụ lúa chiêm có nhiều hạn chế (dài ngày,

năng suất thấp, nhiều sâu bệnh ) sang lúa

xuân với ba cột mốc thời gian là: Trà lúa

xuân chính vụ từ 1968; trà lúa xuân sớm từ 1985; Trà lúa xuân muộn từ 1995

Sau hai mươi năm, tỷ lệ trà xuân muộn

từ 10 - 20% diện tích đã tăng lên 80-90% diện tích Điều đó đã khẳng định quy luật phủ định của phủ định: Lúa xuân đã thay thế lúa chiêm Lúa xuân hè đã và sẽ thay thế lúa xuân chính vụ và xuân sớm Đó là con đường đúng đắn để ổn định và tăng năng suất lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng

a) Để ổn định: Vì những năm biến động

thời tiết, việc giảm năng suất sản lượng lúa ở đồng bằng sông Hồng từ 500.000 tấn đến 1 triệu tấn thóc là bình thường như các năm

1978 - 1979, 1986 - 1987; 1990 - 1991; 1992

- 1993; 2006 - 2007 v.v

b) Để tăng năng suất và hạ giá thành:

Vùng đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa cao nhất cả nước

Tuy nhiên, các vùng khác không có rét hoặc ít ảnh hưởng của rét mà lúa vẫn đạt năng suất cao, khoảng cách năng suất với đồng bằng sông Hồng ngắn lại dần, thậm chí như Tây Bắc đã có năng suất cao hơn đồng bằng sông Hồng Mặt khác giá thành lúa ở đồng bằng sông Hồng lại cao hơn các vùng khác Việc chuyển sang vụ lúa xuân

hè là vụ lúa có diễn biến thời tiết tương tự các vùng lúa khác sẽ là yếu tố đảm bảo đồng bằng sông Hồng tiếp tục dẫn đầu về năng suất lúa và hạ giá thành lúa (năng suất lúa có thể đạt 6 tấn - 6,5 tấn/ha như các nước xung quanh)

2 Bước đi

Do địa hình đất lúa đồng bằng sông Hồng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đất có nhiều dạng hình và tập quán lâu đời của mỗi địa phương nên định hướng chuyển đổi như sau: Các tỉnh phía Bắc và phía Tây gồm Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh chuyển làm toàn bộ lúa xuân hè với các giống lúa thuần ngắn ngày, năng

Trang 7

suất cao, chất lượng cao; các tỉnh phía Nam

sông Hồng gồm Hà Nam, Nam Định, Ninh

Bình chuyển làm toàn bộ lúa xuân hè với

các giống lúa thuần ngắn ngày, năng suất

cao, chất lượng cao và lúa lai; các tỉnh còn

lại gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng,

Thái Bình chuyển mạnh sang lúa xuân hè,

giảm dần lúa xuân sớm, với giống thuần,

giống lai ngắn ngày, năng suất cao, chất

lượng cao, từng bước xây dựng hệ thống lúa -

thủy sản trên đất trũng

3 Một số công nghệ thâm canh mới ở đồng bằng sông Hồng

a) Chuyển dịch giống lúa

- Tỷ lệ phổ cập giống đạt tiêu chuNn xác nhận phải đạt trên 90% DTSX; phấn đấu 5 - 7 năm thay một đời giống chủ yếu dùng giống ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng cao; mỗi lần thay giống mới, năng suất phải tăng 8 - 10% so giống cũ

Bảng 6 Mười giống lúa có diện tích lớn vụ đông xuân 2004 ở đồng bằng sông Hồng

So với 5 năm trước đó đã loại bỏ các

giống: C70, Khâm dục, Ải 32, Nhị ưu 63,

Sán ưu 63 Vùng ĐBSH đất chật, người

đông, có trình độ thâm canh lúa cao nhất cả

nước, cần phải dẫn đầu 3 vấn đề về giống

lúa trên đây

b) Chuyển dịch trà lúa, chuyển dịch vụ lúa

Trước đây, quen gọi trà xuân sớm, xuân

chính vụ (xuân trung) và xuân muộn là theo

thời gian gieo mạ Khi trà xuân muộn đã

chiếm tỉ lệ 60 - 80% DT vụ đông xuân, năm

2004 - 2005 Cục Nông nghiệp đề xuất gọi

là vụ lúa xuân hè Đến nay tỉ lệ trà lúa xuân

muộn đã chiếm tỉ lệ 85% DT, trà lúa xuân

sớm, xuân chính vụ chỉ còn 15% DT, thì có

thể chính thức đề nghị gọi là vụ lúa xuân hè (gieo tháng 2 gặt tháng 6) như các vụ lúa hè thu, thu đông ở các tỉnh miền Trung, miền Nam đang gọi Với các giống ngắn ngày, thời vụ của vụ lúa xuân hè bắt đầu xung quanh tiết lập xuân vì từ tiết đông chí (22/12) đến lập xuân (5/2) có đến 30 - 40%

số năm gặp rét đậm, rét hại Vì vậy nên gieo mạ từ sau tiết đại hàn (20/1) đến tiết lập xuân (5/2) - cây chỉ thị là xoan "chân chó" (xem cây xoan đã 5 - 7 tuổi và trên 50% số cây xoan nNy lộc, nhìn cây xoan ở chỗ trống) N gày nay việc sản xuất nằm gọn trong quy mô hộ, thời vụ chỉ cấy trong 5 - 7 ngày nên không phải vội vàng cấy sớm

c) Mạ non

Trang 8

Tuổi mạ cấy tính theo lá, từ 3 - 5 lá

N ếu trên 5 lá phải đẻ nhánh, có 2 - 3 ngạnh

trê (quy trình thâm canh của Trung Quốc

coi tiêu chuNn mạ là ngạnh trê) Xúc cấy,

gieo thẳng (sau 10/2) Tác dụng: Lúa đẻ

nhánh sớm, đẻ từ các mắt đầu tiên, các

bông trong khóm đều nhau, tăng số hạt trên

bông, chống rét muộn tốt

Mở rộng phương thức gieo thẳng lúa để

tiến tới cơ giới hóa toàn bộ ngành sản xuất

lúa ở ĐBSH Tác dụng: Giảm giá thành,

giảm lượng giống lúa, giảm tổn thất sau thu

họach Thực hiện quy trình 3 G, 3 T

d) Lộ ruộng

- Tiêu hết nước, lộ mặt ruộng đến nứt

chân xuất hiện rễ trắng trên mặt ruộng,

giẫm vào đất lún nhưng không dính bùn

Thời gian: Sau khi lúa đẻ nhánh hữu hiệu

đến khi lúa có đòng 2 - 3 cm (lúa xuân sau

cấy 25 - 35 ngày) Tác dụng: Lúa đẻ vô

hiệu ít, rễ lúa ăn sâu huy động thức ăn

nhiều cho giai đoạn sau (lúa tốt hai, khoai

tốt một) Các đốt phía dưới ngắn, dầy, bông

lúa to nhiều hạt, cây lúa thấp, lá dầy, cứng,

chống đổ, sạch sâu bệnh

e) Mật độ

Cấy 35 - 50 khóm/m2, 2 - 3 dảnh/khóm

(Quy trình thâm canh lúa của Trung Quốc ở

N am Định, Hưng Yên khoảng 50 khóm/m2)

ở ĐBSH nói chung nên đảm bảo cấy, gieo

thẳng khoảng 40 - 45 khóm/m2 là tốt nhất,

tăng hơn so với trước đây khoảng 5 - 7

khóm/m2

f) Phân bón

- Coi kali là nhân tố hạn chế Tỷ lệ N /K

nên đảm bảo 1/1

g) Áp dụng công nghệ sản xuất lúa an

toàn, hữu cơ

- Công nghệ 3 G 3T, IPM, ICM

- Công nghệ GAP lúa cho các giống lúa đặc sản, giống lúa chất lượng cao (Ví dụ như vùng lúa gạo xuất khNu cho N hật Bản, vùng lúa Tám, vùng lúa Cốm, vùng nếp Hoa vàng chế biến thực phNm, vùng gạo chế biến thực phNm )

4 Sản xuất lúa hàng hóa ở đồng bằng sông Hồng

Trong tương lai, vùng ĐBSH sẽ có 2 - 3 triệu tấn thóc hàng hóa vì năng suất lúa tiếp tục tăng, lượng gạo ăn/người giảm, lượng giống và thóc cho thức ăn chăn nuôi giảm

- Để tăng thu nhập cho nông dân, cần làm: Tăng nhóm giống lúa chất lượng; tăng năng suất ở nhóm giống năng suất cao; tăng thu nhập trên ruộng lúa như nuôi thêm thủy sản, thu nhập thêm phế phụ phNm rơm rạ, tăng vụ đông

N hư vậy cần tập trung chọn tạo 3 nhóm giống lúa phục vụ sản xuất hàng hóa: Lúa lai 8 tấn/ha/vụ; lúa thuần 7 tấn/ha/vụ; lúa thơm 6 tấn/ha/vụ

Bố trí theo chân đất lúa: Đất vàn, vàn cao khoảng 60 - 65% DT cấy giống năng suất cao, chất lượng khá; đất vàn thấp, trũng khoảng 35 - 40% DT cấy giống chất lượng cao, năng suất khá

Do diện tích lúa ở đồng bằng sông Hồng thấp, sản xuất lúa hàng hóa ở đây phục vụ nhu cầu của hộ nông dân: Vụ xuân: Đủ lương thực để ăn; vụ mùa: Có lúa chất lượng cao để bán phục vụ chi tiêu; vụ đông: Có sản phNm hàng hóa để bán phục vụ tích lũy III KẾT LUẬN

Căn cứ để chuyển dịch các trà lúa đông xuân ở vùng ĐBSH là xuất phát từ bộ giống lúa ngắn ngày năng suất cao

Cho đến nay, rét và ấm vẫn được coi là thiên tai phải khắc phục với lúa vụ đông

Trang 9

xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng Chỉ

những năm bình thường năng suất lúa xuân

mới đạt năng suất cao nhất Với quy trình

mới, công nghệ mới, giống mới, nếu

chuyển sang vụ lúa xuân hè, chúng ta sẽ

giảm thiểu sự ảnh hưởng bất lợi của rét, ấm

Tổ chức sản xuất vụ lúa xuân hè mở

đầu là gieo mạ xung quanh tiết lập xuân

(năm bình thường không rét, không ấm) lấy

cây xoan "chân chó" là cây chỉ thị thì độ

chính xác tương đối cao, ngoại lệ không

nhiều N ếu rét còn kéo dài sau lập xuân, ta

cấy muộn lại, đợi ấm mới cấy Rét thêm

bao nhiêu, cấy muộn lại bấy nhiêu, vẫn đạt

năng suất cao Cường độ bức xạ các tháng

5, 6, 7 ở ĐBSH, dù rét hay ấm hoặc bình

thường đều có khả năng cho năng suất lúa

xuân cao (độ bức xạ trung bình của đài

Láng - Hà N ội là 12,0; 12,8; 14,0; kilô

calo/cm2/tháng và số giờ nắng là 189; 160;

195 giờ/tháng)

Tổ chức sản xuất vụ lúa xuân hè sẽ loại

trừ ảnh hưởng của ấm và rét với lúa đông

xuân, chuyển từ thế bị động sang thế chủ

động, ổn định vụ lúa xuân giống như điều

khiển các vụ lúa khác ở các vùng của nước ta

Bộ giống lúa có thời gian sinh trưởng

100 - 105 ngày trong vụ mùa có năng suất

cao, chất lượng cao sẽ phù hợp với vụ lúa

xuân hè và là điều kiện cho vụ lúa mùa

sớm, mở rộng vụ đông dài đủ 4 tháng, là hệ

thống nông nghiệp mới có hiệu quả cao, ổn

định, bền vững ở đồng bằng sông Hồng

Mở rộng diện tích lúa gieo thẳng trong

vụ xuân hè là tiến tới phương thức sản xuất

lúa cơ giới hoá, hiện đại ở vùng đồng bằng

sông Hồng và Bắc Trung bộ trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Số liệu Trạm khí tượng Ba La - Tp Hà

Đông 25 năm (1981 2006) và (1973

-1998)

2 Số liệu Trạm khí tượng Láng - Tp Hà Nội

3 Báo cáo chỉ đạo sản xuất Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, Cục Nông nghiệp, Cục Trồng trọt vụ đông xuân các năm

1997 - 2006

4 Báo cáo sản xuất vụ đông xuân Sở NN -PTNT Hà Tây các năm 1991 - 1997

5 Lê Hưng Quốc, 2005 Xây dựng cơ cấu

sản xuất tiên tiến trong nông nghiệp NXB Nông nghiệp

6 Bùi Huy Đáp, 1987 Lúa xuân năm rét

đậm NXB Nông nghiệp

Dgười phản biện: Dguyễn Văn Viết

Trang 10

T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam

10

Ngày đăng: 09/03/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thời tiết trung bình vụ đông xuân 25 năm qua   (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông 1981- 2006) - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 1. Thời tiết trung bình vụ đông xuân 25 năm qua (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông 1981- 2006) (Trang 1)
Bảng 3. Biến động nhiệt độ bình quân/tuần 25 năm (Trạm Ba La) - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 3. Biến động nhiệt độ bình quân/tuần 25 năm (Trạm Ba La) (Trang 2)
Bảng 2. Tổng tích ôn 3 tháng 12 + 1 +2 (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông) - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 2. Tổng tích ôn 3 tháng 12 + 1 +2 (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông) (Trang 2)
Hình thành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Hình th ành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ (Trang 3)
Bảng 4. Cơ cấu các trà lúa xuân hiện nay (%) - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 4. Cơ cấu các trà lúa xuân hiện nay (%) (Trang 4)
Bảng 5. Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 5. Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Trang 4)
Bảng 6. Mười giống lúa có diện tích lớn vụ đông xuân 2004 ở đồng bằng sông Hồng - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG doc
Bảng 6. Mười giống lúa có diện tích lớn vụ đông xuân 2004 ở đồng bằng sông Hồng (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w