Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng Số Xuân sớm S Xuân muộn M Chênh lệch M/S tạ/ha Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT e Một số biện pháp chỉ đạo ứng phó với những
Trang 1MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ THỜI TIẾT KHÍ HẬU
ĐỂ SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SẢN XUẤT LÚA ĐÔNG XUÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Lê Hưng Quốc
SUMMARY
Impacts of climate factor on winter-spring rice and solutions for production
in the red river delta region
Up to now, cold and warm weather have still considered as natural disaster for winter-spring rice season in the Red River Delta Region (RRD) Rice in this season only gains optimal yield if and only if the climate is favorable Based on the new cultivated technologies, procedures and available varieties, if farmers move from winter-spring to spring-summer rice, impacts of disadvantage climate on rice production will be diminished
Spring-summer rice will start at the beginning of spring If cold weather still remains after beginning
of spring, farmers can delay transplanting and wait for warm temperature The longer cold weather lasts, the longer rice transplant delays, rice also obtains high yield Spring-summer rice production will eliminate impacts of cold and warm weather on winter-spring rice, move from passive remains
to initiative situation to stabilize spring rice season like other rice seasons in different regions of Vietnam
Rice varieties with short duration from 100 to 105 days which are cultivated in wet season (previous season) with high yield and quality will adapt for spring-summer rice production and favorably create conditions for developing early wet season to expand winter crops with enough four months Spring-summer season will be new cropping pattern with high economic efficiency and sustainability in the Red River Delta Region
Expansion of direct seedling rice areas in spring-summer is approaching to modernization and mechanization of rice production in the Red River Delta and North Coastal Region of Vietnam in coming years
Keywords: Winter - spring rice, climate, Red River delta
I TÌNH HÌNH VỤ SẢN SUẤT LÚA
ĐÔNG XUÂN Ở CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG
1 Tóm tắt diễn biến thời tiết vụ đông xuân
Số liệu theo dõi thời tiết 25 năm cho thấy
tính dao động của thời tiết mùa đông miền
Bắc là một quy luật, hầu như không có mùa đông nào giống mùa đông nào, các chỉ số trung bình (TB) chỉ có ý nghĩa tương đối (Bảng 1) Từ số liệu trên cho thấy 60% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng giêng; 30% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng hai; 10% tháng lạnh nhất tập trung vào tháng mười hai
Bảng 1 Thời tiết trung bình vụ đông xuân 25 năm qua (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông 1981- 2006)
Tháng
Nhiệt độ (0C/ngày)
TB
Max
Min
24,41 33,90 15,50
21,44 32,50 8,70
17,72 29,40 5,30
16,27 27,60 6,10
17,16 20,80 6,20
19,72 33,10 7,30
23,40 36,10 13,30
26,70 36,80 16,50
28,75 39,30 20,80 Mưa (mm/tháng)
Trang 2Max
Min
469,90 10,40
586,30 4,00
59,00 0,00
185,00 5,20
115,30 4,70
189,20 9,40
283,00 20,90
255,90 62,20
476,80 43,80 Giờ nắng (giờ/tháng)
TB
Max
Min
152,00 179,70 91.70
133,70 200,40 75,90
125,70 217,40 57,70
69,00 128,50 11,90
42,60 90,00 14,40
48,00 109,50 12,90
91,00 150,60 33,00
172,60 226,40 140,90
167,70 215,50 98,60
Tháng 2, 3 trời ít nắng nhất, có ngày hầu
như không có nắng Những năm rét đậm, rét
muộn, thời tiết âm u cả tháng, có khi hết cả
tháng 4 Số giờ nắng ngược lại với lượng
mây Số giờ nắng là điều kiện cơ bản để đạt
được năng suất lúa cao Trong 15 ngày trước
trỗ và 25 ngày sau trỗ- tổng số 40 ngày cuối
cùng của vụ lúa xuân phải có trên 200 giờ
nắng mới đạt năng suất lúa cao, vì vậy lúa đông xuân phải trỗ từ 1/5 trở đi mới tốt
* Tổng tích ôn hữu hiệu (HH): Là
nhiệt độ trên 100C (giới hạn thấp của mạ) Trong phạm vi dưới 320C/ngày, tốc độ sinh trưởng của mạ tỉ lệ thuận với tích ôn hữu hiệu
Bảng 2 Tổng tích ôn 3 tháng 12 + 1 +2 (Số liệu Trạm Ba La - Hà Đông)
1973 - 1974 =1450oC
1974 - 1975 = 1532oC
1975 - 1976 = 1448oC
1976 - 1977 = 1351oC
1977- 1978 = 1517oC
1978 - 1979 = 1666oC
1979 - 1980 = 1547oC
1980 - 1981 = 1575oC 1981-1982 = 1510oC
1982 - 1983 = 1343oC
1983 - 1984 = 1312oC
1984 - 1985 = 1445oC
1985 - 1986 = 1491oC
1986 - 1987 = 1756oC
1987 - 1988 = 1450oC
1988 - 1989 = 1413oC
1989 - 1990 =1575oC
1990 - 1991 = 1656oC
1991 - 1992 = 1548oC
1992 - 1993 = 1617oC
1993 - 1994 = 1586oC
1994 - 1995 = 1531oC
1995 - 1996 = 1449oC
1996 - 1997 = 1561oC
1997 - 1998 = 1630oC
Tổng tích ôn ba tháng mùa đông (90
ngày) của tháng 12 + 1 + 2 bình quân 25
năm qua là 15120C, năm cao nhất là 17560C
(1986 - 1987) và năm thấp nhất 13120C (1983 - 1984) chênh nhau 4440C trong 90 ngày, bình quân 50C/ngày
Bảng 3 Biến động nhiệt độ bình quân/tuần 25 năm (Trạm Ba La)
Nhiệt độ bình quân10 ngày (°c) So sánh năm ấm và rét Bình quân Tuần max Tuần min 1986/1987 ấm quá
(AQ)
1983/1984 rét đậm (RĐ)
Có thể kể ra một số năm biến động thời tiết ấm và rét như sau:
Trang 31973 - 1974 1987 - 1988 1986 - 1987 (AQ) 1997 - 1998
1995 - 1996
2 Tóm tắt diễn biến sản xuất lúa đông
xuân
a) Diễn biễn năng suất: 10 năm
(1960-1970): Vụ lúa đông xuân miền Bắc chiếm
đại bộ phận là lúa chiêm, năng suất trung
bình là 20 tạ/ha, biến động từ khoảng 13,61
tạ đến trên 20 tạ/ha
- Từ 1970 có thể coi là năm chuyển
mùa Năm 1971 lúa xuân chiếm ưu thế,
năng suất đều trên 20 tạ/ha, năng suất trung
bình 1970 - 1980 đạt 27,33 tạ/ha
Từ 1985 năng suất trung bình đạt 31,9 tạ/ha
Thái Bình 42 tạ/ha, Hải Hưng 38 tạ/ha, Hải Hậu
48 tạ/ha, Đan Phượng 55 tạ/ha HTX Vũ Thắng
70 tạ/ha; HTX Xuân Phương 80 tạ/ha
- Những năm 1990: NSTB đạt 53,40 tạ/ha;
những năm 2000: NSTB đạt 60,07 tạ/ha
- Từ những năm 1982 trở đi, ngoài
ảnh hưởng của thời tiết và các yếu tố
giống, kỹ thuật, còn có tác dụng quyết
định của "chế độ khoán sản phNm đến
nhóm và người lao động" nên năng suất
lúa chiêm và lúa xuân đều tăng, riêng lúa
xuân tăng nhiều hơn lúa chiêm
b) Quy luật năng suất lúa đông xuân
trong mối tương quan với thời tiết được
tổng kết là:
- N ăm rét đậm: Được mùa
- N ăm rét bình thường: Bội thu
- N ăm ấm: N ăng suất lúa đông xuân
không cao
c) Diễn biến sản xuất về giống lúa, trà
lúa đông xuân
Từ bộ giống lúa, bố trí các trà gieo mạ,
hình thành các trà lúa để điều khiển lúa trỗ
vào 25/4 đến 10/5 Xuân sớm: Gieo mạ tháng 11; xuân chính vụ: Gieo mạ tháng 12; xuân muộn: Gieo mạ cuối tháng 1 đầu tháng 2
- Giai đoạn trước 1990: Thời gian này
có giống N N 8 năng suất cao, có ưu thế trong trà xuân chính vụ, có một số giống dài ngày năng suất khá ổn định nên cơ cấu chỉ đạo là:
+ Xuân sớm 30 - 35% diện tích (DT); xuân chính vụ 50 - 55% DT; xuân muộn 10
- 20% DT + Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10, DT10, N N 8, Xi12, CR203
- Giai đoạn trước 2000: Thời gian này
có giống CR203 (IR8423) thích ứng rộng, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp với trà xuân muộn nên cơ cấu chỉ đạo là:
+ Xuân sớm 30 - 35% DT; xuân chính
vụ 15 - 20% DT;- Xuân muộn 45 - 65% DT + Các giống chủ lực là: 13/2, VN 10, DT10, CR203; Q5, Khang dân, lúa lai
- Giai đoạn 2000 đến nay: Giống Khang dân, Q5 là chủ lực, các giống lúa lai ngắn ngày, năng suất cao như N hị, Bồi tạp, các giống chất lượng cao như Bắc thơm,
HT, LT phát triển rộng nên cơ cấu chỉ đạo là: Giảm hẳn xuân chính vụ, xuân sớm; tăng tối đa trà xuân muộn
N hư vậy: Xuân chính vụ từ 55 - 60% diện tích đến nay giảm không còn đáng kể; xuân sớm từ 30 - 40% diện tích đến nay giảm nhiều, chỉ còn ở một số tỉnh có chân đất lúa trũng như Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc cấy với tỷ lệ 10 - 15% diện tích; xuân muộn từ 10 - 20% DT tăng lên 80 - 90% DT
Trang 4Bảng 4 Cơ cấu các trà lúa xuân hiện nay (%)
(Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT)
Bộ giống lúa đông xuân khá phong phú,
có 20 giống lúa đạt năng suất bình quân
trên 60 tạ/ha chủ yếu là các giống ngắn
ngày như KD 18, Q5
d) Diễn biến năng suất lúa xuân
Trong 40 năm qua năng suất lúa đồng
bằng sông Hồng tăng nhanh từ 13,3 tạ/ha
lên 62,9 tạ/ha năm 2004 Trong 11 tỉnh đồng bằng sông Hồng thì có 9 tỉnh năng suất trà xuân muộn cao hơn trà xuân sớm Tỉnh Ninh Bình, xuân muộn cao hơn xuân sớm 12,1 tạ/ha, tỉnh Nam Định, Vĩnh Phúc chênh lệch 9 tạ/ha
Bảng 5 Lăng suất các trà lúa xuân các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Số
Xuân sớm (S) Xuân muộn (M) Chênh lệch M/S
(tạ/ha)
(Nguồn: Báo cáo các sở NN - PTNT)
e) Một số biện pháp chỉ đạo ứng phó với
những năm thời tiết ấm và rét bất thường
1) Năm rét đậm:
- Những năm sáu mươi, quy trình sản
xuất đề ra gieo mạ xung quanh đại hàn và
cấy cuối tháng 2 đầu tháng 3 (đây là thời vụ
lý thuyết đạt năng suất cao) và đề ra giải pháp ủ thúc mầm mạ xuân Quy trình này gây ra sự lãng phí nhiên liệu (thúc mầm) và mất thóc giống, cấy đi cấy lại nhiều lần, hệ
số mạ - cấy chỉ 2 - 3 Sau 1968, quy trình mới đề ra gieo NN8 vào đầu tháng 12, thay
Trang 5biện pháp ủ thúc mầm bằng ủ đống tạo ra
sự "chuyển trà" vào năm 1970/1971
Thời vụ gieo mạ các giống dài ngày từ
1 - 20/12 Không gieo vào cuối tháng 11 như
trước Thời vụ gieo mạ các giống ngắn ngày
từ 20/1 đến xung quanh 5/2 (lập xuân)
Che phủ nilon cho mạ: 1 kg nilon mỏng
khổ 2,2 m dài 30 m, diện tích 66 m2, che
được 46 m2 mạ, giá thành cho 1 m2 mạ
khoảng 500 - 700 đồng (kể cả khung), 1 sào
cấy cần 10 m2 mạ chi phí thêm 5000 đồng,
công lao động 5000 đ Vì vậy với lúa lai chi
phí thêm 7000 - 10.000 đ, tiết kiệm 1 kg
giống giá 20.000 đồng, cấy sớm được 10
ngày Với giống thuần chi phí thêm 15.000
đồng tiết kiệm được 3 - 4 kg thóc giống trị
giá 20 - 25.000 đồng, cấy sớm được 10
ngày Chất lượng mạ tốt hơn hẳn mạ không
che phủ nilon
- Cấy mạ non, tuổi mạ cấy không quá
5 lá
+ Cách tính: Lá 1 là lá nhỏ, chỉ dài 1 cm
(ở rìa luống mạ) Sau đó tính tương quan lá
mạ còn xanh trên cây mạ đó với cây mạ ở
giữa luống Tuổi mạ tính từ lá thứ 1 đến lá
trên cùng, nếu lá trên cùng bằng bao nhiêu
phần 10 lá thứ 2 từ trên xuống thì tính phần
lẻ ấy, thí dụ 4,5 lá; 5,5 lá
+ Tuổi mạ tính theo lá không quá 40%
tổng số lá của giống đó Ví dụ: DT 10 có 18
lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 7,2 lá; Q5
có 13 lá thì tuổi mạ cao nhất không quá 5,2
lá; KD18 có 12 lá thì tuổi mạ cao nhất
không quá 4,8 lá Cấy mạ già chức năng
sinh lý bị đảo lộn dù có tăng mức chăm bón
vẫn không đạt năng suất cao, hiệu quả thấp
+ Mật độ cấy: Hàng sông 20 cm Hàng
con tùy loại đất, giống có thể cấy 10, 11, 12,
13, 14, 15 cm để có mật độ cấy xung quanh
40 - 45 khóm/m2 Cấy 2 - 3 dảnh/khóm,
không quá 4 dảnh/khóm
- Lộ ruộng là TBKT nâng ruộng lúa
bình thường thành ruộng cao sản
Khi lúa đẻ đủ số nhánh khoảng 300 -
350 nhánh/m2 là tiêu nước lộ ruộng Để lộ ruộng đất nẻ chân chim, rắn bùn, mặt đất có
rễ trắng xuất hiện Khi lúa có đòng non tưới ngập nước trở lại và bón thúc kali Khi lúa vào chắc, tiêu hết nước phòng mưa úng Thời kỳ lúa có đòng dài 10 cm là cần nước nhất, tuyệt đối không để lúa bị hạn Thời kỳ lúa trổ cần giữ lớp nước sâu 10 cm để khắc phục thời tiết bất thuận (gió Đông Bắc muộn, gió nóng sớm, có lớp nước đệm) 2) Năm ấm và rất ấm:
Những năm 1978 - 1979; 1986 - 1987;
1990 - 1991; 1992 - 1993; 2006 - 2007 là những năm ấm khác thường
- Biện pháp chỉ đạo thành công:
+ Làm lúa tái sinh: Khi lúa trổ gặp rét,
bị lép nhiều, cắt bỏ 2/3 cây lúa (chừa 30 cm) giữ nước ruộng lúa không cho trâu bò vào ruộng, bón thêm 2 - 3 kg đạm/sào, 5 kg lân
và 1 kg kali cuối vụ Sau 60 ngày có thể thu
30 - 40 tạ/ha Trong mỗi nách lá đều có mầm nhánh ở dạng ngủ, kích thích mầm ngủ
"thức" dậy sẽ có nhánh lúa trổ như mạ non tạo ruộng lúa trẻ Bón thêm N tạo tỷ lệ C/N thấp, để bật nhánh ngủ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm đã phổ biến quy trình này, nâng lên thành quy trình thâm canh lúa tái sinh vụ xuân cho năm trỗ sớm gặp rét và áp dụng ở vùng trũng bỏ hóa vụ mùa (điển hình Nho Quan, Gia Viễn) và vụ thu đông ở đồng bằng sông Cửu Long (không cấy vụ 3 khi lũ về) biện pháp này gọi là "bỏ mẹ bắt con" + Biện pháp phân loại các trà mạ, trà lúa để có biện pháp chăm sóc đặc biệt: Bao gồm: Kỹ thuật hãm mạ chưa cấy vội, chăm bón thêm phân cho mạ bị già khi
đã cấy, giữ nước không để ruộng bị hạn, lùi thời vụ gieo cấy v.v
Nói chung những năm ấm, nên lùi thời
vụ gieo mạ lại 10 - 15 ngày (nếu thời tiết tháng 11, 12, 1 đều ấm) hãm mạ và giữ nước, phân loại các trà lúa, bón thêm phân (bằng khoảng 20 - 30% tổng lượng phân
Trang 6bón bình thường) đều có tác dụng giảm đỡ
việc giảm năng suất lúa xuân
- Biện pháp chỉ đạo không thành công:
+ Nhổ lúa cấy lại: Biện pháp này Hà
Nội áp dụng đầu tiên năm 1986 - 1987 và
1990 - 1991 Về lý thuyết thì có thể được
nhưng trong thực tiễn áp dụng trên hàng
vạn hecta rất khó vì các hộ chăm bón, gieo
cấy, điều khiển nước khác nhau dẫn tới
ruộng cấy lại không bằng ruộng không nhổ
bỏ đi và tích cực chăm bón vì lúa tiếp tục
đẻ và trỗ các nhánh sau gặp thời tiết ấm, đủ
ánh sáng vẫn cho năng suất khá
Nói chung việc khắc phục giảm thiệt
hại năng suất lúa xuân năm ấm là bất khả
kháng vì bản chất các giống lúa ngắn ngày
phụ thuộc tổng tích ôn và tích ôn hữu hiệu,
khó có thể có giải pháp hiệu quả cho hàng
trăm ngàn hecta Cách tốt nhất là chuyển
sang làm vụ lúa xuân hè, bỏ hẳn các trà lúa
dễ bị ảnh hưởng của mùa đông hanh khô và
ngay cả mùa đông lạnh Nm
II N HỮN G GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẢM BẢO
SẢN XUẤT ỔN ĐNN H VÀ TĂN G N ĂN G
SUẤT LÚA ĐÔN G XUÂN Ở VÙN G
ĐỒN G BẰN G SÔN G HỒN G:
1 Giải pháp tổng thể là chuyển sang sản
xuất vụ lúa xuân hè
Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng
châu thổ phù sa cổ có điều kiện và lợi thế
cạnh tranh sản xuất lúa thứ hai của nước ta
(thuỷ lợi tốt, dân trí cao, truyền thống văn
minh lúa nước lâu đời) sau đồng bằng sông
Cửu Long (ở ĐBSCL diện tích rộng, phù sa
bồi hàng năm, giá thành rẻ, thời tiết thuận
lợi quanh năm)
Sau nhiều năm vùng ĐBSH đã chuyển
từ vụ lúa chiêm có nhiều hạn chế (dài ngày,
năng suất thấp, nhiều sâu bệnh ) sang lúa
xuân với ba cột mốc thời gian là: Trà lúa
xuân chính vụ từ 1968; trà lúa xuân sớm từ 1985; Trà lúa xuân muộn từ 1995
Sau hai mươi năm, tỷ lệ trà xuân muộn
từ 10 - 20% diện tích đã tăng lên 80-90% diện tích Điều đó đã khẳng định quy luật phủ định của phủ định: Lúa xuân đã thay thế lúa chiêm Lúa xuân hè đã và sẽ thay thế lúa xuân chính vụ và xuân sớm Đó là con đường đúng đắn để ổn định và tăng năng suất lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng
a) Để ổn định: Vì những năm biến động
thời tiết, việc giảm năng suất sản lượng lúa ở đồng bằng sông Hồng từ 500.000 tấn đến 1 triệu tấn thóc là bình thường như các năm
1978 - 1979, 1986 - 1987; 1990 - 1991; 1992
- 1993; 2006 - 2007 v.v
b) Để tăng năng suất và hạ giá thành:
Vùng đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa cao nhất cả nước
Tuy nhiên, các vùng khác không có rét hoặc ít ảnh hưởng của rét mà lúa vẫn đạt năng suất cao, khoảng cách năng suất với đồng bằng sông Hồng ngắn lại dần, thậm chí như Tây Bắc đã có năng suất cao hơn đồng bằng sông Hồng Mặt khác giá thành lúa ở đồng bằng sông Hồng lại cao hơn các vùng khác Việc chuyển sang vụ lúa xuân
hè là vụ lúa có diễn biến thời tiết tương tự các vùng lúa khác sẽ là yếu tố đảm bảo đồng bằng sông Hồng tiếp tục dẫn đầu về năng suất lúa và hạ giá thành lúa (năng suất lúa có thể đạt 6 tấn - 6,5 tấn/ha như các nước xung quanh)
2 Bước đi
Do địa hình đất lúa đồng bằng sông Hồng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đất có nhiều dạng hình và tập quán lâu đời của mỗi địa phương nên định hướng chuyển đổi như sau: Các tỉnh phía Bắc và phía Tây gồm Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh chuyển làm toàn bộ lúa xuân hè với các giống lúa thuần ngắn ngày, năng
Trang 7suất cao, chất lượng cao; các tỉnh phía Nam
sông Hồng gồm Hà Nam, Nam Định, Ninh
Bình chuyển làm toàn bộ lúa xuân hè với
các giống lúa thuần ngắn ngày, năng suất
cao, chất lượng cao và lúa lai; các tỉnh còn
lại gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng,
Thái Bình chuyển mạnh sang lúa xuân hè,
giảm dần lúa xuân sớm, với giống thuần,
giống lai ngắn ngày, năng suất cao, chất
lượng cao, từng bước xây dựng hệ thống lúa -
thủy sản trên đất trũng
3 Một số công nghệ thâm canh mới ở đồng bằng sông Hồng
a) Chuyển dịch giống lúa
- Tỷ lệ phổ cập giống đạt tiêu chuNn xác nhận phải đạt trên 90% DTSX; phấn đấu 5 - 7 năm thay một đời giống chủ yếu dùng giống ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng cao; mỗi lần thay giống mới, năng suất phải tăng 8 - 10% so giống cũ
Bảng 6 Mười giống lúa có diện tích lớn vụ đông xuân 2004 ở đồng bằng sông Hồng
So với 5 năm trước đó đã loại bỏ các
giống: C70, Khâm dục, Ải 32, Nhị ưu 63,
Sán ưu 63 Vùng ĐBSH đất chật, người
đông, có trình độ thâm canh lúa cao nhất cả
nước, cần phải dẫn đầu 3 vấn đề về giống
lúa trên đây
b) Chuyển dịch trà lúa, chuyển dịch vụ lúa
Trước đây, quen gọi trà xuân sớm, xuân
chính vụ (xuân trung) và xuân muộn là theo
thời gian gieo mạ Khi trà xuân muộn đã
chiếm tỉ lệ 60 - 80% DT vụ đông xuân, năm
2004 - 2005 Cục Nông nghiệp đề xuất gọi
là vụ lúa xuân hè Đến nay tỉ lệ trà lúa xuân
muộn đã chiếm tỉ lệ 85% DT, trà lúa xuân
sớm, xuân chính vụ chỉ còn 15% DT, thì có
thể chính thức đề nghị gọi là vụ lúa xuân hè (gieo tháng 2 gặt tháng 6) như các vụ lúa hè thu, thu đông ở các tỉnh miền Trung, miền Nam đang gọi Với các giống ngắn ngày, thời vụ của vụ lúa xuân hè bắt đầu xung quanh tiết lập xuân vì từ tiết đông chí (22/12) đến lập xuân (5/2) có đến 30 - 40%
số năm gặp rét đậm, rét hại Vì vậy nên gieo mạ từ sau tiết đại hàn (20/1) đến tiết lập xuân (5/2) - cây chỉ thị là xoan "chân chó" (xem cây xoan đã 5 - 7 tuổi và trên 50% số cây xoan nNy lộc, nhìn cây xoan ở chỗ trống) N gày nay việc sản xuất nằm gọn trong quy mô hộ, thời vụ chỉ cấy trong 5 - 7 ngày nên không phải vội vàng cấy sớm
c) Mạ non
Trang 8Tuổi mạ cấy tính theo lá, từ 3 - 5 lá
N ếu trên 5 lá phải đẻ nhánh, có 2 - 3 ngạnh
trê (quy trình thâm canh của Trung Quốc
coi tiêu chuNn mạ là ngạnh trê) Xúc cấy,
gieo thẳng (sau 10/2) Tác dụng: Lúa đẻ
nhánh sớm, đẻ từ các mắt đầu tiên, các
bông trong khóm đều nhau, tăng số hạt trên
bông, chống rét muộn tốt
Mở rộng phương thức gieo thẳng lúa để
tiến tới cơ giới hóa toàn bộ ngành sản xuất
lúa ở ĐBSH Tác dụng: Giảm giá thành,
giảm lượng giống lúa, giảm tổn thất sau thu
họach Thực hiện quy trình 3 G, 3 T
d) Lộ ruộng
- Tiêu hết nước, lộ mặt ruộng đến nứt
chân xuất hiện rễ trắng trên mặt ruộng,
giẫm vào đất lún nhưng không dính bùn
Thời gian: Sau khi lúa đẻ nhánh hữu hiệu
đến khi lúa có đòng 2 - 3 cm (lúa xuân sau
cấy 25 - 35 ngày) Tác dụng: Lúa đẻ vô
hiệu ít, rễ lúa ăn sâu huy động thức ăn
nhiều cho giai đoạn sau (lúa tốt hai, khoai
tốt một) Các đốt phía dưới ngắn, dầy, bông
lúa to nhiều hạt, cây lúa thấp, lá dầy, cứng,
chống đổ, sạch sâu bệnh
e) Mật độ
Cấy 35 - 50 khóm/m2, 2 - 3 dảnh/khóm
(Quy trình thâm canh lúa của Trung Quốc ở
N am Định, Hưng Yên khoảng 50 khóm/m2)
ở ĐBSH nói chung nên đảm bảo cấy, gieo
thẳng khoảng 40 - 45 khóm/m2 là tốt nhất,
tăng hơn so với trước đây khoảng 5 - 7
khóm/m2
f) Phân bón
- Coi kali là nhân tố hạn chế Tỷ lệ N /K
nên đảm bảo 1/1
g) Áp dụng công nghệ sản xuất lúa an
toàn, hữu cơ
- Công nghệ 3 G 3T, IPM, ICM
- Công nghệ GAP lúa cho các giống lúa đặc sản, giống lúa chất lượng cao (Ví dụ như vùng lúa gạo xuất khNu cho N hật Bản, vùng lúa Tám, vùng lúa Cốm, vùng nếp Hoa vàng chế biến thực phNm, vùng gạo chế biến thực phNm )
4 Sản xuất lúa hàng hóa ở đồng bằng sông Hồng
Trong tương lai, vùng ĐBSH sẽ có 2 - 3 triệu tấn thóc hàng hóa vì năng suất lúa tiếp tục tăng, lượng gạo ăn/người giảm, lượng giống và thóc cho thức ăn chăn nuôi giảm
- Để tăng thu nhập cho nông dân, cần làm: Tăng nhóm giống lúa chất lượng; tăng năng suất ở nhóm giống năng suất cao; tăng thu nhập trên ruộng lúa như nuôi thêm thủy sản, thu nhập thêm phế phụ phNm rơm rạ, tăng vụ đông
N hư vậy cần tập trung chọn tạo 3 nhóm giống lúa phục vụ sản xuất hàng hóa: Lúa lai 8 tấn/ha/vụ; lúa thuần 7 tấn/ha/vụ; lúa thơm 6 tấn/ha/vụ
Bố trí theo chân đất lúa: Đất vàn, vàn cao khoảng 60 - 65% DT cấy giống năng suất cao, chất lượng khá; đất vàn thấp, trũng khoảng 35 - 40% DT cấy giống chất lượng cao, năng suất khá
Do diện tích lúa ở đồng bằng sông Hồng thấp, sản xuất lúa hàng hóa ở đây phục vụ nhu cầu của hộ nông dân: Vụ xuân: Đủ lương thực để ăn; vụ mùa: Có lúa chất lượng cao để bán phục vụ chi tiêu; vụ đông: Có sản phNm hàng hóa để bán phục vụ tích lũy III KẾT LUẬN
Căn cứ để chuyển dịch các trà lúa đông xuân ở vùng ĐBSH là xuất phát từ bộ giống lúa ngắn ngày năng suất cao
Cho đến nay, rét và ấm vẫn được coi là thiên tai phải khắc phục với lúa vụ đông
Trang 9xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng Chỉ
những năm bình thường năng suất lúa xuân
mới đạt năng suất cao nhất Với quy trình
mới, công nghệ mới, giống mới, nếu
chuyển sang vụ lúa xuân hè, chúng ta sẽ
giảm thiểu sự ảnh hưởng bất lợi của rét, ấm
Tổ chức sản xuất vụ lúa xuân hè mở
đầu là gieo mạ xung quanh tiết lập xuân
(năm bình thường không rét, không ấm) lấy
cây xoan "chân chó" là cây chỉ thị thì độ
chính xác tương đối cao, ngoại lệ không
nhiều N ếu rét còn kéo dài sau lập xuân, ta
cấy muộn lại, đợi ấm mới cấy Rét thêm
bao nhiêu, cấy muộn lại bấy nhiêu, vẫn đạt
năng suất cao Cường độ bức xạ các tháng
5, 6, 7 ở ĐBSH, dù rét hay ấm hoặc bình
thường đều có khả năng cho năng suất lúa
xuân cao (độ bức xạ trung bình của đài
Láng - Hà N ội là 12,0; 12,8; 14,0; kilô
calo/cm2/tháng và số giờ nắng là 189; 160;
195 giờ/tháng)
Tổ chức sản xuất vụ lúa xuân hè sẽ loại
trừ ảnh hưởng của ấm và rét với lúa đông
xuân, chuyển từ thế bị động sang thế chủ
động, ổn định vụ lúa xuân giống như điều
khiển các vụ lúa khác ở các vùng của nước ta
Bộ giống lúa có thời gian sinh trưởng
100 - 105 ngày trong vụ mùa có năng suất
cao, chất lượng cao sẽ phù hợp với vụ lúa
xuân hè và là điều kiện cho vụ lúa mùa
sớm, mở rộng vụ đông dài đủ 4 tháng, là hệ
thống nông nghiệp mới có hiệu quả cao, ổn
định, bền vững ở đồng bằng sông Hồng
Mở rộng diện tích lúa gieo thẳng trong
vụ xuân hè là tiến tới phương thức sản xuất
lúa cơ giới hoá, hiện đại ở vùng đồng bằng
sông Hồng và Bắc Trung bộ trong tương lai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Số liệu Trạm khí tượng Ba La - Tp Hà
Đông 25 năm (1981 2006) và (1973
-1998)
2 Số liệu Trạm khí tượng Láng - Tp Hà Nội
3 Báo cáo chỉ đạo sản xuất Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, Cục Nông nghiệp, Cục Trồng trọt vụ đông xuân các năm
1997 - 2006
4 Báo cáo sản xuất vụ đông xuân Sở NN -PTNT Hà Tây các năm 1991 - 1997
5 Lê Hưng Quốc, 2005 Xây dựng cơ cấu
sản xuất tiên tiến trong nông nghiệp NXB Nông nghiệp
6 Bùi Huy Đáp, 1987 Lúa xuân năm rét
đậm NXB Nông nghiệp
Dgười phản biện: Dguyễn Văn Viết
Trang 10T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
10