Chương1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU“Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất” thực chất là ứng dụng GIS để xây dựng và chuẩn hoá bản đồ h
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành tốt khoá học của mình và được sự đổng ý của Ban giámhiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế và Quản TrịKinh Doanh, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Vũ Xuân Định, tôi thực hiện
đề tài : “ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện
trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 tại xã Quang Kim – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai ” Đến nay đề tài đã được hoàn thành.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành nhất tới ban giám hiệu nhà trường,khoa Kinh Tế và Quản Tri Kinh Doanh cùng các thầy cô giáo, đặc biệt là giáoviên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoànthành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Tài nguyên Môi trường huyện BátXát đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các số liệu đầy
đủ và chính xác cho tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Mặc dù bản thân
đã rất cố gắng cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bènhưng do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi cácthiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
để đề tài của tôi được hoàn thiện và đầy đủ hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 12 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Vũ thị Huyền Chang
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia bởi nó là tưliệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trườngsống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, vănhoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Trong xã hội hiện nay dưới sức ép củagia tăng dân số thì đất đai đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗidân tộc và một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia,mỗi dân tộc đôi khi còn được tính theo mức độ biến động trong quá trình sửdụng đất của Quốc gia, của dân tộc đó Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển
đô thị và quá trình công nghiệp hoá gây sức ép lớn trong việc sử dụng đất.Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm kéo theo đó là sự tăng lên của đấtphi nông nghiệp như nhu cầu về nhà ở, đất xây dựng các công trình côngcộng, khu công nghiệp tăng Đây là bài toán nan giải “bức xúc” hiện nay Đểgiải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chươngtrình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình
để sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm Đặc biệt là đối với nước
ta - một đất nước mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoáđang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước Vì vậy việc xác định biến động đấtđai càng trở thành một vấn đề cấp thiết
Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của nền khoa học hiệnđại đòi hỏi các thông tin phải nhanh chóng, chính xác và kịp thời Đặc biệthơn đất đai lại luôn luôn biến động từng ngày từng giờ thông tin phải đượccập nhật thường xuyên, việc quản lý đất đai bằng các biện pháp thô sơ như:Bản đồ giấy, sổ sách cũ không còn phù hợp đối với những nước những khuvực phát triển Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information Systems –viết tắt là GIS) ra đời đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử loài người,
hệ thống này có những chức năng cơ bản đó là tự động tìm kiếm, thu thập vàquản lý thông tin theo ý muốn, đặc biệt là có khả năng chuẩn hoá và biểu thị
Trang 3dữ liệu không gian từ thế giới thực phục vụ cho các mục đích khác nhau trongđời sống.
Sự ra đời của Hệ thống thông tin địa lý đã đáp ứng rất nhiều yêu cầuthực tế và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy GIS chính
là công cụ hữu ích cho việc theo dõi, giám sát, đánh giá những biến động tàinguyên nói chung và biến động đất đai nói riêng giúp những nhà quản lý,những nhà quy hoạch đề ra những chiến lược phát triển kinh tế vùng một cáchnhanh chóng, chính xác và hiệu quả
Xuất phát từ thực tế, đòi hỏi của sự phát triển Kinh tế - Xã hội cũngnhư sự cần thiết của việc ứng dụng GIS trong công tác đánh giá biến động, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh
giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 tại xã Quang Kim – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai”
Trang 4Chương1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
“Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất” thực chất là ứng dụng GIS để xây dựng và chuẩn hoá bản
đồ hiện trạng sử dụng đất qua các thời điểm rồi từ đó đưa ra được các bản đồbiến động tương ứng thể hiện sự thay đổi hiện trạng tại khu vực nghiên cứu
Từ lâu con người đã biết đến bản đồ như một công cụ, một tài liệu hữuhiệu cho công việc của mình Tuỳ theo các ngành, các lĩnh vực sẽ có các loạibản đồ riêng như bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính, bản đồ địahình (ngành quản lý đất đai) ; Bản đồ hiện trạng rừng (ngành quản lý tàinguyên rừng và môi trường) ; Các bản đồ chuyên ngành khác như : Bản đồgiao thông, bản đồ khai thác khoáng sản Bản đồ hiện trạng sử dụng đất làbản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lậptheo đơn vị hành chính (Khoản 17 – Điều 4 – Luật Đất đai 2003)
1.1 Lịch sử phát triển hệ thống thông tin địa lý
1.1.1 Trên thế giới và tại Việt Nam
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - gọi tắt là
GIS) được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rất rộng rãi trong 10
năm lại đây GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạtđộng kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới GIS cókhả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp,các cá nhân đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tựnhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn,phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ)nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào
GIS ra đời chính là sự kế tục các ý tưởng trong ngành địa lý mà nhất làngành địa lý bản đồ trong thời đại mà công nghệ thông tin đủ mạnh để tạo racác công cụ định lượng mới và có khả năng thực thi hầu hết các phép phântích bản đồ bằng công cụ định lượng mới
Trang 5Có nhiều khái niệm về hệ thống thông tin địa lý khác nhau Tuy nhiên ởmức độ tương đối chúng ta có thể hiểu GIS theo định nghĩa sau:
“Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một hệ thống các thông tin được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xây dựng lại, thao tác, phân tích, biểu diễn các dữ liệu địa lý phục vụ công tác quy hoạch hoặc lập các quyết định sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường, giao thông, đô thị và nhiều thủ tục hành chính” (Định nghĩa của Nitin Kumar Triphthi, 2000 học viện Công
nghệ Châu Á )
Hệ thống thông tin địa lý có thể hiểu một cách đơn giản là tập hợp cácthông tin có liên quan đến yếu tố địa lý một cách đồng bộ và logic; là công cụđược dùng để tập hợp, lưu trữ, xử lý và phân tích thông tin (không gian và phikhông gian) thông qua các thiết bị máy tính và tin học; cho phép đánh giátổng thể với nhiều yếu tố theo không gian và thời gian Như vậy, về ý tưởng
nó được xuất hiện rất sớm cùng với sự phát minh ra bản đồ Nhưng sự hìnhthành rõ nét của hệ thống thông tin địa lý một cách hoàn chỉnh và đưa vàoứng dụng có hiệu quả thì cũng chỉ được nghiên cứu phát triển trong một sốnăm gần đây
Trong những năm 70 ở Bắc Mỹ đã có sự quan tâm nhiều hơn đến việcbảo vệ môi trường và phát triển GIS Thời kỳ này, hàng loạt thay đổi mộtcách thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống thông tin địa lý, đặc biệt là sựgia tăng ứng dụng của máy tính với kích thước bộ nhớ và tốc độ lớn Chínhnhững thuận lợi này mà GIS dần dần được thương mại hóa Năm 1977 đã cónhiều hệ thống thông tin địa lý khác nhau trên thế giới Bên cạnh GIS, thời kỳnày còn phát triển mạnh mẽ các kỹ thuật xử lý ảnh Viễn Thám, một hướngnghiên cứu kết hợp giữa GIS và Viễn Thám được đặt ra Một số nước đã cónhững đầu tư đáng kể cho việc phát triển ứng dụng làm bản đồ, hay quản lý
dữ liệu có sự trợ giúp của máy tính là Canada và Mỹ sau đó đến các nướcThuỵ Điển, Đan Mạch, Pháp…
Trang 6Thập kỷ 80 được đánh dấu bởi các nhu cầu sử dụng GIS ngày càngtăng với các quy mô khác nhau Người ta tiếp tục giải quyết những tồn tại củacác năm trước mà nổi lên là vấn đề số hoá dữ liệu Thập kỷ này đánh dấu bởi
sự nảy sinh các nhu cầu mới trong ứng dụng GIS như: Theo dõi sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên, Đánh giá khả thi các phương án quy hoạch, Các bàitoán giao thông… GIS trở thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý
và trợ giúp quyết định
Những năm đầu của thập kỷ 90 được đánh dấu bằng việc nghiên cứuhoà nhập giữa GIS và Viễn thám Các nước Bắc Mỹ và Châu Âu thu đượcnhiều thành công trong lĩnh vực này Khu vực Châu Á – Thái Bình Dươngcũng đã thành lập nhiều trung tâm nghiên cứu Viễn thám và GIS Ở các nướcnhư Trung Quốc, Nhật Bản, Thái lan… đã chú ý nghiên cứu đến GIS chủ yếuvào lĩnh vực quản lý, đánh giá Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường
Ở Việt Nam việc nghiên cứu và ứng dụng GIS cũng chỉ mới bắt đầu vàchỉ được triển khai ở những cơ quan lớn như: Bộ Tài nguyên và Môi trường,trường Đại học Mỏ Địa Chất, Viện điều tra quy hoạch rừng, Cục kiểm lâm,Viện địa chất… Đồng thời mức độ ứng dụng còn hạn chế, và mới chỉ có ýnghĩa nghiên cứu hoặc ứng dụng để giải quyết một số nhiệm vụ trước mắt
Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu hệthống thông tin địa lý và ứng dụng của nó vào nhiều ngành Ngày nay, phầnmềm GIS đang hướng tới đưa công nghệ GIS trở thành hệ tự động thành lậpbản đồ, và xử lý dữ liệu Phần cứng của GIS phát triển mạnh theo giải phápmáy tính để bàn, nhất là những năm gần đây ra đời các bộ vi xử lý cực mạnh,thiết bị lưu trữ dữ liệu, hiển thị và in ấn tiên tiến đã làm cho công nghệ GISthay đổi về chất Có thể nói trong suốt quá trình hình thành và phát triển củamình, công nghệ GIS đã luôn tự hoàn thiện từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp để phù hợp với các tiến bộ mới nhất của khoa học kỹ thuật và nhữngứng dụng của nó trong thời gian gần đây thật đáng ghi nhận
Trang 71.1.2 Tại khu vực nghiên cứu
Việc ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý trong xây dựng bản đồ số vàquản lý dữ liệu tại địa phương mới bước đầu áp dụng và phát triển trongnhững năm gần đây chủ yếu để lưu trữ, quản lý hiện trạng, in ấn mà chưa thực
sự khai thác được thế mạnh của công nghệ mới này Mặc dù vậy, việc đưacông nghệ mới này vào sử dụng tại khu vực đã giúp việc cập nhật, lưu trữthông tin hết sức dễ dàng, nhanh chóng, tiện lợi hơn rất nhiều so với phươngpháp thủ công truyền thống, tạo nên những bước phát triển mới cho khu vực
Từ đó giúp cho việc quản lý tài nguyên một cách chặt chẽ, đưa ra các giảipháp bảo vệ, phát triển phù hợp với từng thời kỳ
1.2 Tổng quan về công tác đánh giá biến động ở Việt Nam
Từ trước đến nay chưa có một khái niệm chính xác về đánh giá biếnđộng Nhưng đánh giá biến động có thể được hiểu là : Việc theo dõi, giám sát
và quản lý đối tượng nghiên cứu để từ đó thấy được sự thay đổi về đặc điểm,tính chất của đối tượng nghiên cứu, sự thay đổi có thể định lượng được Ví dụnhư : diện tích đất chuyển mục đích sử dụng, diện tích rừng mất đi hay đượctrồng mới
Đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất : là đánh giá được sự thayđổi về loại hình sử dụng đất (đất sản xuất nông nghiệp, đất ở nông thôn, đấtgiao thông, đất thuỷ lợi, đất cơ sở sản xuất kinh doanh qua các thời điểm
Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, việcđánh giá hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng và theo dõi diễn biến tàinguyên thiên nhiên được tiến hành thường xuyên trên cơ sở sử dụng phươngpháp truyền thống trên bản đồ giấy dựa vào các số liệu thống kê ngoài thựcđịa Gần đây công việc này đã được hiện đại hoá, đã ứng dụng công nghệthông tin trong đánh giá biến động Và đặc biệt đó là ứng dụng hệ thốngthông tin địa lý (GIS) hoặc kết hợp với công nghệ Viễn thám đã đem lại hiệuquả hết sức to lớn
Trang 8Ở nước ta việc theo dõi, đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đấtđược quan tâm đáng kể Tuy nhiên từ trước đến nay công việc này thườngđược thực hiện bằng phương pháp truyền thống nên kết quả nhận được chưathực sự chính xác, và thậm chí còn chậm hơn vài năm so với hiện tại, ít có ýnghĩa trong việc đưa ra các biện pháp thích hợp để phục vụ cho công tác quản
lý hay quy hoạch sử dụng đất
1.3 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Quá trình phát triển của đất nước diễn ra nhanh chóng và sôi nổi, Luậtđất đai năm 2003 ra đời bổ xung quyền lợi và nghĩa vụ của người dân với đấtđai Theo đó người dân được hưởng các quyền như : Chuyển đổi, chuyểnnhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, bảo lãnh,góp vốn bằng quyền sử dụng đất Trong quá trình thực hiện các quyền hợppháp của người sử dụng đất đã gây ra nhiều biến động lớn về đất đai Cácbiến động đó là :
- Biến động về yếu tố không gian của thửa đất do chia mảnh, ghépthửa, do sạt nở đất làm biến động hình dạng kích thước thửa đất
- Chuyển mục đích sử dụng đất
- Thay đổi chủ sử dụng đất
Trước tình hình này thì công tác quản lý nhà nước về đất đai càng phảiđược trú trọng và quan tâm hơn, việc cập nhật biến động phải được cập nhậtthường xuyên sao cho sát thực tế nhất Tuy nhiên đây là việc làm không đơngiản nếu việc quản lý chỉ dừng lại ở mức độ thô sơ : Bản đồ giấy, sổ sách
GIS là hệ thống quản lý không gian được phát triển dựa trên cơ sở côngnghệ máy tính với mục đích lưu trữ, hợp nhất, mô hình hoá, phân tích và miêu
tả được nhiều dữ liệu GIS được gọi là công nghệ xúc tác vì tiềm năng to lớncủa nó đối với phạm vi các ngành có liên quan GIS hợp nhất các số liệumang tính liên ngành lại bằng tổng hợp, mô hình hoá và phân tích Hệ thốngthông tin địa lý và các ứng dụng của nó giúp đạt được nhiều yêu cầu của thựctiễn, với các ưu điểm nổi bật như sau :
Trang 9- Giảm hoặc loại bỏ các hoạt động thừa từ đó tiết kiệm được thờigian, công sức và tiền của.
- Số liệu có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
- Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
- Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguồn và nhiều loạikhác nhau
- Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích vàtạo ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
- Có thể làm bản đồ không cần kỹ xảo hoặc vắng kỹ thuật viên
- Có thể làm cho bản đồ gần gũi với mục đích sử dụng
- Hạn chế sử dụng bản đồ in tránh tác hại làm giảm chất lượng dữliệu
Với những ứng dụng to lớn của GIS không chỉ trong công tác xâydựng, biên tập và khai thác thông tin bản đồ mà GIS còn là công cụ đắc lựctrong công tác quản lý và sử dụng đất hiệu quả, thực hiện tốt các giải phápphát triển bền vững Tài nguyên môi trường Chính vì vậy mà GIS đã và đangđược nhiều ngành nghiên cứu phát triển
Trang 10Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
1) Đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005, 2005 –
2010, 2000 – 2010
2) Phân tích kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xã Quang Kim - huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai
- Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (cụ thể là phầnmềm Mapinfo và các phần mềm bổ trợ) trong đánh giá biến động hiện trạng
sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005, 2005 – 2010 và 2000 – 2010
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của khoá luận, chúng tôi tiến hành nghiên cứucác nội dung sau:
1 Thu thập tài liệu, bản đồ phục vụ nghiên cứu
2 Đánh giá chất lượng tài liệu, bản đồ thu thập được
3 Quét, định vị và số hoá bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 từ bản đố giấy
4 Chuyển đổi định dạng đối tượng bản đồ năm 2005, 2010 từ Microstationsang Mapinfo
5 Hoàn thiện và chuẩn hoá cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2000,
2005 theo các tiêu chuẩn của bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010
6 Đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005, 2005 –
2010 và 2000 - 2010
7 Phân tích kết quả và nhận xét tiến trình quy hoạch giai đoạn 2004– 2010
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Để xây dựng bản đồ nói chung và bản đồ hiện trạng sử dụng đất nóiriêng hay để đánh giá biến động thì công việc đầu tiên không thể thiếu được
Trang 11đoạn này là thu thập, kiểm tra, đánh giá các tài liệu, số liệu sẵn có và điều trakhảo sát thực địa theo những yêu cầu của nội dung, mục đích của đề tài Kếthừa có chọn lọc các bản đồ, tài liệu đã có trên khu vực nghiên cứu Bản đồđịa chính, địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũ có thể dùng làm bản đồnền trong khi xây dựng bản đồ hiện trạng mới Cũng có thể sử dụng tài liệunày đối chiếu với thực địa để chỉnh lý các biến động về đất đai cho phù hợpvới tình hình sử dụng đất tại thời điểm lập bản đồ.
- Thu thập bản đồ của các năm : 2000, 2005, 2010 và các điều kiện tựnhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu làm tài liệu phục vụcho công tác xây dựng CSDL cho bản đồ
- Các tài liệu sổ sách có liên quan phục vụ cho nghiên cứu của đề tài
- Điều tra thực địa, xem xét đối chiếu các loại hình sử dụng đất giữabản đồ và thực tế để xác định những diện tích có biến động để cậpnhật vào bản đồ
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm sử dụng các lớp thông tin của bản
đồ hiện trạng để đánh giá biến động bộ số liệu đầu vào chỉ cung cấp thông tinphục vụ nghiên cứu mà không đáp ứng đủ yêu cầu để phục vụ nghiên cứu,dựa vào máy tính và các phần mềm đã có tiến hành xử lý số liệu
Với số liệu đầu vào là bản đồ giấy sử dụng phương pháp số hoá chuyểnthông tin từ bản đồ giấy vào máy tính, xử lý số liệu bằng các phần mềmchuyên dụng làm bản đồ và các phần mềm bổ trợ Với số liệu đầu vào là bản
đồ số phải tiến hành chuyển định dạng các lớp thông tin
Kết nối cơ sở dữ liệu không gian với cơ sở dữ liệu thuộc tính bản đồ đểhình thành hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ số
Các số liệu thống kê, kiểm kê đất đai : Dùng phương pháp tính toán truyềnthống có sự trợ giúp của máy tính Vì vậy kết quả đảm bảo độ chính xác
Trang 12Cụ thể :
Từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu trên giấy năm 2000 sau khi scan ảnhtiến hành định vị và số hoá lớp thông tin hiện trạng, các đối tượng số hoá ởdạng vùng sử dụng thanh công cụ polygon để tiến hành số hoá
Với tư liệu là bản đồ số tiến hành chuyển định dạng các tài liệu bản đồthông qua công cụ nhập và xuất dữ liệu của hai phần mềm Micro vàMapinfo, thành lập các lớp thông tin hiện trạng trong Mapinfo bản đồ hiệntrạng sử dụng đất của các năm 2005 và 2007
Để đánh giá biến động được thì cần phải chuẩn hoá dữ liệu đáp ứng yêucầu thống nhất và chuẩn xác về cơ sở dữ liệu không gian và cơ sở dữ liệuthuộc tính
Về cơ sở dữ liệu không gian chuẩn hoá về ranh giới khu vực nghiêncứu giữa các năm phải trùng khít nhau, ranh giới các lô phải khépkín
Về cơ sở dữ liệu thuộc tính yêu cầu thiết kế các trường cơ sở dữ liệugiữa các năm phải hoàn toàn giống nhau về tên trường, thứ tựtrường, độ rộng, kiểu trường…
Với số liệu bản đồ đã được chuẩn hoá của các thời điểm tiến hành Chồngxếp các lớp thông tin về HTSDĐ của 3 thời điểm theo giai đoạn (chỉ thựchiện trên hai lớp thông tin) sẽ cho ra kết quả biến động
2.5 Các máy móc thiết bị và phần mềm phục vụ nghiên cứu
Để đảm bảo tính chính xác, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của côngnghệ thông tin hiện đại, trong quá trình nghiên cứu tiến hành sử dụng cáccông cụ sau:
Máy móc được sử dụng gồm có: máy quét, máy in, máy tính để bàn
Các phần mềm máy tính: phần mềm Microstation, phần mềm phục vụcông tác xây dựng bản đồ Mapinfo - một nhánh của công nghệ GIS, phầnmềm hỗ trợ VDMAP biên tập hoàn thiện nhanh bản đồ và đánh giá biến động,phần mềm xử lý số liệu Exel Trong đó:
Trang 13* Phần mềm Microstation là phần mềm lưu trữ số liệu nguồn, đây làphần mềm trợ giúp thiết kế (CAD) và là môi trường đồ hoạ rất mạnh cho phépxây dựng, quản lý các đối tượng đồ hoạ thể hiện các yếu tố bản đồ
* Phần mềm MapInfo với các chức năng như cung cấp thông tin địa lý,giúp định vị, xây dựng và hoàn thiện bản đồ, MapInfo tạo ra hai dạng dữliệu là dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính hết sức tiện lợi để lưu trữ vàhiển thị cùng lúc hình ảnh và số liệu trên một file Phần mềm MapInfo có khảnăng liên kết với các hệ cơ sở dữ liệu khác như Microsoft Access, SQLServer, Oracle, Data Base để quản lý dữ liệu một cách chặt chẽ; đồng thờitích hợp với các phần mềm khác như MicroStation, CAD, để chuyển dữ liệukhi cần thiết
* Phần mềm VDMAP là phần mềm hỗ trợ thiết kế và biên tập bản đồ,chạy trong môi trường MapInfo với hệ thống menu, thanh công cụ và hộpthoại bằng tiếng Việt thuận tiện và dễ dàng sử dụng Các chức năng chính củaVDMAP như: nhập độ cao tự động cho đường đồng mức, trải màu cho đốitượng theo quy chuẩn, sao chép, lựa chọn đối tượng theo đặc tính, biên tậpnhanh bản đồ, đánh giá giá biến động
Trang 14sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập theo đơn vị hànhchính.
Trong tập bài giảng Đo đạc địa chính, tác giả Nguyễn Trọng San đãđưa ra khái niệm bản đồ hiện trạng sử dụng đất như sau : “Bản đồ hiện trạng
sử dụng đất là bản đồ chuyên đề đất đai được biên vẽ trên nền bản đồ địachính hoặc bản đồ địa hình, trên đó thể hiện đầy đủ và chính xác vị trí, diệntích các loại đất theo hiện trạng sử dụng đất phù hợp với kết quả thống kê,kiểm kê đất đai theo định kỳ ”
Nội dung bản đồ là sự thể hiện đầy đủ các đối tượng của bản đồ theomục đích sử dụng Tuỳ theo đơn vị hành chính và các cấp hành chính mà nộidung của bản đồ thể hiện một cách đầy đủ và chính xác Thông qua nội dung
mà có thể sử dụng bản đồ hiện trạng hiệu quả nhất
Nội dung của bản đồ hiện trạng bao gồm :
1 Địa giới hành chính của đơn vị cấp dưới trực tiếp thành lập theo chỉthị 364/CT
2 Ranh giới các loại đất : Là yếu tố cơ bản nhất của bản đồ hiện trạng
sử dụng đất Các ranh giới thể hiện các đường viền khép kín, đúng vị trí, hìnhdạng và kích thước
3 Mạng lưới thuỷ văn : Thể hiện đường bờ biển, sông ngòi, kênhmương, ao hồ
4 Mạng lưới giao thông : Thể hiện đầy đủ đường sắt, đường bộ quốc
Trang 15* Phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa : Đây là phương pháp đo
vẽ bản đồ chi tiết đến từng thửa đất và chỉ áp dụng để xây dựng bản đồ hiệntrạng sử dụng đất ở tỷ lệ lớn (>1/10000), ở những vùng địa hình tương đốibằng phẳng, địa vật không quá phức tạp và chưa có tài liệu bản đồ hoặc bản
đồ đã đo vẽ trước đây không bảo đảm yêu cầu và chất lượng để xây dựng bản
đồ hiện trạng sử dụng đất mới Với cách làm này, độ chính xác của bản đồ chỉphụ thuộc vào độ chính xác đo ngắm trên thực địa mà không bị ảnh hưởngcủa sai số chuyển vẽ, định vị, can vẽ Với bản đồ địa chính phương pháp nàyđược áp dụng khi toàn bộ khu vực phải đo mới hoàn toàn hoặc với bản đồhiện trạng được đo vẽ bổ sung khi có sự thay đổi
* Phương pháp sử dụng ảnh máy bay và ảnh viễn thám : Phương pháp
này thường được áp dụng khi thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất trênquy mô lãnh thổ lớn và tỷ lệ bản đồ nhỏ như cấp huyện, tỉnh, cả nước Ta cóthể sử dụng các tư liệu ảnh như : Ảnh đơn, ảnh nắn, bình đồ ảnh để điều vẽtrong phờng kết hợp đo vẽ bổ sung ngoài thực địa các yếu tố nội dung nếu cầnthiết Phương pháp này cho phép thể hiện đầy đủ và chính xác, chi tiết các nộidung bản đồ Đặc biệt ở những vùng địa hình, địa vật quá phức tạp việc tậndụng triệt để các tư liệu ảnh hiện có để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụngđất sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, giảm chi phí nhân công và thời gian so với
Trang 16phương pháp đo vẽ trực tiếp trên mặt đất Tuy nhiên phương pháp này cũngrất tốn kém, nguồn tư liệu ảnh hàng không khó tìm kiếm, ngoài ra nó cũng đòihỏi người thực hiện có trình độ chuyên môn cao.
* Phương pháp xây dựng bản đồ HTSDĐ từ việc tổng hợp các loại đất
từ bản đồ địa chính
Phương pháp này được áp dụng cho khu vực đã xây dựng được bản đồđịa chính gần sát với thời điểm thành lập BĐHTSDĐ mới và có địa hình bằngphẳng Cần nhân sao BĐĐC rồi đem ra thực địa đối soát, khoanh vẽ, chỉnh lý
và bổ sung các yếu tố nội dung lên BĐĐC Cuối cùng thực hiện biên tập tổnghợp nội dung BĐHTSDĐ Ưu điểm là yêu cầu về đầu vào không cao, tiếtkiệm chi phí cho việc lập bản đồ; thể hiện đầy đủ nội dung ở mức chi tiết tớitừng khoảnh đất và thửa đất ; việc thu thập lấy thông tin từ bản đồ địa chính
dễ dàng và đầy đủ Đặc biệt là bản đồ địa chính được cập nhật thường xuyênnhững biến động nên thông tin có tính thời sự và sử dụng được
* Phương pháp kết hợp.
Trên thực tế việc thành lập bản đồ không chỉ đơn thuần áp dụng mộtphương pháp mà có thể linh động trong việc áp dụng các phương pháp vàcông nghệ Vì vậy phương pháp kết hợp sẽ luôn phát huy được chức năng của
nó trong mọi trường hợp Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ bản
đồ số đã ra đời và cho phép tự động hoá toàn bộ hoặc từng bộ phận trong quátrình xây dựng bản đồ Đồng thời tận dụng được dễ dàng và hiệu quả tất cảcác nguồn tài liệu để phục vụ thành lập bản đồ
Sử dụng phương pháp này có khả năng cập nhật nhanh chóng, dễ dàng,
có thể cung cấp một số lượng bản đồ cần thiết, có thể lưu trữ một khối lượngthông tin lớn về bản đồ, các bảng thuộc tính đối tượng, cho phép nắn chỉnhchuyển đổi hệ toạ độ, tính toán diện tích, liên kết các yếu tố đồ họa với cácthuộc tính phi không gian nhanh chóng thuận tiện
3.2 Các phương pháp đánh giá biến động
Trước đây khi công nghệ thông tin chưa được phổ cập rộng thì việc
Trang 17thập được qua sổ sách và bản đồ giấy, so sánh sự thay đổi bằng phương pháplấy số liệu từ năm trước trừ số liệu của năm sau với các diện tích thay đổi đểtìm xem diện tích đó thay đổi theo chiều hướng tăng hay theo chiều hướnggiảm từ đó lập bảng chu chuyển đất đai Với phương pháp này rất tốn kém,mất thời gian, tốn nhiều công sức, và thiếu độ chính xác, bên cạnh đó đất đaithay đổi từng ngày theo nhu cầu về mục đích sử dụng của con người Phươngpháp đánh giá đã lỗi thời không còn phù hợp nữa vì vậy phải thay thế bằngcác phương pháp đánh giá mới đáp ứng được yêu cầu trên và phải đảm bảođược kịp thời theo sự thay đổi của đất đai Ngày nay GIS đã thực hiện đượcnhững yêu cầu trên theo quy trình cụ thể :
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ trình tự các bước đánh giá biến động trong nghiên cứuKhi công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi thì việc đánh giá biếnđộng không còn là vấn đề lo ngại với các nhà quản lý thực hiện nhanh chóng
Cơ sở dữ liệu đầu vào (số liệu, bản đồ HTSDĐ dạng số)
Phân tích đề xuất giải pháp bền vững
Trang 18phần mềm có chức năng đánh giá biến động trực tiếp ngay trong môi trườngMapinfo, khi tài liệu đã được hoàn thành bằng việc lựa chọn trên thanh công
cụ của VDMap là có thể thực hiện được sự biến đổi của những thửa đất cóbiến động
3.3 Vai trò của hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động
So với việc đánh giá biến động sử dụng đất bằng phương pháp truyềnthống thì việc tự động hoá trong đánh giá biến động cho ta một lợi ích to lớn
VDMap là một chương trình phần mềm trợ giúp trong quá trình thànhlập các loại bản đồ số Trợ giúp trong việc làm giảm một số công đoạn cũngnhư thời gian thành lập bản đồ số, tiết kiệm thời gian công sức mà vẫn đảmbảo tính chính xác, thống nhất của dữ liệu
Phần mềm VDMap chạy trong môi trường Mapinfo với hệ thống menu,thanh công cụ và hộp thoại bằng tiếng Việt, dễ sử dụng Một trong những chứcnăng của phần mềm là đánh giá biến động giữa hai lớp thông tin cùng kiểu
Nguyên lý của việc đánh giá biến động bằng phần mềm này là : Sau khichồng xếp hai lớp thông tin bản đồ lên nhau, máy tính sẽ tự động tìm kiếmnhững vùng có sự khác nhau về trường dữ liệu đã đăng ký giữa hai lớp và tínhtoán diện tích tương ứng của những vùng có sai khác đó trên bản đồ để đưa rakết quả
Để đánh giá biến động, đầu tiên phải mở lớp thông tin cần đánh giá củahai thời điểm khác nhau, đăng ký các lớp thông tin cần đánh giá, sau đó lựachọn trường dữ liệu cần đánh giá vào trong cửa sổ của chương trình (chỉ chophép đánh giá theo từng trường dữ liệu một) Nhấn nút “thực hiện” phần mềm
sẽ tự động tính toán, kết quả cho một lớp thông tin về biến động (chứa dữ liệukhông gian và dữ liệu thuộc tính của những đối tượng có biến động) và một
ma trận biến động Từ lớp thông tin biến động ta có thể xây dựng được bản đồbiến động hiện trạng sử dụng đất Để đánh giá biến động có thể sử dụng matrận biến động hoặc khai thác dữ liệu thuộc tính của lớp thông tin biến động
Trang 19Kết quả của đánh giá biến động ứng dụng GIS là nhận được bản đồbiến động và ma trận biến động Trong đó Bản đồ biến động biểu thị sự phân
bố không gian của các đối tượng bị biến động hoặc cũng có thể biểu thị đượcmức độ biến động của các đối tượng trên bản đồ, còn Ma trận biến động hiểnthị kết quả thống kê diện tích biến động của các loại đối tượng cùng với sựphân bố biến động sang các đối tượng khác Và đây chính là ưu điểm hơn hẳncủa phương pháp này so với các phương pháp khác
Trang 20Chương 4 KẾT QUẢ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HIỆN TRẠNG
SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG
4.1 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quang Kim là một xã vùng thấp của huyện Bát Xát nằm ở phía ĐôngBắc của huyện Trung tâm xã cách trung tâm huyện khoảng 3 km, có đườngranh giới Quốc gia giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 6 km dọc theosông Hồng về phía Đông Bắc của huyện
Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai
Dựa vào bản đồ hành chính huyện Bát Xát cho thấy xã Quang Kim có:
- Phía Bắc giáp xã Bản Qua và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
- Phía Nam giáp xã Phìn Ngan, xã Tòng Sành và xã Cốc San
Trang 21- Phía Đông giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và thành phốLào Cai.
- Phía Tây giáp xã Bản Qua và xã Phìn Ngan
Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển tổng thể các ngành kinh
tế, xã hội trong tương lai, nhất là phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị
Xã có địa hình dạng trung du miền núi bắc bộ, gồm nhiều dải đồi liêntiếp, giữa là các thung lũng thấp dần từ Tây Nam đến Đông Bắc, do kiến tạođịa hình nên xã có điều kiện thuận lợi phát triển tổng thể các ngành kinh tế -
xã hội
Xã Quang Kim nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên mangđặc điểm chung của vùng, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quânhàng năm là 23,40C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 31,80C (tháng 6,7),nhiệt độ trung bình thấp nhất là 16,20C (tháng 12,01)
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1400mm đến 1600mm, nhưngphân bố không đều giữa các vùng các tháng trong năm Mưa chủ yếu tậpchung từ tháng 5 đến tháng 8 với 80% tổng lượng mưa, những tháng còn lại ítmưa (chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng mưa), đặc biệt là các tháng 11, 12lượng mưa rất thấp
Xã Quang Kim nằm trong vùng Bắc Bộ do đó hằng năm phải chịu ảnhhưởng của gió bão, kèm theo đó là mưa lớn tập trung gây lũ lụt ảnh hưởng tớisản xuất và đời sống của người dân Về mùa khô thường xuất hiện sươngmuối, giá rét làm ảnh hưởng lớn tới mùa màng
Nhìn chung trên địa bàn xã được kiến tạo nên một hệ thống sông, suối,khe, rạch, ao, hồ được phân bố khá đều Đây là điều kiện thuận lợi cho pháttriển sản xuất nông lâm nghiệp, đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương
4.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Nằm trên trục Tỉnh lộ tuyến đường nối giữa Lào Cai – Bát Xát và trụcđường Xuyên Á đang triển khai xây dựng vì vậy Quang Kim có điều kiện
Trang 22phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch và làng nghề truyền thống, tuy nhiên
là xã thuần về sản xuất nông nghiệp nên mặt bằng kinh tế còn thấp, đời sốngdân sinh gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư cơ bản nhưngchưa đồng bộ
Theo số liệu điều tra năm 2010 (Phòng thống kê) toàn xã có 21 thônbản, sự phân bố dân cư tập trung nhiều ở khu vực trung tâm xã, dân số 1238
hộ, 5175 nhân khẩu, 2425 lao động
Tổng sản lượng lương thực có hạt là 1650.67 tấn, trong đó Lúa 1050.6 tấn,Ngô 600.07 tấn Bình quân đầu người 319 kg/người/năm Ngoài ra diện tích một
số cây nông nghiệp khác cũng được chú trọng phát triển trên diện rộng
Về chăn nuôi, tổng đàn gia súc năm 2010 là 13961 con trong đó đầntrâu 1839 con, đàn bò 239 con, đàn lợn 11585 con, đàn dê 298 con và tổngđàn gia cầm 14751 con
4.1.3 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
Quang Kim là xã có vị trí thuận lợi, nằm trên tuyến đường tỉnh lộ 158cách thị xã Lào Cai 8km, cách trung tâm Bát Xát 4km Thuận lợi trong việctiếp cận với khoa học kỹ thuật, lưu thông hàng hoá Là xã giáp với láng giềngTrung Quốc nên có những thuận lợi trong giao lưu kinh tế với nước bạn Cóđịa hình đa dạng, phong phú, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyênnước, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các ngành kinh tế nhất làkinh tế nông lâm nghiệp Tình hình quản lý đất đai trong thời gian qua khátốt, công tác quản lý đất đai ngày càng đi vào nề nếp Tình hình xã hội cónhiều thay đổi, dân số ngày càng tăng nhưng đời sống của nhân dân đã đượccải thiện Tiềm năng lao động đồi dào với kinh nghiệm sản xuất, đoàn kết, cần
cù lao động là tiềm năng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế
Song bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn tồn tại những khó khăn nhưsau Là xã có chủ yếu dân tộc ít người sống do đó còn tồn tại tập tục sản xuấtlạc hậu, sản xuất chủ yếu của xã vẫn là nông lâm nghiệp
Trang 234.2 Hệ thống chuyển đổi mã đất cho các loại đất trên khu vực nghiêncứu
Do trong nghiên cứu sử dụng 3 bản đồ hiện trạng ở 3 thời điểm, đó là:năm 2000, năm 2005 và năm 2010 để đánh giá biến động hiện trạng sử dụngđất Thực chất của việc đánh giá biến động là so sánh đối chiếu sự khác nhau
về hiện trạng sử dụng đất Chính vì vậy mà các bản đồ này phải được quychuẩn về cùng một hệ thống ký hiệu bản đồ Trong số các bản đồ tham gianghiên cứu có bản đồ năm 2000 lại thể hiện hiện trạng sử dụng đất của hệthống phân loại cũ (trước năm 2003) nên cần phải được chuyển tương ứng về
hệ thống phân loại hiện hành Kết quả chuyển đổi đã nhận được là bảng mãđất cho 15 loại đất có trên khu vực nghiên cứu
Bảng 4.1: Hệ thống chuyển đổi mã đất xã Quang Kim
T
T Phân loại đất theo hệ thống cũ
Mã loại đất
Phân loại đất theo hệ thống hiện hành Ký
hiệu
5 Đất trồng cây công nghiệp lâu
7 Mặt nước chuyên nuôi cá 27 Đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước
12 Đất làm vật liệu xây dựng 47 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ SKX
Trang 244.3 Sơ đồ các bước thực hiện
Thu thập tài liệu
BĐHT 2000
(BĐ giấy)
BĐHT 2010 (BĐ số trên Microstation)
BĐHT 2005 (BĐ số trên Microstation)
Chuyển đổi định dạng (Micro →Mapinfo)
Chuyển đổi định dạng (Micro →Mapinfo)
Bộ 3 bản đồ lưu trong Mapinfo
BĐHT 2000 BĐHT 2005 BĐHT 2010
Đánh giá biến động bằng phương
pháp truyền thống có sự hỗ trợ của
Mapinfo
Đánh giá biến động bằng phần mềm VDMap trong môi trường Mapinfo
Đánh giá biến động
Giai đoạn 2000 – 2005 Giai đoạn 2005 – 2010 Giai đoạn 2000 – 2010
- Số liệu thống kê diện tích các loại đất.
- Biểu đồ thể hiện tổng diện tích các
2000 – 2005;
2005 – 2010;
2000 – 2010
Ma trận biến động các giai đoạn:
2000 – 2005;
2005 – 2010;
2000 – 2010
Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả biến động và đề xuất giải pháp
Trang 25Sơ đồ 4.1: Sơ đồ các bước thực hiện của quá trình nghiên cứu
4.4 Kết quả thu thập số liệu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu thì tài liệu là phần quan trọngnhất của cả quá trình Tất cả các số liệu thu thập được do điều tra ngoài thựcđịa và số liệu thu được trong phòng đều phải được kiểm tra xác minh đủ tiêuchuẩn mới được đưa vào nghiên cứu Để đạt được yêu cầu đó đề tài đã thuthập các số liệu về bản đồ và các số liệu điều tra bổ sung khác đều do phòngTài nguyên Môi trường huyên Bát Xát cung cấp Các số liệu này được đảmbảo độ tin cậy đủ để phục vụ nghiên cứu, đó là:
1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 được đo vẽ với tỷ lệ1/5000 trên giấy
2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 là bản đồ số được địnhdạng trong môi trường Microstation
3. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 là bản đồ số được địnhdạng trong môi trường Microstation
4 Các tài liệu hỗ trợ khác như bản đồ hành chính của huyện, các bản
đồ quy hoạch xã đến năm 2010
Bên cạnh các tài liệu trên còn các số liệu lưu trong sổ sách là bản báocáo kết quả thống kê kiểm kê diện tích đất đai tính đến ngày 01/01/2005 và01/01/2010, báo cáo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2004 – 2010
Nhìn chung các tài liệu thu thập được đều đủ tiêu chuẩn để đáp ứng chonghiên cứu này
4.5 Kết quả xử lý số liệu
4.5.1 Phân tích, đánh giá chất lượng tài liệu
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được xây dựng trên nền các loại bản đồnhư bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũ, bản đồ địa hình, bản
đồ giải thửa, các loại ảnh hàng không… Trong đề tài này các bản đồ hiệntrạng ở các năm cũng được thành lập theo nhiều cách Các tài liệu được đánhgiá như sau:
Trang 26 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 do trung tâm đo đạc trắc địatỉnh Lào Cai đo vẽ , tỷ lệ bản đồ là 1/5000.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 là bản đồ số được định dạngtrong môi trường Microstation đã được Trung tâm đo đạc trắc địa tỉnh LàoCai tổng hợp bằng phương pháp điều tra, khoanh vẽ ngoại nghiệp dựa trênbản đồ nền địa hình tỷ lệ 1/10000
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 là bản đồ số được định dạngtrong môi trường Microstation đã được Công ty TNHH Bất động sản và Dịch
vụ địa chính Hà Nội tư vấn cho Trung tâm đo đạc trắc địa tỉnh Lào Cai thựchiện dựa trên bản đồ số các năm trước và khoanh vẽ ngoại nghiệp dựa trênnền bản đồ địa hình
Do vậy kết quả đánh giá biến động phụ thuộc vào độ chính xác của tàiliệu thu thập được
4.5.2.Xây dựng bản đồ hiện trạng 2000, 2005, 2010 trong Mapinfo
4.5.2.1 Quét, định vị và số hoá bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 từbản đồ giấy
* Quét và định vị bản đồ.
Để tiến hành thành lập bản đồ thì công việc đầu tiên là quét và định vịbản đồ Quét bản đồ giúp chuyển dữ liệu trên giấy thành file dữ liệu dạng sốlưu dưới dạng raster có đuôi dạng GIF, BIL Sau khi quét bản đồ cần tiếnhành định vị bản đồ giúp chuyển đổi ảnh quét đang ở toạ độ hàng cột của cácpixel ảnh về toạ độ trắc địa để phục vụ cho công tác số hoá bản đồ
* Số hoá các lớp thông tin bản đồ.
Mục đích của quá trình số hoá là biến đổi dữ liệu dạng Raster thành dữliệu dạng Vector
Sau khi có file ảnh raster đã được định vị, tiến hành số hoá các lớpthông tin trên ảnh, sử dụng các công cụ số hoá trong phần mềm Mapinfo đểthực hiện số hoá các đối tượng
Trang 27Trên bản đồ gốc tiến hành số hoá các lớp thông tin thành các file riêng.Kết quả số hoá bởi các lớp thông tin thành phần dưới đây:
Lớp thông tin hiện trạng sử dụng đất (hình 4.2)
Lớp thông tin thuỷ văn (hình 4.3)
Lớp thông tin giao thông (hình 4.4)
Lớp thông tin ranh giới xã (hình 4.5)
Hình 4.2: Lớp TT HTSDĐ Hình 4.3: Lớp TT Thuỷ văn
Hình 4.4: Lớp TT.Giao thông Hình 4.5: Lớp TT.Ranh giới
4.5.2.2 Chuyển đổi định dạng đối tượng bản đồ từ Microstation sangMapinfo
Để chuyển đổi bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và 2010 từ môitrường Microstation sang Mapinfo bằng cách thực hiện lệnh Universal Translatortrong thanh công cụ của Mapinfo Sau đó tiến hành lựa chọn hệ quy chiếu, và cácthông số cần thiết cho bản đồ, hệ quy chiếu mà đề tài chọn là hệ toạ độ VN - 2000
Trang 28Sau khi chuyển đổi kết quả thu được các lớp đối tượng tồn tại ở dạng không gian và được lưu thành các lớp riêng biệt (hình 4.6) Mỗi lớp thông tin này chứa đựng những đối tượng có cùng thuộc tính với nhau và chúng cùng được lưu chung vào một file riêng đó là lớp thông tin các đối tượng dạng đường (lines), các đối tượng dạng vùng (shapes, solids), các đối tượng dạng text, điểm (points), elipses, cung tròn (arcs) Sau khi chuyển đổi ta tiến hành tiến hành chỉnh sửa để tạo ta những lớp thông tin chính cho phù hợp với nội dung của bản đồ.
Hình 4.6: Lớp TT HTSDĐ năm 2010
Trong đó lớp thông tin hiện trạng là lớp thông tin quan trọng nhất, nó làlớp thông tin chính tham gia vào quá trình đánh giá biến động nên cần phảicập nhật đầy đủ cơ sở dữ liệu
4.5.2.3 Chỉnh lý và hoàn thiện dữ liệu bản đồ HTSDĐ các năm
Kết quả sau số hoá cũng như kết quả sau chuyển đổi định dạng, dữ liệunhận được chưa phải đã hoàn thiện và sử dụng được Các dữ liệu này thườnggọi là dữ liệu thô, cần phải qua một quá trình kiểm tra, chỉnh sửa và hợp lệcác dữ liệu Chính vì vậy cần phải tiến hành các công việc sau đây:
Kiểm tra và sửa chữa các lỗi về thuộc tính đồ hoạ (sai lớp, sai kiểuđường, màu sắc, lực nét…)
Trang 29 Sửa các lỗi riêng của dữ liệu dạng đường như lọc bỏ điểm thừa, làmtrơn đường, loại bỏ các đối tượng trùng nhau, sửa các điểm cuối tự do, tạo cácgiao điểm.
Sửa các lỗi của dữ liệu dạng chữ viết
Sửa các lỗi chồng xếp, lỗi thừa điểm, lỗi không khép kín trên lớp thôngtin hiện trạng
Do các đối tượng trên cùng một lớp thông tin được sử dụng cho đánhgiá biến động phải ở dạng vùng, vì vậy nếu lớp thông tin này bị lẫn các đốitượng dạng đường hay điểm cần phải loại bỏ
4.5.2.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2000,
2005, 2010
Sau khi số hoá bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 cũng như chuyểnbản đồ hiện trạng các năm 2005 và 2010 sang Mapinfo thì phải tiến hành xâydựng hệ thống cơ sở dữ liệu cho các bản đồ này Vì mục đích của đề tài là đánhgiá biến động hiện trạng sử dụng đất nên khi thiết kế các trường cơ sở dữ liệu phảihoàn toàn đồng nhất về số lượng, kiểu và đặc tính Cụ thể như sau:
Hình 4.7: Hộp thoại mô tả kết quả thiết kế cấu trúc các trường cơ sở dữ liệuKết quả của thiết kế trên sẽ nhận được bảng cơ sở dữ liệu “rỗng” Sau khi có bảng cơ sở dữ liệu rỗng thì tiến hành nhập cơ sở dữ liệu từ các thông
Trang 30tin cần thiết về mã loại đất (ký hiệu các loại đất) và loại đất cũng như code, diện tích và thứ tự thửa đất.
Đối với bản đồ hiện trạng 2000 tiến hành chọn những thửa có mã loạiđất giống nhau sau đó gán nhãn bằng lệnh “update colum” trên thanh công cụcủa Mapinfo
Còn đối với bản đồ hiện trạng năm 2005 và 2010 thì mã loại đất đượcnhập thông qua chức năng gán nhãn của VDMap Để thực hiện nhiệm vụ gánnhãn thì ít nhất cần phải mở hai lớp thông tin là lớp thông tin hiện trạng (nhậnthông tin) và lớp thông tin text (xuất thông tin), với điều kiện trên lớp thôngtin hiện trạng cần phải thiết kế trường cơ sở để nhận thông tin này và toàn bộ
dữ liệu của lớp thông tin text cần phải “nằm trong” lớp thông tin hiện trạng thìkhi thực hiện gán nhãn mới cập nhật đầy đủ được mã loại đất của từng thửađất trên bản đồ
Còn các thông tin của các trường khác thì sử dụng phương pháp gán tựđộng đối với trường “TT” và “Dientich_ha” và gán trực tiếp cho những loạiđất có ít đối tượng, với những loại đất có số lượng lớn thì sử dụng phươngpháp gán bởi lệnh “Update colum” trên thanh công cụ của Mapinfo
Cần phải chú ý thông tin của trường “Code” phải thống nhất giữa cácloại đất và giữa các bản đồ
Sau khi xây dựng xong cơ sở dữ liệu cho các bản đồ ta thu được kết quả:
* Hệ thống cơ sở dữ liệu của bản đồ hiện trạng năm 2000
Trang 31Hình 4.8: Bảng cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2000
* Hệ thống cơ sở dữ liệu của bản đồ hiện trạng năm 2005
Trang 32Hình 4.9: Bảng cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2005
* Hệ thống cơ sở dữ liệu của bản đồ hiện trạng năm 2010
Trang 33Hình 4.10: Bảng cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010
4.5.2.5.Xây dựng các lớp thông tin bổ trợ
Khi việc tạo lập và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu cho lớp thông tinchuyên đề có thể coi là đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng bản đồ số Nhưng
để bản đồ số có thể in ra giấy để phục vụ cho quá trình quản lý thì cần phảithiết lập một số lớp thông tin bổ trợ là:
Lớp thông tin nhãn bản đồ, lớp thông tin đường bao
Lớp thông tin địa danh
Khung, lưới bản đồ, thước tỷ lệ
Bản đồ hành chính huyện Bát Xát
Bảng chú giải hiện trạng sử dụng đất
Kết quả thể hiện:
Trang 34Hình 4.11: Khung và lưới bản đồ Hình 4.12:
Hình 4.13: Bản đồ hành chính Hình 4.14: Bảng chú giải
4.5.3 Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000, 2005, 2010
Sau khi chuẩn hoá, biên tập và hoàn thiện cơ sở dữ liệu cho các bản đồ
ta tiến hành chồng xếp các lớp thông tin của bản đồ để tạo bản đồ hiện trạng
sử dụng đất Ta tiến hành chồng xếp các lớp thông tin hiện trạng, địa hình,thuỷ văn, giao thông, địa danh và các lớp thông tin bổ trợ… theo nguyên tắcvùng – đường – điểm – text và biên tập quy chuẩn theo hệ thống ký hiệu bản
đồ sẽ được bản đồ hiện trạng sử dụng đất có các lớp thông tin như ý muốn
Trang 354.6 Đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp
truyền thống
Thực chất của việc đánh giá biến động bằng phương pháp truyền thốngchính là dựa vào bẳng thống kê diện tích các loại đất của các năm rồi so sánhđối chiếu, nếu có sự chênh lệch có nghĩa là loại đất đó có biến động Phươngpháp này chỉ cho ta biết diện tích của loại đất đó tăng hay giảm đi bao nhiêu
và một cách gần đúng những khu vực bị biến động trên bản đồ mà nó khôngthể cho ta biết được diện tích bị biến động sẽ chuyển thành những loại đấtnào Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, có sự hỗ trợ của
Trang 36Mapinfo thì công việc này được thực nhanh và chính xác hơn là tính toánbằng tay trên bản đồ giấy.
Kết quả được thể hiện như sau:
4.6.1 Đánh giá biến động giai đoạn 2000 – 2005
* Kết quả thống kê số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2000, 2005Bảng 4.2: Thống kê diện tích theo nhóm loại đất năm 2000, 2005
Số liệu thống kê diện tích theo nhóm loại đất năm 2000 - 2005
Loại đất
Nhóm loại đất
Năm 2000 Năm 2005 Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Nhóm đất ở tại nông thôn là 182.83 ha tăng 36.3 ha
Nhóm đất sản xuất nông nghiệp là 458.07 ha giảm 7.96 ha
Nhóm đất lâm nghiệp là 1944.12 ha tăng 407.94 ha
Nhóm đất chuyên dùng là 68.98 ha tăng 36.03 ha
Nhóm đất đồi núi chưa sử dụng là 353.6 ha giảm 504.77 ha
Nhóm đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 31.49 ha tăng 28.77 ha
Nhóm đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng 3.69 ha
Trang 37Bảng 4.3 Thống kê diện tích đất đai biến động giai đoạn 2000 – 2005
2000 (Ha)
Tăng (+) giảm (-)
Trang 384.6.2 Đánh giá biến động giai đoạn 2005 – 2010
* Kết quả thống kê số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2005 – 2010 Bảng 4.4: Thống kê diện tích đất theo nhóm loại đất năm 2005, 2010
Số liệu thống kê diện tích theo nhóm loại đất năm 2005 - 2010
Diện tích (Ha)
Cơ cấu (%)
Nhóm đất ở tại nông thôn là 183.47 ha tăng 0.64 ha
Nhóm đất sản xuất nông nghiệp là 541.38 ha tăng 83.3 ha
Nhóm đất lâm nghiệp là 1804.37 ha giảm 139.77 ha
Nhóm đất chuyên dùng là 59.85 ha giảm 9.13 ha
Nhóm đất đồi núi chưa sử dụng là 406.67 ha tăng 53.07 ha
Nhóm đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 40.85 ha tăng 9.36 ha
Nhóm đất giao thông giảm là 1.91 ha giảm 0.06 ha
Nhóm đất nghĩa trang, nghĩa địa là 4.78 ha tăng 1.09 ha
Nhóm đất nông nghiệp khác là 1.03 ha tăng 1.03 ha
Nhóm đất phi nông nghiệp khác là 0.47 ha tăng 0.47 ha
Trang 39Bảng 4.5 Thống kê diện tích đất đai biến động giai đoạn 2005 2010– 2010
Loại đất Nhóm loại đất
Diện tích 2010 (Ha)
So với năm 2005 Diện tích
2005 (Ha)
Tăng (+) giảm (-)
4.6.3 Đánh giá biến động giai đoạn 2000 – 2010
Bảng 4.6 Thống kê diện tích đất theo nhóm loại đất năm 2000, 2010
Số liệu thống kê diện tích theo nhóm loại đất năm 2000 - 2010