1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận kết thúc môn học học phần pháp luật đại cương

38 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Khái Niệm Chung Về Pháp Luật
Tác giả Nguyễn Thị Bích Phượng, Nguyễn Thị Minh Anh, Đoàn Thị Kim Chi, Phan Hoàng Hải Đăng, Nguyễn Hoàn Mỹ, Nguyễn Tiến Sĩ, Nguyễn Ngọc Ngân Tiên
Người hướng dẫn TS. Phạm Quốc Hưng
Trường học Trường Đại Học Văn Hiến
Chuyên ngành Kế Toán – Tài Chính
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 411,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó môn học cung cấp cho người học những nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật, những nội dung cơ bản của các ngành luật gốc như Hiến pháp, Hành chính, Dân sự, Hình sự,… tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH

1 Nguyễn Thị Bích Phượng (nhóm trưởng) 211A230039

6

7

TP Hồ Chí Minh, 11/2021

Trang 2

MỤC LỤC

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, THUỘC TÍNH, HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 2

1 Khái niệm về pháp luật 2

2 Thuộc tính pháp luật 2

3 Hình thức pháp luật 2

CHƯƠNG II: QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 3

1 Quy phạm pháp luật 3

1.1 Khái niệm 3

CHƯƠNG III: QUAN HỆ PHÁP LUẬT 4

CHƯƠNG IV: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 5

1 Thực hiện pháp luật 5

2 Vi phạm pháp luật 5

2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 5

2.2 Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật 5

2.3 Cấu thành vi phạm pháp luật 7

2.4 Các loại vi phạm pháp luật 9

3 Trách nhiệm pháp lý 10

3.1 Khái niệm 10

3.2 Các loại trách nhiệm pháp lý 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1 Vai trò của môn học

Pháp luật đại cương là một môn học có nội dung rất phong phú, môn học nghiên cứu các khái niệm cơ bản, các phạm trù cơ bản nhất về Nhà nước và pháp luật với góc

độ khoa học pháp lý Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội có mối quan

hệ mật thiết với nhau tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng Nhà nước và pháp luật được tổ chức, thiết lập theo ý chí của con người để phục vụ chính ý muốn của con người.Vì vậy trong đời sống xã hội, Nhà nước và pháp luật có vai trò rấtquan trọng Pháp luật được áp dụng giải quyết hầu hết các quan hệ trong xã hội

Trên cơ sở đó môn học cung cấp cho người học những nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật, những nội dung cơ bản của các ngành luật gốc như Hiến pháp, Hành chính, Dân sự, Hình sự,… trong hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó giúp người học nâng cao sự hiểu biết về vai trò và sự quan trọng của Nhà nước và pháp luật trong đời sống, để luôn có thái độ tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước, có ý thức đầy

đủ về bổn phận và nghĩa vụ của một công dân đối với quốc gia, biết áp dụng pháp luật trong cuộc sống làm việc của mình, nhất là đối với người học trong các ngành học thuộc khoa học xã hội, vừa cần những lý luận cơ bản về pháp luật, vừa cần những kiếnthức pháp luật chuyên ngành Môn học được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là môn học cơ bản, quan trọng và cần thiết trang bị cho người học ở bậc đại học

2 Đối tượng nghiên cứu:

Nhà nước và pháp luật được rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu với nhiều góc

độ khác nhau Không như những ngành khoa học khác, Pháp luật đại cương chỉ nghiêncứu hiện tượng

Nhà nước và pháp luật với góc độ tổng thể, nên đối tượng nghiên cứu của môn học là những vấn đề chung và cơ bản nhất như nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năngcủa Nhà nước và pháp luật, hình thức Nhà nước, hình thức pháp luật, các khái niệm cơbản trong luật,những quy luật cơ bản của sự phát triển Nhà nước và pháp luật, đồng thời nghiên cứu về Nhà nước và pháp luật Việt Nam hiện nay theo quan niệm chính trị pháp lý nhất định để người học nhận thức và hiểu biết cụ thể về Nhà nước và pháp luậtViệt Nam

3 Mục tiêu

thông dụng

Trang 4

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM, THUỘC TÍNH, HÌNH THỨC PHÁP LUẬT

1 Khái niệm về pháp luật

1 khái niệm của pháp luật

hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợicủa các tầng lớp dân cư trong xã hội

-Vì vậy nên pháp luật cũng đảm bảo cho việc thực hiện này bằng các biện pháp giáodục, tuyên truyền, ở mức độ có hành vi chống đối thì sẽ áp dụng các biện pháp cưỡngchế Điều này đã góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của chủ thể

1.2: Nguồn gốc của pháp luật

-Pháp luật ra đời vì nhu cầu của xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một mức

độ nhất định Khi xã hội đã phát triển quá phức tạp, xuất hiện những giai cấp mang lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu về chính trị – giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thống trị về chính trị và kinh tế trong xã hội

- Pháp luật là hệ thống các quy định mang tính bắt buộc được ban hành bởi nhà nước, thể hiện bản chất của giai cấp thống trị

-Pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước, là công cụ quan trọng để thực hiện quyền lực của nhà nước, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và duy trì địa vị Cả nhà nước và pháp luật đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp

2.Thuộc tính cơ bản của pháp luật

-Thuộc tính là tính chất vốn có, gắn liền, không thể tách rời của sự vật, hiện tượng, qua

đó có thể phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng kia Thuộc tính củapháp luật là những dấu hiệu đặc trưng của pháp luật, nhằm phân biệt chúng với cácquy phạm xã hội khác; quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo

2.1 Tính quy phạm phổ biến

-Tính quy pham phổ biến chứa đựng những nguyên tắc, khuôn mẫu, tính xử sự chung,phù hợp với moi nguoi Pháp luật đưa ra những giới hạn cần thiết mà nhà nước quyđịnh để các chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép

-Pháp luật có thể điều chỉnh một phạm vi quan hệ xã hội bất kỳ

- Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian, nhiều lần trên lãnh thổ, việc

áp dụng các quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ,

Trang 5

bổ sung, sửa đổi bằng những quy định khác hoặc thời hiệu áp dụng các quy phạm đãhết.

-Tính quy phạm phổ biến của pháp luật dựa trên ý chí của nhà nước “được đề lênthành luật” Tuỳ theo từng nhà nước khác nhau mà ý chí của giai cấp thống trị trong xãhội mang tính chất chủ quan của một nhóm người hay đáp ứng được nguyện vọng,mong muốn của đa số nhân dân trong quốc gia đó

VD: phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia xe gắn máy, mọi chủ thể kinh doanh đều phảinộp thuế

2.2 Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức:

-Nội dung của pháp luật được thể hiện trong những hình thức nhất định như tập quánpháp, tiền lệ pháp, văn bản pháp luật Văn bản PL được xác định chặt chẽ về thủ tục,thẩm quyền ban hành

-Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác nhằm đảm bảo nguyên tắc: “Bất cứ ai khi ở vàođiều kiện hoàn cảnh đã được dự kiến trước cũng không thể làm khác được”

-Dể bảo đảm tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức của pháp luật cần đáp ứng yêucầu sau:

+ Xác định mối tương quan giữa nội dung và hình thức của pháp luật;

+ Chuyển tải một cách chính xác những chủ trương, chính sách của Đảng sang cácphạm trù, cấu trúc pháp lý thích hợp

+ Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động xây dựng pháp luật

+ Mỗi văn bản pháp luật phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh, phương pháp điềuchỉnh, cơ quan có thẩm quyền ra văn văn bản

+ Phân định phạm vi, mức độ của hoạt động lập pháp, lập quy

VD: Có trong Hiến pháp, Bộ luật…

2.3 Tính được đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước( tính cưỡng chế)

- Được đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước do Nhà nước ban hành và đảm bảo thựchiện thống nhất Tính được đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước chỗ:

+ Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗingười Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũng phải tuântheo các quy tắc pháp luật

+ Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm màNhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng các quytắc đó

+ Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật được tôntrọng và thực hiện

Trang 6

-Nhằm mục đích trừng trị mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi phạmpháp pháp luật, giáo dục người vi phạm Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên

cơ sở pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyềntiến hành Nhà nước XHCN không thừa nhận các hành vi bạo lực trái với pháp luậttrong việc xử lý các vi phạm pháp luật

-Như vậy, tính được bảo đảm bằng nhà nước của pháp luật được hiểu dưới hai khíacạnh Một mặt nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng cả hai phương pháp thuyếtphục và cưỡng chế, mặt khác nhà nước là người bảo đảm tính hợp lý và uy tín củapháp luật, nhờ đó pháp luật được thực hiện thuận lợi trong đời sống xã hội

VD: Pháp luật nghiêm cấm các hành vi hành hung, xâm hại đến thân thể của ngườikhác nếu ai vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

3 Hình thức pháp luật

Hình thức pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước hay cách thức mà nhànước sử dụng để chuyển ý chí của nó thành pháp luật

Pháp luật có hình thức bên trong và bên ngoài:

– Hình thức bên trong là cơ cấu bên trong của pháp luật, là mối liên hệ, sự liên kếtgiữa các yếu tố cấu thành pháp luật Hình thức bên trong của pháp luật được gọi làhình thức cấu trúc cửa pháp luật, bao gồm các bộ phận cấu thành của hệ thống phápluật như ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật

– Hình thức bên ngoài là dáng vẻ bề ngoài hay phương thức tồn tại của pháp luật Dựavào hình thức của pháp luật, người ta có thể biết pháp luật tồn tại trong thực tế dướidạng nào, nằm ở đâu Hình thức bên ngoài của pháp luật cũng được tiếp cận trong mốitương quan với nội dung của nó Theo cách hiểu này, nội dung của pháp luật là toàn bộnhững yếu tố tạo nên pháp luật, còn hình thức của pháp luật được hiểu là yếu tố chứađựng hoặc thể hiện nội dung Nếu hiểu nội dung của pháp luật là ý chí của nhà nướcthì hình thức pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước

3 Các hình thức pháp luật trong khoa học pháp lý?

Pháp luật có 03 hình thức cơ bản, tức là những hình thức được hầu hết các nhà nước sửdụng, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật Ba hình thức nàycũng đồng thời là ba nguồn hình thức của pháp luật

Trang 7

Đối với vai trò hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tập quán pháp có các ưu điểmvượt trội sau:

Thứ nhất, tập quán pháp là những quy phạm pháp luật có tính hợp lý cao được bảo đảm bởi thời gian và cộng đồng Trong điều kiện mà trình độ phát triển của các cộng

đồng còn khác biệt thì các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao khó xâm nhậpvào các lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng Vì vậy, tập quán pháp sẽ đóng vai trò

vô cùng cần thiết để thay cho pháp luật mà các mối quan hệ xã hội vẫn được giải quyếthiệu quả

Thứ hai, tập quán pháp tạo sự hài hòa hợp lý giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình

áp dụng pháp luật Những tập quán pháp phù hợp lại góp phần làm cho pháp luật được

thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng tin và sự tuân thủ sẵn cócủa người dân đối với các tập quán

Thứ ba, tập quán pháp khắc phục các khiếm khuyết của văn bản quy phạm pháp luật Trong thực tiễn luôn tồn tại những vấn đề cụ thể mà pháp luật chưa quy định hoặc

quy định chưa đầy đủ Trong những trường hợp đó, áp dụng tập quán pháp có ý nghĩa

bổ sung cho pháp luật để điều chỉnh các hành vi xã hội Tập quán pháp và pháp luậtthành văn có mối quan hệ qua lại với nhau rất chặt chẽ Pháp luật thành văn sẽ địnhhướng, tạo nên khung pháp lý cho luật tập quán phát triển Tập quán pháp lại có thểtạo nên cơ sở để pháp luật thành văn điều chỉnh kịp thời các vấn đề xã hội

Việc thừa nhận này trước hết thông qua một nguyên tắc tại Điều 5 Bộ luật dân sự năm

2015: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có

thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này” Đồng thời, Bộ luật

dân sự năm 2015 cũng đã đưa ra nhiều quy định chi tiết thừa nhận tập quán như ápdụng tập quán lựa chọn dân tộc cho con (khoản 1 Điều 29); giải thích giao dịch dân sự(khoản 1 Điều 121); Xác định ranh giới giữa các bất động sản (Khoản 1 Điều 175);xác lập quyền sở hữu (Điều 211); xác định trách nhiệm dân sự (khoản 4 Điều 605) Từ

đó, có thể khẳng định, tập quán chính thức được thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội như các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra

Tuy nhiên, cơ chế chuyển tải các quy phạm tập quán vào cuộc sống còn rất nhiều trở

ngại Một là, tình trạng các cơ quan nhà nước lại “luật hóa” các quan hệ xã hội mà lẽ

ra có thể điều chỉnh tốt bằng tập quán pháp Chẳng hạn, từ Điều 471 Bộ luật dân sựnăm 2015 về hụi, họ, biêu, phường, ngày 19/2/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 19/2019/NĐ-CP về hụi, họ, biêu, phường Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành ra văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh luôn vấn đề được quy định là

áp dụng theo tập quán đã phần nào “vô hiệu hóa” vai trò của tập quán pháp Hai

là, tâm lý e ngại tập quán không minh bạch, mang tính địa phương cục bộ nên nhiều

cơ quan nhà nước “chủ động” né tránh việc áp dụng tập quán pháp Thực tế khảo sát ởmột số tỉnh miền núi thường xuyên áp dụng phong tục, tập quán cho thấy, có đến mộtnửa số bản án, quyết định viện dẫn tập quán để giải quyết tranh chấp không được Việnkiểm sát, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận Ngay đối với các đoàn thể xã hội cũng chỉ

Trang 8

chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quyết định có áp dụng tập quán Ba là,

hiện nay, các quy định pháp luật về việc áp dụng tập quán còn quy định chưa nhấtquán, thậm chí mâu thuẫn nhau Điều 5 của Bộ luật dân sự năm 2015 nêu rõ thứ tự ưutiên trong việc áp dụng tập quán

Theo đó, tập quán được ưu tiên áp dụng trước, nếu không có tập quán mới áp dụngquy định tương tự của pháp luật Tuy nhiên, trong các điều luật cụ thể của Bộ luật dân

sự năm 2015 lại thể hiện sự không nhất quán khi quy định các chủ thể có thẩm quyền

có thể lựa chọn vị trí ưu tiên trong việc áp dụng pháp luật Ví dụ, theo khoản 2 Điều 29

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo

dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thìdân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận củacha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theotập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập

quán của dân tộc ít người hơn” Với quy định này, khó có thể nói rằng tập quán được

ưu tiên áp dụng so với thỏa thuận

3.2 Tiền lệ pháp

Là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xửgiải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việc tương tự Hình thứcnày đã được sử dụng trong các nhà nước chủ nô, được sử dụng rộng rãi trong các nhànước phong kiến và hiện nay vẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật tư sản, nhất là

ở Anh, Mỹ (đặc biệt là trong dân luật)

Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từhoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tùytiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối caocủa luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhànước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật

Tuy nhiên, trên thực tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ (nhất là thời kỳsau cách mạng), do hệ thống pháp luật chưa được xây dựng được hoàn chỉnh, trướcyêu cầu của cách mạng cần phải giải quyết ngay một số vụ việc, trong các nhà nước xãhội chủ nghĩa vẫn còn sử dụng hình thức này Nhưng đó là sự vận dụng linh hoạt dựatrên cơ sở của luật và đường lối chính sách của Đảng Khi hệ thống pháp luật được xâydựng đồng bộ, hoàn chỉnh thì hình thức này không còn tồn tại trong các nhà nước xãhội chủ nghĩa

3.3 Văn bản quy phạm pháp luật

Là hình thức pháp luật tiến bộ nhất Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong đó quy định những quy tắc xử sự chung(quy phạm đối với mọi người) được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Có nhiềuloại văn bản pháp luật Ở mỗi nước, trong những điều kiện cụ thể có những quy địnhriêng về tên gọi và hiệu lực pháp lý của các loại văn bản pháp luật Nhưng nhìn chung,các văn bản pháp luật đều được ban hành theo một trình tự thủ tục nhất định và chứađựng những quy định cụ thể (các quy phạm pháp luật)

Trang 9

Trong pháp luật chủ nô và phong kiến, các văn bản pháp luật còn chưa hoàn chỉnh và

kỹ thuật xây dựng chưa cao Nhiều đạo luật chỉ là sự ghi chép lại một cách có hệ thốngcác án lệ và các tập quán đã được thừa nhận Pháp luật tư sản đã có nhiều hình thứcvăn bản phong phú và được xây dựng với kỹ thuật cao Đặc biệt ở giai đoạn đầu, saukhi cách mạng tư sản thành công, nguyên tắc pháp chế được đề cao đã làm cho phápluật tư sản có hệ thống văn bản tương đối thống nhất dựa trên cơ sở của luật Nhưngvới bản chất của nó cho nên sau thắng lợi hoàn toàn đối với chế độ phong kiến, giaicấp tư sản tự mình phá vỡ nguyên tắc pháp chế do mình đề ra bằng nhiều cách như hạthấp vai trò của nghị viện, mở rộng quyền của tổng thống và chính phủ, sử dụng rộnghình thức tập quán pháp và tiền lệ pháp Bằng cách đó, giai cấp tư sản đã phá vỡ tínhthống nhất theo nguyên tắc pháp chế của các văn bản pháp luật; kỹ thuật xây dựng vănbản cao được sử dụng để che đậy bản chất của pháp luật tư sản

Pháp luật xã hội chủ nghĩa có hệ thống các văn bản thống nhất được xây dựng theonguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và luật Hệthống các văn bản pháp luật xã hội chủ nghĩa ngày càng được xây dựng hoàn chỉnh,đồng bộ với kỹ thuật cao phản ánh đúng bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Trong lịch sử có ba hình thức pháp luật được thừa nhận là tập quán pháp, tiền lệ pháp

và văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, ngoài hình thức văn bản quy phạm phápluật, việc điều chỉnh các quan hệ xã hội còn có thể có sự tham gia của tập quán pháp,tiền lệ pháp

Ở Việt Nam, tiền lệ pháp và tập quán pháp không được coi là hình thức pháp luậtthông dụng và ít được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay khichúng ta đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩathì việc đổi mới tư duy pháp lý, trong đó đổi mới nhận thức về hình thức pháp luật làmột trong những yêu cầu có tính bức xúc, cần được quan tâm đúng mức

Thực tế đã cho thấy, một quy phạm pháp luật phải chứa đựng quy tắc xử sự chung, thếnhưng việc áp dụng các quy tắc xử sự chung này cho mọi trường hợp, kể cả các trườnghợp đặc biệt là điều không thể Văn bản quy phạm pháp luật phải có tính khái quát hóacao Song chính sự khái quát hóa quá cao đó lại khiến cho văn bản quy phạm pháp luật

dễ dàng bộc lộ khuyết điểm Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật thường dễ bị lạchậu so với cuộc sống

Chính những điểm yếu nói trên làm cho văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng yêucầu điều chỉnh toàn bộ hành vi con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội Muốn khắcphục những hạn chế kể trên, cần có nhiều giải pháp mà một trong những giải phápquan trọng là đa dạng hóa hình thức pháp luật

Trang 10

CHƯƠNG II: QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP

để điều chỉnh các hành vi của cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của nhà nước

Theo đó Quy phạm xã hội là những quy tắc xử sự chung của con người nhằm điềuchỉnh mối quan hệ giữa con người với con người trong một phạm vi, cộng đồng nhấtđịnh

2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy nó mang đầy đủ những đặctính chung vốn có của một quy phạm xã hội như: là quy tắc xử sự chung, là khuônmẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi củacon người

Thông qua quy phạm pháp luật ta biết được hoạt động nào có ý nghĩa pháp lý, hoạtđộng nào không có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào phù hợp với pháp luật, hoạt độngnào trái với pháp luật.v.v Ví dụ: Để biết được đâu là hoạt động tình cảm, đâu là hoạtđộng pháp luật chúng ta phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật Để đánh giá hành vinào là trộm, hành vi nào là cướp… phải căn cứ vào các quy phạm của luật hình sự.Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội thì đặc điểm riêng của quy phạmpháp là gì?

- Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với nhà nước Chúng do các cơ quan Nhànước có thẩm quyền đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn, Nhà nước đảm bảo thựchiện bằng nhiều biện pháp

- Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí Nhà nước

- Quy phạm pháp luật được đặt ra không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể

mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh

Trang 11

Vì vậy, quy phạm pháp luật được đặt ra không phải chỉ để điều chỉnh một quan

hệ xã hội cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung

* Nội dung mỗi quy phạm pháp luật thường thể hiện hai mặt: cho phép hoặc bắt buộc.Quy phạm pháp luật vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp Giữa các quy phạmpháp luật luôn có sự liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo nên một hệ thốngpháp luật thống nhất cùng điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội công bằng vănminh

3 Cấu trúc quy phạm pháp luật

Các yếu tố cấu thành quy phạm pháp luật bao gồm 3 bộ phận là Giả định, quy định vàchế tài Tuy nhiên, không phải mọi quy phạm pháp luật luôn có đủ 3 bộ phận này

- Giả định: Giả định là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những

hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ởvào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật

đó Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể nào ở vào nhữngđiều kiện, hoàn cảnh đó

Ví dụ: Bộ luật hình sự quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợidụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặcthực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ

02 năm đến 07 năm

Bộ phận giả định của quy phạm là: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặclợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấuhoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân”

- Quy định: Quy định là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử

sự mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giảđịnh của quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện Bộ phận quyđịnh của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Khôngđược làm gì? Làm như thế nào?

Mệnh lệnh được nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật có thể dứtkhoát, tức chỉ nêu một cách xử sự và các chủ thể buộc phải xử sự theo màkhông có sự lựa chọn

Ví dụ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Khi việc kết hôn trái pháp luật

bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng Hoặc không dứt

Trang 12

khoát, nhiều cách xử sự và cho phép các tổ chức hoặc cá nhân có thể lựa chọn chomình cách xử sự thích hợp từ những cách xử sự đã nêu.

Ví dụ: Luật hôn nhân và Gia đình quy định: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi

cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn; Cơ quan đại diệnngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữacông dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài”)

- Chế tài: Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp

tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêmminh Các biện pháp tác động nêu ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật có thể

sẽ được áp dụng với tổ chức hay cá nhân nào vi phạm pháp luật, không thực hiệnđúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật

Ví dụ: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể

tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệtình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”Trong trường hợp này thì Bộ phận chế tài của quy phạm là phạt tù từ 02 năm đến 07năm

Đó là một số thông tin mà em muốn gửi đến các bạn về quy phạm pháp luật là gì?

II Văn Bản quy phạm pháp luật

1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

pháp luật do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ

xã hội Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008của Việt Nam thì Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước banhành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quyđịnh trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo

2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước

ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định Quyền lực nhà nước có thể chủ yếu tậptrung trong tay một cá nhân hoặc một cơ quan, hay được phân công cho nhiều cơ quankhác nhau thực hiện

Trang 13

Ở nước ta, theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nướcthì tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định

“nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua QH và HĐND là những cơ quan đạidiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệmtrước nhân dân” Xuất phát từ việc các cơ quan đại diện hình thành do kết quả bầu cửtrực tiếp, thể hiện ý chí của nhân dân, vì vậy chúng nhân danh quyền lực nhân dân vàmang tính chất là hệ thống cơ quan quyền lực

Một trong những hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực là xây dựng pháp luật tức làhoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động này có ý nghĩa quyết địnhđối với chất lượng cũng như hiệu quả của quản lý Nhà nước Đóng vai trò quan trọngtạo nên “xương sống” của hệ thống pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơquan quyền lực nhà nước mang những đặc điểm cơ bản sau:

 Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật do chủ thể có thẩm quyền ban hành.Không phải mọi cơ quan nhà nước hoặc mọi cá nhân đều có thẩm quyền banhành văn bản quy phạm pháp luật Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 đã quy định rõ,những cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luậtbao gồm: QH, UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng thẩm phán toà án nhân dântối cao, Chính phủ, HĐND các cấp, UBND các cấp; có sự phối hợp giữa những

cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trungương của tổ chức chính trị- xã hội để ban hành văn bản quy phạm pháp luật liêntịch Những cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật làThủ tướng chính phủ, chánh án Toà án nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểmsát nhân dân tối cao, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ Vì vậy, dấu hiệuđầu tiên để khẳng định một văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lựcnhà nước là văn bản đó phải được ban hành bởi QH và HĐND các cấp

 Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được banhành theo thủ tục, trình tự luật định Xuất phát từ tầm quan trọng của văn bảnquy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành đối với hoạt độngquản lý nhà nước, từ yêu cầu đảm bảo sự chặt chẽ, thống nhất trong hoạt độngxây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy

Trang 14

phạm pháp luật luôn đóng vai trò hết sức quan trọng Cho nên, Luật Ban hànhvăn bản quy pháp luật 2002, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHĐND và UBND 2004 đã quy định trình tự, thủ tục ban hành văn bản quyphạm pháp luật của hệ thống cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa phươngkhá đầy đủ và hợp lý

 Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước chứađựng các quy định xử sự chung (quy phạm pháp luật) Các quy tắc xử sự chính

là những khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuântheo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh

 Thứ tư, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước có đốitượng áp dụng chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn Với nội dung làcác quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực tácđộng lên nhiều đối tượng, đó là một nhóm chủ thể lớn có chung một hoặc một

số yếu tố nào đó như: quốc tịch, địa bàn cư trú… hoặc là mọi chủ thể nằm trongđiều kiện, hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật quy định

Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội cótính phổ biến, nên quy tắc xử sự chung mà các đối tượng tác động của pháp luật phảituân theo khi rơi vào tình huống dữ liệu, tình huống đó có tính lặp đi lặp lại trên thực

tế nên các quy phạm được sử dụng nhiều lần Nói cách khác, văn bản quy phạm phápluật của cơ quan quyền lực nhà nước được sử dụng nhiều lần, nó khác với văn bản ápdụng pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần trên thực tế đối với một hoặc một

số đối tượng cụ thể

3 Các loại văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật được chia làm hai loại là văn bản luật và văn bản dướiluật

Văn bản luật là văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất Văn bản luật bao gồmHiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước, các luật, các bộ luật và các nghịquyết có chứa quy phạm pháp luật của Quốc hội Trong các loại văn bản này thìHiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí tối cao Hiến phápđược ban hành với một thủ tục đặc biệt: phải có từ 2/3 số phiếu thuận trở lên

Trang 15

bản pháp luật nào khác trái với Hiến pháp đều là văn bản vô hiệu và phải đượcbãi bỏ.

Các văn bản dưới luật gồm:

 Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

 Nghị quyết, nghị định của Chính phủ

 Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

 Quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ,Chánh án toà án nhân dân tối cao, viện trưởng: Viện kiểm sát nhân dân tốicao

 Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyển,giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội

 Nghị quyết của hội đồng nhân dân các cấp

 Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp

4 của Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật 2015) gồm:

1) HIẾN PHÁP của Quốc hội

2) BỘ LUẬT của Quốc hội

3) LUẬT của Quốc hội

4) NGHỊ QUYẾT của Quốc hội

5) PHÁP LỆNH của UBTV Quốc hội

6) NGHỊ QUYẾT của UBTV Quốc hội

7) NGHỊ QUYẾT LIÊN TỊCH giữa UBTV Quốc hội với Đoàn ChủtịchUBTWMTTQ Việt Nam

12)QUYẾT ĐỊNH của Thủ tướng Chính phủ

13)NGHỊ QUYẾT của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

14)THÔNG TƯ của Chánh án TANDTC

Trang 16

15)THÔNG TƯ của Viện trưởng VKSNDTC

16)THÔNG TƯ của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

17)THÔNG TƯ LIÊN TỊCH giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC18)THÔNG TƯ LIÊN TỊCH giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Việntrưởng VKSNDTC

19)QUYẾT ĐỊNH của Tổng Kiểm toán nhà nước

20)NGHỊ QUYẾT của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

21)QUYẾT ĐỊNH của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

22)VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT của chính quyền địa phương ở đơn vịhành chính - kinh tế đặc biệt

23)NGHỊ QUYẾT của Hội đồng nhân dân cấp huyện

24)QUYẾT ĐỊNH của Ủy ban nhân dân cấp huyện

25)NGHỊ QUYẾT của Hội đồng nhân dân cấp xã

26)QUYẾT ĐỊNH của Ủy ban nhân dân cấp xã

II Văn bản quy phạm ở Việt Nam

Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật:

Căn cứ theo Luật Ban hành văn bản pháp luật 2015 quy định cụ thể về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 2: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này”

Khoản 1 Điều 3 giải thích “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người

có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”

Theo định nghĩa trên thì dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết một văn bảnquy phạm pháp luật là văn bản đó có chứa đựng “quy phạm pháp luật” hay không? xác

Trang 17

định yếu tố “chứa đựng quy phạm pháp luật” là công việc đầu tiên cần được thực hiện trong toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành một văn bản quy phạm pháp luật Nếu văn bản cần ban hành có chứa “quy phạm pháp luật” thì việc soạn thảo, ban hành văn bản

đó phải tuân theo trình tự, thủ tục của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Ngược lại, nếu không chứa quy phạm pháp luật thì việc soạn thảo và ban hành văn bản

đó không phải tuân theo trình tự, thủ tục soạn thảo của văn bản quy phạm pháp luật Cần lưu ý “chứa đựng quy phạm pháp luật” được hiểu là ngay cả khi văn bản đó chỉ chứa duy nhất một quy phạm pháp luật

điểm của văn bản quy phạm pháp luật như sau: Văn bản phải chứa quy phạm pháp luật, quy tắc xử sự chung và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội;

do luật định;

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các văn bản luật và các văn bản dưới luật chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình

tự, thủ tục quy định theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản luật bao gồm: Hiến pháp, Luật (bộ luật) Các văn bản dưới luật bao gồm: Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Kiểm toán Nhà nước; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, [Hội đồng nhân dân], thông tư của Chánh án tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Nghị quyết liên tịch giữa ủy ban

thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị– xã hội; Thông tư liên tịch giữa Chánh án tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Văn bản quy phạm pháp luật của

HĐND,UBND

Trang 18

Khái niệm và đặc điểm quan hệ Pháp luật

Quan hệ Pháp luật là một loại quan hệ xã hội do các quy phạm Pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia quan hệ có quyền và nghĩa vụ chủ thể, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, cưỡng chế Nhà nước

Như vậy có thể xem quan hệ Pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội xuất hiện dưới sự tác động của quy phạm Pháp luật

Quan hệ Pháp luật là một loại quan hệ xã hội đặc biệt nên có những đặc điểm riêng của

nó mà các quan hệ xã hội khác không có Đó là các đặc điểm sau:

dung thực hiện

Trang 19

CHƯƠNG III: QUAN HỆ PHÁP LUẬT

I khái niệm , đặc điểm quan hệ pháp luật

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong

đó các bên chủ thể tham gia mang những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý do phápluật quy định và được nhà nước bảo đảm thực hiện

- Đặc điểm của quan hệ pháp luật

+ Quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở các quy phạm pháp luật Nếu không cóquy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật Quy phạm pháp luật dự liệunhững tình huống phát sinh quan hệ pháp luật; xác định thành phần chủ thể thamgia quan hệ pháp luật; nội dung những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý

+ Quan hệ pháp luật mang tính ý chí Tính ý chí này trước hết là ý chí của nhànước, vì pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận Sau đó ý chí của các bênchủ thể tham gia quan hệ pháp luật, vì hành vi của cá nhân, tổ chức là hành vi có ýchí

+ Các bên tham gia quan hệ pháp luật ràng buộc với nhau bằng các quyền chủ thể

và nghĩa vụ pháp lý Đây chính là yếu tố làm cho quan hệ pháp luật được thực hiện.Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại

+ Quan hệ pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể cả bằng biệnpháp cưỡng chế Trước hết, nhà nước bảo đảm thực hiện quan hệ pháp luật bằngbiện pháp giáo dục thuyết phục Bên cạnh đó nhà nước còn bảo đảm thực hiện

Ngày đăng: 21/09/2022, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Minh Tâm (Chủ biên), 2009, Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận chung về nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Lê Vương Long, 2006, Những vấn đề Lí luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Lí luận nhà nước và pháp luật
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
5. Trần Thái Dương, 2004, Thể chế hóa đường lối của Đảng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
1. Bộ luật Hình sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 1999 Khác
2. Bộ luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w