chuyên đề “Kĩ thuật nuôi cá lóc thương phẩm
Trang 1Phần 1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản đã có những bước phát triển nhanh và
ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân tăng dần qua các năm Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của đa số cộng đồng cư dân
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam là một nước có tiềm năng phát triển và hợp tác rất lớn về lĩnh vực thủy hải sản, chúng ta được sở hữu nguồn tài nguyên
vô cùng quý giá là “rừng vàng, biển bạc” để phát triển kinh tế
Bên cạnh việc nuôi tôm sú, cua biển và tôm càng xanh, từ năm 2009 đến nay, phong trào nuôi cá lóc theo hình thức thâm canh ở huyện Trà Cú (Trà Vinh) phát triển rất mạnh; bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân tại các xã như Định An, Đại An, thị trấn Định An và Ngọc Biên Trong các loài cá lóc thì cá lóc đầu nhím là loài có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của môi trường Thêm vào đó cá có chất lượng thơm ngon, giá bán cao nên ngày càng được người nuôi thủy sản ưa chuộng (vietlinh.com.vn)
Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích nuôi một cách tự phát không theo sự khuyến cáo và quy hoạch của ngành nông nghiệp đã dẫn đến ô nhiễm môi trường nước tiềm ẩn các mầm bệnh đối với cá nuôi Trong đó, vấn đề thường gặp nhất trong
mô hình nuôi cá lóc dẫn đến thất bại là dịch bệnh xuất huyết do nhiễm virus, đốm
đỏ do vi khuẩn gây hại, các loại ngoại ký sinh như: trùng bánh xe, sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh và tình trạng cá nuôi bị gù lưng trong giai đoạn từ 4 tháng tuổi đến khi thu hoạch gây thiệt hại lớn về kinh tế
Vì thế chuyên đề “Kĩ thuật nuôi cá lóc thương phẩm” sẽ giúp nắm rõ hơn về
quy trình kỹ thuật nuôi cá lóc; giúp địa phương quy hoạch cụ thể vùng nuôi để xây dựng hệ thống thủy lợi đáp ứng nhu cầu nguồn nước
Trang 3Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu sơ lược về đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Vị trí phân loại của cá lóc (vi.wikipedia.org)
Cá lóc được phân loại như sau
Ngoài tự nhiên cá lóc phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ Chúng có mặt
ở sông, kênh rạch, ao, đầm lầy, ruộng, đìa…Cá thích sống nơi có thực vật thủy sinh (rong, cỏ, bèo…) để thuận lợi cho việc rình và bắt mồi
Cá có thể sống trong cả môi trường nước ngọt và lợ (8 - 12‰), độ pH thích hợp
Trang 46.3 - 7.5, nhiệt độ phù hợp cho tăng trưởng của cá 25-30°C Cá thường trú ẩn trong lùm cây cỏ
Đặc biệt, nhờ vào cấu tạo thích nghi của cơ quan hô hấp, sự phát triển của cơ quan hô hấp phụ trên mang, ngoài việc sử dụng oxy có trong nước, cá còn có khả năng lấy oxy trực tiếp từ ngoài không khí (khí trời)
Cá có thể sống trong môi trường chật hẹp, trong điều kiện nước dơ bẩn, nước tù, thiếu oxy Đây cũng là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong ao, vèo và bể bạt…(khoahocchonhanong.com.vn)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng cá lóc
Cá mới nở sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàn trong 3 ngày Từ ngày thứ 4 –
5, khi noãn hoàn đã hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là các loài động vật phù
du kích cỡ nhỏ vừa với cỡ miệng chúng (luân trùng, trứng nước) hay lòng đỏ trứng Từ 5-7 ngày sau cá có thể ăn trùn chỉ hay thức ăn tổng hợp dạng bột Khi cá lóc đạt chiều dài khoảng 5 – 6cm thì có thể rượt bắt các loại cá, tép con
có kích cỡ nhỏ hơn Khi cá có chiều dài trên 10cm thì khả năng rình bắt mồi rất tốt và có tính ăn như cá trưởng thành
Cá lóc là động vật ăn thịt, có tập tính rình bắt mồi Trong điều kiện nuôi, cá quen dần với việc ăn thức ăn tĩnh, cá ăn được nhiều loại thức ăn: cá biển, phụ phế phẩm của nhà máy chế biến, phế phẩm từ lò mổ gia súc, gia cầm và thức ăn viên tổng hợp (khoahocchonhanong.com.vn)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng cá lóc
Giai đoạn nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài Cá càng lớn thì sự tăng trọng càng nhanh
Trong tự nhiên, sức lớn của cá không đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực, do vậy tỉ lệ sống trong tự nhiên của cá thấp
Trong ao nuôi, có thức ăn đầy đủ và chăm sóc tốt thì tỉ lệ sống của cá cao và đạt trọng lượng trung bình 0.5 – 0.8 kg/con sau 6 – 8 tháng (cá lóc đen và lóc bông); 0.6 – 0.7kg/con sau 3.5 – 4 tháng (cá lóc môi trề và đầu nhím) (channuoi.gov.vn)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Trang 5Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5 Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tĩnh có nhiều thực vật thủy sinh Ở nhiệt độ 20 - 350C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàn và bất đầu ăn được thức ăn
tự nhiên bên ngoài
Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột Ngoài ra có thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột
Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muỗi đỏ
Giai đoạn cá giống, sâu gạo là thức ăn ưa thích của cá Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125µm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men
sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính
Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè (nuoicavang.blogspot.com)
Trang 6Vì vậy để chọn lựa được địa điểm phù hợp thì phải xem xét các yếu tố như nguồn nước, chất lượng đất đai và cơ sở hạ tầng nhằm mục đích: giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành xây dựng, đảm bảo cung cấp đầy đủ nước dễ dàng điều chỉnh hệ thống nuôi sau cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường
Địa điểm nuôi cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
- Ao nuôi không bị nhiễm phèn, nhiễm phèn nhẹ có thể cải tạo được Độ pH trong nước dao động từ 7.5 – 8.5
- Ao nuôi phải gần nhà để tiện chăm sóc quản lý
- Ao nuôi phải đặt gần nguồn cấp và thoát nước tốt (sông, kênh, rạch), tránh
xa các nguồn lây ô nhiễm, khu công nghiệp, khu dân cư
2.3.2 Hệ thống công trình ao nuôi và cải tạo ao
2.3.2.1 Hệ thống công trình ao nuôi
Hệ thống công trình ao nuôi gồm có: ao nuôi, máy bơm, hệ thống cấp và thoát nước, hệ thống bờ
Ao nuôi: Ao nuôi có thể thiết kế theo nhiều kiểu dáng, kích cỡ khác nhau tùy
theo địa hình và diện tích chọn địa điểm xây dựng Tuy nhiên, ao nuôi tốt nhất nên có hình chữ nhật hay hình vuông, diện tích từ 300 – 2000m2, độ sâu từ 1.5 – 2.5m Ao nuôi được xây dựng ở nơi có thể chủ động được nguồn nước và có thể tháo cạn khi thu hoạch, không bị ngập bờ khi triều lên cao nhất
Hệ thống bờ: Bờ ao được thiết kế tùy theo địa hình, tính chất của đất, vị trí của
bờ Bờ ao phải vững chắc, không rò rĩ để giữ được nước trong ao
Máy bơm: Ở một số vùng do hạn chế về nguồn nước nên việc cấp nước vào ao
cần sự hỗ trợ máy bơm
Hệ thống cấp nước và thoát nước: Tùy theo kích cỡ, hình dạng, diện tích ao
nuôi và khoảng cách đến kênh dẫn chính mà thiết kế cống cho phù hợp Cống đóng vai trò quan trọng cho ao nuôi để lấy nước và thoát nước
Khi cấp hay thoát nước cho ao nuôi phải có lưới ngăn để giữ cá và tránh cá tạp vào ao nuôi Vì vậy, tốt nhất là nên sử dụng cống ván phai sẽ rất dễ vận hành, có
Trang 7thể là cống xi măng hay cống gỗ có đường kính từ 0.5 – 1m tùy theo điều kiện ao nuôi lớn hay nhỏ
2.3.2.2 Cải tạo ao
Đây là bước đầu quan trọng nhất Cải tạo kỹ sẽ giúp người nuôi nâng cao tỷ lệ sống và hạn chế được nhiều bệnh trong ao nuôi Chuẩn bị ao nuôi cần được thực hiện theo các bước sau:
+ Tháo cạn nước ao sau khi thu hoạch cá
+ Sên vét và hút chất cặn bã tồn trong đáy ao
+ Phơi đáy ao 3 – 5 ngày (ao không có phèn tiềm tàng)
+ Nếu ao nuôi có phèn tiềm tàng thì nên tháo nước còn 5cm trên đáy ao rồi sau
đó bón vôi
+ Sử dụng vôi CaCO3 hoặc Ca(OH)2 rải đều khắp đáy ao, hoặc vũng nước và
bờ ao
+ Lượng vôi bón theo độ pH của đất và nước
Bón vôi cải tạo ao
Vôi có tác dụng tẩy trùng, nâng cao và ổn định pH Trước khi bón vôi cho ao nuôi phải kiểm tra pH đất để xác định đúng lượng vôi cần dùng Vôi thường dùng để chuẩn bị ao là vôi nông nghiệp (CaCO3), vôi tôi (Ca(OH)2), vôi sống (CaO) Liều lượng vôi cần dùng trong cải tạo ao được trình bày theo bảng sau: Bảng 1: Lượng vôi được khuyến cáo dùng trong cải tạo ao
Trang 8Xử lý nước và gây màu nước cho ao nuôi
Mục đích của giai đoạn lấy nước, xử lý nước là để diệt các loài vi khuẩn có trong nước, thúc đẩy các loài vi sinh vật phát triển và ngăn ngừa các loài sinh vật có
hại trong ao
Sau khi lấy nước vào ao ta để khoảng một tuần cho các loài vi sinh vật và trứng
cá phát triển sau đó tiến hành diệt cá tạp, vài ngày sau tiếp tục diệt khuẩn mạnh khoảng 2 - 3 ngày sau tiến hành cấy vi sinh phân hủy các chất lơ lững và lắng tụ dưới đáy, tiến hành bón phân gây màu nước đến khi nào nước có màu ổn định là được
Bón phân gây màu nước
Mục đích của việc bón phân nhằm tăng thêm lượng các loại vật chất dinh dưỡng, đẩy mạnh phát triển số lượng lớn các vi sinh vật làm thức ăn, bảo đảm sức sinh sản tối đa của ao nuôi cá Nói một cách đơn giản là cung cấp thức ăn cho các loài
cá nuôi lớn nhanh, do được ăn đầy đủ các sinh vật làm thức ăn dẫn tới tăng sản
lượng và hiệu quả
Đối với phân hữu cơ: thường dùng để bón lót, chủ yếu là phân chuồng, mỗi mẫu
bón 400kg (một mẫu Trung Quốc = 600m2) Phân chuồng tốt nhất nên ủ, căn cứ vào độ phì của ao, bón 150kg/mẫu
Đối với phân vô cơ: chủ yếu là bón thúc tùy vào điều kiện ao nuôi, chủ yếu dùng
phân đạm phân lân, kali làm cho nồng độ trong nước đạt 0.9N: 0.9P: 0.45K
2.4 Chọn giống và thả giống
2.4.1 Chọn giống
Chọn cá giống phải có kích cở đồng đều, khỏe mạnh, không dị tật Trước khi thả
cá có thể dùng nước muối ăn 3% để tắm cá 3 – 5 phút; kiểm tra nhiệt độ nước thích hợp tránh gây sốc cho cá khi thả, nên thả cá lúc sáng sớm hay chiều tối
2.4.2 Thả giống
Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 - 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8
Trang 9* Lưu ý: vận chuyển lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm hay chiều tối Trước
khi thả nên ngâm bao chứa cá trong ao khoảng 15 phút sau đó mới mở bao, cho nước ao vào bao để cá tự bơi ra Trường hợp vận chuyển bằng thùng hay xô cũng cho nước ao vào từ từ tránh thả cá trực tiếp ra ao
2.5 Các biện pháp kỹ thuật quản lý và chăm sóc
2.5.1 Quản lý cho ăn
Quản lý cho ăn là một trong những khâu rất quan trọng nhất để quyết định sự thành công vì thức ăn chiếm chi phí rất lớn trong giá thành nuôi vì vậy ta cần cho
ăn thật tốt và đúng liều lượng sẽ tiết kiệm được thức ăn và tránh thức ăn dư thừa làm tăng chi phí, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi
Ưu điểm của thức ăn công nghiệp là đầy đủ chất dinh dưỡng, kích cỡ đủ loại phù hợp với từng giai đoạn, dễ vận chuyển và bảo quản
Thông thường ở thời điểm đầu thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn (đối với cá tạp); đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào ao nuôi Việc dùng sàn cho cá ăn được khẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi
Hình 2: Cho cá ăn
Trang 10Bảng 2: Khẩu phần ăn, số lần cho cá lóc ăn trong ao
(Kỹ thuật nuôi và biện pháp phòng trị bệnh một số loài cá nước ngọt – Bayer)
2.5.2 Quản lý môi trường ao nuôi
Môi trường ao nuôi tốt nhất là điều kiện để cá sinh trưởng và phát triển Vì vậy, các yếu tố môi trường: nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy hoà tan, khí NH3, độ trong, chế độ thay nước…được quản lý ở mức thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển tối ưu
Trang 11- Độ trong của nước: độ trong của nước thích hợp cho cá lóc trong ao là 35 đến 40cm Độ trong của ao tùy thuộc vào mật độ tảo trong ao, thức ăn thừa và các chất lơ lửng trong nước
- Chế độ thay nước: chế độ thay nước là một trong những công việc hết sức quan trọng Không nên thay nước mỗi ngày, đặc biệt trong mùa lũ, nước trên nguồn đổ xuống rất đục, ô nhiễm hữu cơ, thuốc trừ sâu và dễ mang mầm bệnh vào trong
ao Để tránh những tác nhân xấu trên, nên thay nước vào lúc triều cường, mỗi đợt
5 ngày và mỗi ngày thay 30% nước trong ao (Kỹ thuật nuôi và biện pháp phòng trị bệnh một số loài cá nước ngọt – Bayer)
2.6 Một số bệnh thường gặp trên cá lóc (tepbac.com)
Bệnh xuất huyết
Tác nhân gây bệnh
- Do nhiều loài thuộc giống Aromonas, Pseudomonas … gây ra
Dấu hiệu bệnh lý
- Xuất huyết da, nắp mang; đốm đỏ xuất hiện trên thân
- Xuất huyết hậu môn
- Góc vi, hàm dưới nắp mang bị tụ máu thành những lớp màu đỏ
- Xoang bụng xuất huyết nội tạng
Điều kiện phát triển bệnh
- Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn ương giống và nuôi thịt
- Bệnh phát triển trong điều kiện cá bị sốc và chuyển mùa, thời tiết bất lợi
- Môi trường ương nuôi nhiễm bẩn, nhiều khí độc, hàm lượng oxy thấp
Phòng bệnh
- Chọn giống tốt, vận chuyển đúng cách tránh xay xát
- Ương nuôi ở mật độ vừa phải
- Tăng sức đề kháng định kỳ bổ sung khoáng VITALET-fish và FISH C, VB12, FOLIC
Trang 12- Xử lý nước định kỳ 1L VBK/1200-1500m3 nước ao cá
Trị bệnh
- Sử dụng (1kg NOROCINE+1kg VB-COTRIM)/10 tấn cá nuôi liên tục 5-7 ngày
Bệnh lở loét
Trong mùa lũ, các ao, hồ nuôi cá thường tích tụ nhiều phù sa, nhiễm bẩn, mùn
bã, rác và các chất thải làm ô nhiễm nguồn nước và tiềm ẩn những mầm bệnh cho cá nuôi Cá lóc nuôi trong mùa lũ thường hay xuất hiện các loại bệnh do các loại kí sinh như trùng bánh xe, sán lá đơn chủ, xuất huyết do nhiễm virus, đốm
đỏ do vi khuẩn, bệnh do nhóm giáp xác gây ra Tuy nhiên, bệnh thường gặp nhất với cá lóc nuôi là bệnh ghẻ hay còn gọi là hội chứng lở loét Bệnh lở loét xảy ra trên cá lóc nuôi không chỉ có ở nước ta mà còn có nhiều ở các nước Đông Nam
Á, các nước trong khu vực Thái Bình Dương
- Ngoài các yếu tố môi trường như nhiệt độ thay đổi, môi trường nước quá dơ bẩn, sự ô nhiễm có thể gây sốc và làm cá nhiễm bệnh, nhiều quan điểm cho rằng nấm ký sinh trong nội tạng Aphanomyces được coi là tác nhân chính gây ra bệnh này Bệnh thường xuất hiện vào cuối mùa mưa (tháng 10-12) và đầu mùa khô (tháng 1-2)
Đặc điểm nhận biết
Dấu hiệu đầu tiên của bệnh là cá ăn ít hoặc bỏ ăn, bơi nhô đầu khỏi mặt nước, nổi
lờ đờ, da xám, có vết loét hoặc các đốm đỏ phát triển ở đầu, thân, vây và đuôi Sau một thời gian bị bệnh cá kiệt sức và chết
Trang 13Quan sát bên ngoài cá thấy xuất hiện nhiều vết nhỏ màu xám hay đỏ Mang, quanh mắt và da xuất huyết, toàn thân có màu xám tối Thương tổn lan rộng thành những vết loét lớn trên vẩy, thân cá Khi cá bệnh nặng sẽ thấy máu chảy ở hậu môn Giải phẫu cá sẽ thấy bóng hơi xuất huyết và teo dần, gan thận cũng xuất huyết Khoang bụng có dấu hiệu tích nước, có nhiều dịch nhờn và xuất huyết
Hình 3: Cá lóc bị lở loét
Phòng bệnh cho cá
Phòng bệnh có tính chất quyết định đến kết quả nuôi, trong đó tẩy dọn ao, bể nuôi theo đúng qui trình kỹ thuật để diệt các tác nhân gây bệnh là rất quan trọng Quản lý tốt môi trường nuôi, cung cấp nước nuôi cá bằng nước sạch Ổn định môi trường, kìm hãm sự phát triển của mầm bệnh bằng cách xử lý định kì 15 ngày/lần bằng dung dịch Vimekon (1g/1m3 nước) Tránh làm cá bị xây xát, không để cá bị nhiễm các loại bệnh ngoài da sẽ tạo điều kiện cho bệnh cá phát triển
Cho cá ăn đủ thức ăn với hàm lượng dinh dưỡng cao làm cá khỏe sẽ có sức đề kháng tốt Thường xuyên trộn thức ăn với men tiêu hóa, vitaminC, premix Khoa Thủy sản (ĐH Cần Thơ) khuyến cáo cách phòng trị bệnh ghẻ cá, xử lý ao nuôi bằng vôi, giữ cho môi trường ổn định, dùng hóa chất formon và thuốc tím làm giảm bớt mật độ vi khuẩn và diệt nấm ký sinh trùng, dùng kháng sinh diệt vi khuẩn làm lành vết thương trên da cho cá
Trị bệnh
Trang 14Khi cá có dấu hiệu bị bệnh cần thay 50% nước bằng nước sạch, vệ sinh xung quanh ao nuôi Xử lý nước bằng Fresh Water với lượng 1kg (650 gói A + 350 gói B) cho 1.000 - 1.500m3 nước Trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cho cá liên tục trong 7 ngày theo liều 250g Desery + 50 ml Vime-Fenfish 2000 cho 1 tấn cá
Bệnh trắng da
Triệu chứng
Đuôi cá xuất hiện vết trắng lan dần về phía đầu, cá mất nhớt, bong da vây
Trị bệnh
- Bắt cá bệnh lên tắm thuốc Streptomycine (1 lọ/10 lít nước), tắm trong 30 phút
Bệnh nấm thủy mi
Dấu hiệu bệnh lý
Trên da xuất hiện những vùng trắng xám, trên đó có sợi nấm nhỏ, mềm, tua tủa như bông gòn Sau vài ngày sợi nấm phát triển đan chéo vào nhau thánh túi trắng như bông gòn có thể nhìn thấy bằng mắt thường
Hình 4: Cá bị bệnh nấm thủy mi
Trị bệnh
- Dùng Xanh metylen 2-3g/m3, liên tục tạt xuống ao 2-3 lần/tuần
- Dùng thuốc tím 2-5ppm tắm cho cá trong khỏang 10 phút
Trang 15Bệnh do sán lá đơn chủ: ký sinh ở mang và da
- Tắm cho cá bằng thuốc tím 10 - 25ppm trong 1 giờ
- Cá ương ở giai đoạn dưới 25 ngày tuổi, bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng gây nên, phòng bệnh này bằng cách định kỳ 10 - 15 ngày bón vôi bột (CaCO3) liều lượng 3-4kg/100m2 hòa với nước, lóng trong, sau đó lấy nước trong đó tạt vào ao (làm nhiều lần), đối với bè treo túi vôi thì liều lượng khoảng
từ 2-4kg/10m3 Giữ cho nước có màu vàng lợt hoặc xanh đọt chuối Cấp, thay nước và tạo dòng chảy để đảm bảo đủ lượng oxy cho ao, tránh ương mật độ dày Thường xuyên dùng muối ăn tưới ao, liều lượng 1-2 kg/m3 nước ao
Trang 16- Cá ương ở giai đoạn lớn hơn 25 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi: Ở giai đoạn này cá hao hụt nhiều nhất Bệnh thường gặp là viêm ruột do cá chuyển loại thức ăn
2.7 Tình hình nuôi thủy sản ở ĐBSCL
Năm 2012 các tỉnh ĐBSCL đưa diện tích nuôi thủy sản lên 795.000 ha, tăng 5.000 ha so năm 2011 với sản lượng đạt 2,4 triệu tấn và cùng cả nước hướng đến mục tiêu xuất khẩu thủy sản đạt 6,5 tỷ USD năm 2012
Đối tượng nuôi chủ yếu là: tôm sú, tôm chân trắng, cá tra, cá rô phi, nghêu (phục
vụ xuất khẩu), tôm càng xanh, cá điêu hồng, chim trắng, thác lác, bống tượng, sò huyết, vẹm xanh, bào ngư, ốc hương (phục vụ trong nước) Phương thức nuôi là quảng canh cải tiến đối với tôm sú và nghêu; nuôi thâm canh đối với tôm chân trắng và cá tra Các đối tượng còn lại nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Vùng nuôi tập trung là các tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre Nuôi nước ngọt tập trung ở các tỉnh ven sông Hậu và sông Tiền như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long (vietnamplus.vn)
2.8 Tình hình nuôi thủy sản ở Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, có bờ biển dài 65km và được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Trà Vinh là địa phương có nhiều chủng loài cây rừng ngập mặn, tạo nên một hệ sinh thái đa dạng: động, thực vật vùng đất ngập nước ven biển Thế nhưng, trong những năm gần đây, cũng giống như một số địa phương khác, phong trào nuôi thủy sản vùng nước mặn tự phát, thiếu sự quản lý nên diện tích rừng ven biển đã bị tàn phá Vùng đất ven sông, ven biển ở tỉnh Trà Vinh nhiều năm về trước được bao phủ một thảm cây rừng đặc trưng của vùng đất mặn ngập nước như đước, mắm, bần, tra, dừa nước v.v (baomoi.com)
Cùng với việc phát triển kinh tế xã hội, xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi và đặc biệt là phong trào nuôi tôm sú cao trào từ năm 2000, chỉ trong vài năm, Trà Vinh đã mất đi hàng nghìn ha rừng ngập mặn Lợi nhuận trước mắt của nghề