ĐỀ TÀI: NÊU KHÍA CẠNH TÍCH CỰC (HOẶC TIÊU CỰC) CỦA CHÍNH SÁCH HẠN CHẾ SINH ĐẺ VÀ ĐƯA RA CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ (HOẶC PHẢN ĐỐI) CHÍNH SÁCH HẠN CHẾ SINH ĐẺ Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là yếu tố cơ bản để phát huy nguồn lực con người. Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang hội nhập với thế giới. Để giải quyết được vấn đề này, đòi hỏi chúng ta phải tìm ra những chính sách phù hợp và một trong những chính sách đang được quan tâm đó là “Hạn chế sinh đẻ”. Chính sách này đã cho thấy được mục tiêu của công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là: vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận gia đình, để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo. Vậy chính sách hạn chế sinh đẻ là gì? Chính sách hạn chế sinh đẻ là chủ trương chính sách của nhà nước về vấn đề sinh đẻ nhằm để kiểm soát tình trạng gia tăng dân số phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước trong mỗi thời kì.
Trang 1ĐỀ TÀI: NÊU KHÍA CẠNH TÍCH CỰC (HOẶC TIÊU CỰC) CỦA CHÍNH SÁCH HẠN CHẾ SINH ĐẺ VÀ ĐƯA RA CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
BẢO VỆ (HOẶC PHẢN ĐỐI) CHÍNH SÁCH HẠN CHẾ SINH ĐẺ
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là yếu tố cơ bản để phát huy nguồn lực con người Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong bối cảnh nước
ta đang hội nhập với thế giới Để giải quyết được vấn đề này, đòi hỏi chúng ta phải tìm ra những chính sách phù hợp và một trong những chính sách đang được quan tâm đó là
“Hạn chế sinh đẻ” Chính sách này đã cho thấy được mục tiêu của công tác dân số kế
hoạch hóa gia đình là: vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận gia đình, để
cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo
I Chính sách hạn chế sinh đẻ là gì?
Vậy chính sách hạn chế sinh đẻ là gì? Chính sách hạn chế sinh đẻ là chủ trương chính sách của nhà nước về vấn đề sinh đẻ nhằm để kiểm soát tình trạng gia tăng dân số phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong mỗi thời kì
Hình 1: Biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm
II Mặt tích cực của chinh sách hạn chế sinh đẻ
Đặt vào trong bối cảnh nền kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta, chính sách hạn chế sinh đẻ phát huy nhưng điểm tích cực như sau:
Một là, Tốc độ gia tăng dân số được khống chế, cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực.
Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh
Trang 2Hình 2: Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Việt Nam
Hai là, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt Tuổi thọ trung bình tăng
nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng,
an ninh
Hình 3: Số liệu dân số theo độ tuổi
Ba là, Đối với sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh:
Chính sách hạn chế sinh đẻ sẽ giúp kiểm soát được khoảng cách giữa các lần sinh con, làm giảm bớt tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, giảm những rủi ro có thể gặp phải nếu sử dụng các phương pháp phá thai không an toàn nếu có thai
Tránh được những hao tổn về sức khỏe của bà mẹ do phải thường xuyên mang thai,
đẻ nhiều, đẻ dày; Tránh được những ốm đau cho trẻ em xảy ra do phải ngừng sớm việc nuôi con bằng sữa mẹ và thiếu sự chăm sóc do có sự ra đời của đứa con mới Khoảng
Trang 3cách giữa hai lần sinh càng thưa, càng giúp cho bà mẹ và trẻ em khỏe mạnh vì người mẹ được phục hồi sau sinh khi sinh con, con được chăm sóc tốt hơn Đẻ ít, đẻ thưa làm cho thể chất và tinh thần của người mẹ được cải thiện và ít phải lo lắng Thể chất và tinh thần của các con cũng được cải thiện vì được chăm sóc nhiều hơn Cả mẹ và con đều có cuộc sống tốt hơn
Chính sách hạn chế sinh đẻ còn làm giảm nguy cơ thai ngoài ý muốn ở những phụ
nữ sống chung với HIV, chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS, giảm tỷ lệ trẻ bị nhiễm bệnh và trẻ sớm bị mồ côi khi sử dụng bằng biện pháp
sử dụng bao cao su
Bốn là, đối với cuộc sống, kinh tế gia đình:
Có một cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn, mỗi một đứa con đều có sự nuôi dưỡng
và chăm sóc tốt hơn, có cơ hội tốt hơn để học hành và phát triển trở thành người tốt Số liệu gần đây cho thấy tỷ lệ phụ nữ đi học đại học cao hơn nam giới Đồng thời, chính sách hạn chế sinh đẻ giảm gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình Điều kiện của mỗi gia đình đã trở nên tốt hơn Do đó, phụ nữ cũng có nhiều tự do hơn trong gia đình Họ được gia đình ủng hộ để theo đuổi những thành tựu trong cuộc sống
Thực hiện tốt chính sách hạn chế sinh đẻ giúp các cặp vợ chồng có nhiều thời gian chia sẻ hạnh phúc và quan tâm con cái; Người mẹ được giải phóng, không trở thành gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội; Người mẹ cũng có nhiều thời gian hơn để tham gia các hoạt động xã hội khác
Tránh được sinh con quá muộn khi tuổi cha mẹ đã cao
Mang lại lợi ích kinh tế cho mỗi gia đình: ngăn ngừa sự nghèo túng; có thể mua sắm thêm tiện nghi cho cuộc sống Gia đình có cơ hội được giáo dục tốt, chăm sóc y tế và vui chơi giải trí nhiều hơn; cha mẹ có thể tiết kiệm tiền cho tuổi già…
Năm là, đối với cộng đồng xã hội:
Những đứa trẻ được sinh ra nhiều không có sự kiểm soát sẽ khiến cho mật độ dân số ngày càng tăng cao, có thể dẫn đến bùng nổ dân số kèm theo các vấn đề về kinh tế xã hội phát sinh như lạm phát, tình trạng đói nghèo gia tăng, trật tự xã hội mất ổn định, thất nghiệp…làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng giảm sút Đồng thời, tình trạng này sẽ cản sự phát triển kinh tế của một ấp, một xã, một huyện, một tỉnh, thậm chí có thể gây bất
ổn về chính trị, ảnh hưởng đến những nỗ lực phát triển quốc gia và khu vực
Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hóa gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan tỏa, thấm sâu trong toàn xã hội Dịch vụ dân số và kế hoạch hóa gia đình được mở rộng, chất lượng ngày càng cao
Trang 4III Cơ sở khoa học và thực tiễn của chính sách hạn chế sinh đẻ
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là khâu chuẩn bị rất quan trọng cho đầu vào của nguồn nhân lực có chất lượng – là một trong những yếu tố chủ yếu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Việc thay đổi quan niệm của người dân ở một đất nước nông nghiệp, chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến về việc sinh con, muốn có “đông con, nhiều cháu” và phải có con trai để nối dõi tông đường còn là một việc làm hết sức khó khăn, lâu dài và phức tạp, quan niệm “trời sinh voi, sinh cỏ” không phải lúc nào cũng đúng trong mọi thời kỳ Chính vì vậy, chính sách hạn chế sinh đẻ khi đưa vào áp dụng trên thực tiễn có thể phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Để chính sách trên có thể được người dân Việt Nam đón nhận và thực hiện tốt thì chúng ta phải đưa ra được những cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của chính sách trên
Về mặt y học, tại sao cần hạn chế sinh đẻ? Hiện nay, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam còn thấp (xếp hạng 116 trong số 188 nước); tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện (hơn 30 năm qua, chiều cao của nam chỉ tăng 4,4
cm và nữ tăng 3,4 cm, thuộc số các nước có chiều cao thấp nhất thế giới)… Vì thế, cần những giải pháp cụ thể đưa chỉ số HDI vào nhóm bốn nước hàng đầu Đông Nam Á; phát triển chiều cao của nam nữ thanh niên Việt Nam
Các gia đình ở vùng xâu vùng xa, điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng thấp, song còn
đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp so với nhiều nước (chênh lệch gần 10 năm) Cho nên cần tăng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh; tăng tỷ lệ nam
nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn; giảm tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, nhất là ở một số dân tộc thiểu số
Nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao khi phụ nữ sinh đẻ nhiều lần Trải qua nhiều lần sinh nở, đây trở thành một trong những nguy cơ cao khiến bạn mắc ung thư cổ tử cung Phụ nữ mang thai nhiều lần, sức đề kháng của cổ tử cung người phụ nữ cũng sẽ bị giảm dần Điều này kéo theo tình trạng rối loạn chức năng và khiến phụ nữ không còn sức
đề kháng và miễn dịch tốt
Là một nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng dân số, mức sinh là thông tin đầu vào cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách về dân số và phát triển Mức sinh chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế và môi trường
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1989, dân số Việt Nam ở thời điểm này là 64,4 triệu người, tăng gấp 2,2 lần so với năm 1960 Tỷ lệ phát triển dân số vẫn còn
ở mức 2,3 %, số con trung bình của mỗi cặp vợ chồng là gần 4 con, số dân tăng lên hằng năm khoảng 1,5 triệu người, tương đương dân số của một tỉnh
Căn cứ vào số liệu của tổng cục điều tra nêu trên và tốc độ đạt kết quả trong gần 30 triển khai công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam kể từ khi bắt đầu vào năm
Trang 51961, Quỹ dân số Liên hợp quốc đã dự báo quy mô dân số Việt Nam sẽ đạt mức 128 triệu người vào năm 2025 và 158 triệu người trước thời điểm giữa thế kỷ XXI
Theo kết quả cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, dân số Việt Nam là 85,8 triệu người, số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 2,09 con, tỷ lệ phát triển dân số là 1,04% Tốc độ tăng quy mô dân số trung bình hàng năm của giai đoạn 10 năm 1999 – 2009 là 1,2%, thấp hơn nhiều so với các giai đoạn trước đó (1,7% cho giai đoạn 1989 – 1999 và 2,1% cho giai đoạn 1979 – 1989) Giai đoạn 2009 –
2019, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1,14% với tổng số dân được tính đến năm 2019 là 96,2 triệu người, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ phải từ đủ
18 tuổi trở lên mới đủ điều kiện kết hôn Việc quy định như vậy là nhằm đảm bảo cho sức khỏe sinh sản của người mẹ và đứa trẻ được sinh ra Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ sinh con ở
độ tuổi chưa thành niên vẫn còn cao (10 – 17 tuổi), nhất là ở vùng núi và trung du, các vùng tập trung nhiều dân tộc thiểu số Trên phạm vi toàn quốc, phụ nữ chưa thành niên sinh con chiếm tỷ trọng 3,3%, trong đó cao nhất ở trung du và miền núi phía bắc là 9,7%, cao hơn 8,5 lần so với đồng bằng sông Hồng là 1,1% Do phong tục tập quán phải lấy chồng, sinh con sớm, nhà phải đông con, người dân chưa có kiến thức về chính sách sinh sản hợp lý nên dân số ở những vùng núi và trung du luôn cao hơn nhiều so với những vùng khác trong cả nước
Từ những số liệu điều tra trên, nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách nhằm hạn chế sinh đẻ để đảm bảo có một tỷ lệ dân số hợp lý, bảo vệ sức khỏe cho người dân, kinh tế
-xã hội được phát triển ổn định
Cơ sở thực tiễn để thực hiện chính sách hạn chế sinh đẻ thể hiện qua: Quá trình thay đổi phát triển và hoàn thiện chính sách dân số nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn: từ năm 1961 đến nay trải qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1
(1961-1975)
Bối cảnh diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Dân số tăng nhanh
- Ban hành chính sách “sinh đẻ có hướng dẫn”, thực hiện công cuộc “sinh
đẻ có kế hoạch” nhằm hạn chế sinh đẻ
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 3.8% giảm xuống còn 2.5% Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 6,3 con (1961) xuống còn 5,25 con (1975)
Giai đoạn 2
(1976-1990) nhưng gặp nhiều khó khăn- Đất nước thống nhất trong độ tuổi sinh đẻ là 4.8 con- Số con trung bình của mỗi phụ nữ
Trang 6về kinh tế xã hội
- Bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước
- Tỷ lệ tăng dân ở các tỉnh miền Nam khá cao 3,2%/năm
- Đẩy mạnh công cuộc sinh đẻ có
kế hoạch và bắt đầu thực hiện chế tài
“thưởng” – “phạt”
- Tỷ lệ tăng dân số nước ta đã giảm
từ 2,5% (1975) xuống còn 1,9% (1990)
Số con trung bình của một phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ giảm từ 5,25 xuống 3,8
Giai đoạn 3
(1991-2000) đạt kết quả, kinh tế - xã hội- Sự nghiệp đổi mới
phát triển
- Sự gia tăng nhanh chóng dân số
Thực hiện chính sách “Dân số
-kế hoạch hóa gia đình”, “Hạ tỷ lệ phát triển dân số đòi hỏi phải làm tốt công tác
kế hoạch hóa gia đình, thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, văn minh và giàu có, là nền tảng trong chiến lược con người của Đảng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho thế hệ chúng ta và các thế hệ mai sau”
- Áp dụng triệt để chính sách
“thưởng – phạt”
- Tổng tỷ suất sinh giảm nhanh từ 3,8 con (1991) xuống 2,3 (2000), thấp hơn 0,6 con so với mục tiêu 2,9 con
- Chất lượng cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình được cải thiện
Giai đoạn 4
(2001-2010) thức trong phát triển kinh tế- Thành tựu và thách
xã hội
- Mục tiêu duy trì mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc 2 con để ổn định quy
mô dân số, đảm bảo cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý
- Nghị quyết số 47-NQ/TW (Khóa IX) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: “Chính sách dân số nhằm chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với
Trang 7những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực”
- Chế tài “thưởng – phạt” chỉ áp dụng ở mức độ nhất định
- Từ năm 2003, Việt Nam thực hiện khuyến khích tự nguyện sinh con
- Tỷ lệ tăng dân số và số con trung bình so với năm 1960 giảm
Giai đoạn 5
(2011 đến
nay)
- Bước vào giai đoạn già hóa dân số
- Chênh lệch giới tính khi sinh
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2013/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược dân số - sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Với mục tiêu là: nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân
bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.Trong
đó, chú trọng việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, tránh mang thai ngoài ý muốn
ở tuổi vị thành niên; tăng cường sàng sọc trước sinh, sơ sinh, thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển bền vững đất nước
- Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách về công tác dân số, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội Song song với đó, khuyến khích toàn dân tham gia thực hiện chính sách dân số và phát triển một
Trang 8cách tự giác và có trách nhiệm.
Kết quả của quá trình thay đổi phát triển hoàn thiện:
Trải qua 5 giai đoạn hình thành, phát triển và hoàn thiện chính sách dân số, mặc dù còn tồn tại những hạn chế nhất định nhưng chúng ta đã đạt được những thành công quan trọng: Mức sống của người dân được nâng cao, chất lượng dịch vụ sinh sản cũng được phát triển; sức khỏe được đảm bảo, tuổi thọ trung bình tăng, nhất là nữ giới
Định hướng tương lai
Từ những kết quả đạt được, chúng ta cần hoạch định chính sách về dân số phù hợp, hạn chế sinh đẻ nhưng vẫn đảm bảo cơ cấu dân số để có nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, tránh tình trạng “chưa giàu đã già”
Liên hệ từ một số nước trên thế giới
Đối với lịch sử của hầu hết loài người chúng ta thời xưa dân số tăng trưởng một cách chậm rãi Cho đến khi những khám phá mới mang đến cho chúng ta nhiều thức ăn hơn và tuổi thọ của chúng ta tăng lên Chỉ trong vòng 100 năm, dân số đã tăng gấp 4 lần, tăng vọt
từ 1.8 tỉ vào năm 1800, đến 2.3 tỉ vào năm 1940, 3.7 tỉ năm 1970, và 7.8 tỉ hiện nay
Nhưng thực ra tỉ lệ gia tăng dân đã đạt đỉnh điểm vào những năm 1960 Kể từ đó tỉ
lệ sinh sản đã giảm khi hầu hết các nước trên thế giới phát triển và được công nghiệp hóa Dân số thế giới giờ đây được kì vọng sẽ cân bằng ở mức khoảng 11 tỉ người vào cuối 2100
Vài thập kỷ trước, nhiều quốc gia Châu Á, phần lớn dân số sống trong nghèo khổ cùng cực, và tỉ lệ sinh đẻ thì rất cao
Trang 9Hãy xem Bangladesh.
Trong những năm 1960, một phụ nữ trung bình có 7 con trong cả cuộc đời 25% những đứa trẻ chết trước 5 tuổi, và trong những đứa trẻ sống sót, chỉ có 1 trong 5 là được tiếp cận giáo dục Tuổi thọ trung bình là khoảng 45 tuổi, và thu nhập bình quân đầu người nằm trong mức thấp nhất thế giới
[H5]
Trang 10Vậy nên trong những năm 1960, Bangladesh đã bắt đầu kế hoạch hóa gia đình, dựa trên ba trụ cột chính
1 Giáo dục giúp thay đổi cái nhìn của phụ nữ Những phụ nữ được giáo dục cao hơn muốn ít con hơn, và trở thành mẹ muộn hơn
2 Chăm sóc sức khỏe tốt hơn giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ, dẫn đến phụ huynh muốn ít con hơn vì họ có thể mong đợi chúng sống sót
3 Những người làm công tác mang biện pháp tránh thai đến cả những vùng hẻo lánh nhất, đưa tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai từ 8% năm 1975 lên 76% vào năm 2019 Cùng nhau các biện pháp này nhanh chóng làm giảm tốc độ tăng trưởng dân số Năm 1960, trung bình một phụ nữ Bangladesh có 7 người con Năm 1996 là 4 con và vào năm 2019 chỉ còn 2 con Điều này cũng thay đổi cơ cấu dân số và kinh tế quốc gia Trước đây nhiều trẻ em được sinh ra nhưng lại qua đời trước khi được đóng góp cho xã hội
Vì trẻ em tử vong ít hơn và ít trẻ em được sinh ra hơn, nhiều thứ thay đổi Trẻ em được giáo dục và trở thành người có ích cho xã hội Chính phủ đã có thể chuyển nguồn vốn từ giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sang thúc đẩy nền kinh tế Đến năm 2024, Bangladesh được kỳ vọng sẽ ra khỏi danh sách các nước kém phát triển trở thành nước đang phát triển