1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

30 Ebook.VCU Giáo trình kinh doanh chứng khoán DHTM !.doc

95 2,6K 74
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Chuyên Ngành
Trường học Trường Đại Học VCU
Chuyên ngành Kinh Doanh Chứng Khoán
Thể loại Giáo Trình
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 913 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gdsgs

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm và nguyên tắc kinh doanh chứng khoán

1.1.1 Khái niệm

Kinh doanh chứng khoán là những dịch vụ do tổ chức kinh doanh chứng khoán cungcấp cho khách hàng bao gồm: mua bán chứng khoán, báo lãnh phát hành chứng khoán, quản lýtài sản, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán

1.1.2 Các điều kiện kinh doanh chứng khoán

Hoạt động kinh doanh chứng khoán dựa trên các nhóm điều kiện chủ yếu:

- Nhóm nguyên tắc tài chính

+ Có năng lực tài chính (có đủ vốn theo quy định của pháp luật, cơ cấu vốn hợp lý),đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết với khách hàng và đủ năng lực tài chính để giải quyếtnhững rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh

+ Cơ cấu tài chính hợp lý, có khả năng thanh khoản và có chất lượng tốt để thực hiệnkinh doanh với hiệu quả cao

+ Thực hiện chế độ tài chính theo quy định của nhà nước (thực hiện nghĩa vụ tài chínhvới nhà nước, tuân thủ các quy định về tài chính theo pháp luật và thực hiện báo cáo tài chínhđầy đủ trung thực)

+ Phải tách bạch tài sản của mình và tài sản của khách hàng Không được dùng vốn,tài sản của khách hàng để làm nguồn tài chính phục vụ kinh doanh của công ty

- Nhóm điều kiện về đạo đức

+ chủ thể kinh doanh chứng khoán phải hoạt động theo đúng pháp luật, chấp hànhnghiêm các quy chế, tiêu chuẩn hành nghề liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán

+ Có năng lực chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc

+ Giao dịch trung thực, công bằng, vì lợi ích của khách hàng, đặt lợi ích của kháchhàng lên trên lợi ích của công ty Trong trường hợp có sự xung đột giữa lợi ích của công ty vàlợi ích của khách hàng phải ưu tiên lợi ích của khách hàng

+ Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết cho khách hàng, bảo vệ tài sảncủa khách hàng, bí mật các thông tin về tài khoản của khách hàng trừ trường hợp khách hàngđồng ý bằng văn bản hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước

+ Không đựơc sử dụng các lợi thế của mình làm tổn hại đến khách hàng và ảnh hưởng

Trang 2

xấu đến hoạt động chung của thị trường, không được thực hiện các hoạt động có thể làm kháchhàng và công chúng hiểu nhầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán

+ Không được làm các công việc có cam kết nhận hay trả những khoản thù lao ngoàikhoản thu nhập thông thường

1.2 Các chủ thể kinh doanh chứng khoán

Thứ nhất: Theo mô hình công ty đa năng, công ty chứng khoán là một bộ phận cấu

thành của ngân hàng thương mại hay nói cách khác Ngân hàng thương mại kinh doanh trên

cả hai lĩnh vực là tiền tệ và chứng khoán

Thông thường theo mô hình này, NHTM cung ứng các dịch vụ tài chính rất đa dạng

và phong phú liên quan đến kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động kinhdoanh khác trong lĩnh vực tài chính

Mô hình này có ưu điểm và hạn chế sau:

sự phát triển của thị trường chứng khoán

* Hạn chế

- Do thế mạnh về tài chính, chuyên môn, nên NHTM tham gia kinh doanh chứngkhoán có thể gây lũng đoạn thị trường, trong trường hợp quản lý nhà nước về lĩnh vực chứngkhoán và quản trị điều hành thị trường còn yếu

- Do tham gia nhiều lĩnh vực sẽ làm giảm tính chuyên môn hoá, khả năng thích ứng vàlinh hoạt kém

Trang 3

- Trong trường hợp thị trường chứng khoán có nhiều rủi ro Ngân hàng có xu hướngbảo thủ rút khỏi thị trường chứng khoán để tập trung kinh doanh tiền tệ.

Thứ hai: Mô hình công ty chuyên doanh: Theo mô hình này, kinh doanh chứng khoán

do các công ty chứng khoán độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận

Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi ro cho hệ thốngngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanh chuyên môn hoá, thúc đẩy

sự phát triển thị trường chứng khoán

Ngày nay với sự phát triển của thị trương chứng khoán, để tận dụng thế mạnh của lĩnhvưc tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành mô hình công ty đa năng một phần– các NHTM thành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán

1.2.2 Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đầu tư

a Quỹ đầu tư

Quỹ đầu tư là tổ chức hoạt động theo phương thức huy động vốn thông qua phát hành

cổ phiếu hoặc chứng chỉ của quỹ, để đầu tư vào chứng khoán và các loại tài sản tài chính khácvới mục đích làm tăng giá trị tài sản của quỹ

Thông thường các chủ thể tham gia vào hoạt động của quỹ bao gồm:

+ Công ty quản lý quỹ: thực hiện quản lý quỹ đầu tư đảm bảo phù hợp với điều kiệnquỹ và làm tăng tài sản của quỹ

+ Tổ chức quản lý tài sản của quỹ: thực hiện bảo đảm, lưu ký chứng khoán, các hợpđồng kinh tế, các chứng từ có liên quan đến tài sản quỹ

+ Tổ chức kiểm tra, kiểm soát hoạt động của quỹ: tuỳ mô hình quỹ mà tổ chức nàythường do ngân hàng hoặc Hội đồng quản trị của quỹ thực hiện với chức năng chủ yếu là kiểmtra, kiểm soát hoạt động của quỹ và công ty quản lý quỹ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhàđầu tư

+ Tổ chức kiểm toán độc lập: thực hiện kiểm soát hàng năm về tài sản và hoạt độngquản lý của công ty quản lý Quỹ để đảm bảo các số liệu báo cáo nhà đầu tư là chuẩn xác

+ Tổ tư vấn luật: thực hiện tư vấn về pháp luật cho hoạt động của quỹ đồng thời giámsát, quản lý chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro và bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư

- Người lưu giữ CK

Đóng vai trò là người bảo quản tài sản của quỹ đồng thời giám sát hoạt động của công

Trang 4

ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư một số nước người lưu giữ CK là ngânhàng giám sát, do công ty quản lý quỹ lựa chọn ngân hàng giám sát có trách nhiệm:

+ Tách biệt tài sản của quỹ với các tài sản khác

+ Kiểm tra giám sát công ty quản lý quỹ sao cho đảm bảo việc quản lý quỹ phù hợpvới pháp luật nhà nước và điều lệ quỹ, bảo vệ nhà đầu tư

+ Thực hiện các quyền lợi thu chi của quỹ theo đúng hướng dẫn của công ty quản lýquỹ

+ Xác định các báo cáo do công ty quản lý quỹ tiến hành các hoạt động vị phạm phápluật hoặc trái với điều lệ quỹ

+ Báo cáo UBNDCKNN khi phát hiện công ty quản lý quỹ tiến hành các hoạt động viphạm pháp luật hoặc trái với điều lệ quỹ

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, đòi hỏi ngân hàng giám sát phải quản lý tàisản của Quỹ tách biệt với các tài sản khác của ngân hàng, ngân hàng giám sát được hưởng phítheo quy định của tiền lệ quỹ

- Nhà đầu tư: là người trực tiếp góp vốn vào quỹ thông qua mua chứng chỉ quỹ đầu tư

Họ có quyền hưởng lợi từ các hoạt động đầu tư của quỹ và yêu cầu công ty quản lý quỹ thựchiện việc đầu tư theo đúng điều lệ quỹ Tuy nhiên, nhà đầu tư không được phép trực tiếp thựchiện quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của quỹ

b Công ty quản lý quỹ

Công ty quản lý quỹ là công ty thực hiện việc điêu hành, quản lý các quỹ đầu tư phùhợp với điều lệ quỹ và làm tăng giá trị tài sản quỹ

Khách hàng của công ty quản lý quỹ thường là các nhà đầu tư có tổ chức: các quỹ đầu

tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính…chức năng của công ty quản lý Quỹ là thực hiện việcđầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng sao cho phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ mà kháchhàng đã lựac chọn

1.2.3 Các chủ thể khác

Ngoài các chủ thể trên, tham gia kinh doanh chứng khoán còn có các chủ thể sau:

- Công ty lưu ký và thanh toán bù trừ: là công ty thực hiện cung cấp dịch vụ lưu ký vàthanh toán bù trừ cho các giao dịch trên thị trường chứng khoán

- Ngân hàng thương mại: tham gia kinh doanh chứng khoán thông qua thực hiện các

Trang 5

nhiệm vụ: đầu tư chứng khoán, lưu ký, thanh toán trên thị trường chứng khoán.

- Các tổ chức trung gian tài chính khác: công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu…cáccông ty này huy động vốn thông qua các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của nó (ví dụ: công tybảo hiểm huy động thông qua bán hợp đồng bảo hiểm, các quỹ hưu trí vốn do các thành viênđóng góp theo định kỳ…) với số vốn huy động được các công ty này sẽ thực hiện đầu tư vàotài sản tài chính, chủ yếu là các chứng khoán Vì vậy, trên thị trường chứng khoán các công tynày là các nhà đầu tư có tổ chức

1.3 Các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán

1.3.1 Các nghiệp vụ kinh doanh của một số tổ chức kinh doanh chứng khoán trên Thị trường chứng khoán

a Công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán thường thực hiện một số nghiệp vụ sau:

- Môi giới: Là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán đứng

ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch trên sở giaodịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà nhà môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh củakhách hàng để hưởng phí hoa hồng, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó

Với tư cách là người môi giới, ngoài việc giao dịch theo chỉ thị của khách hàng, công

ty chứng khoán thường cung ứng các dịch vụ tiện ích khác:

+ Quản lý tài khoản tiền gửi và tài khoản chứng khoán cho khách hàng

+ Quản lý các lệnh giao dịch cho khách hàng

+ Vận hành các đầu mối thông tin và tư vấn cho khách hàng về đầu tư chứng khoán

- Bảo lãnh phát hành: là hoạt động hỗ trợ cho các nhà phát hành khi thực hiện huy

động vốn thông qua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp theo sự uỷ thác của nhà pháthành

Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giỏi về chứng khoán, amhiểu thị trường có năng lực tài chính Họ thường có một mạng lưới bán hàng rộng rãi để đảmbảo cho đợt phát hành thành công Vì vậy thông qua tổ chức bảo lãnh khách hàng, công tychứng khoán được nhận tiền hoa hồng bảo lãnh Tiền hoa hồng bảo lãnh được xác định theo sựthoả thuận giữa nhà phát hành với nhà bảo lãnh

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành thường được thực hiện với sự tham gia của các chủ thể

Trang 6

+ Tổ chức bảo lãnh phát hành

Tuỳ vào quy mô đợi phát hành mà tổ chức thực hiện bảo lãnh phát hành có thể là mộthoặc một tổ hợp bao gồm nhiều nhà bảo lãnh Nhà bảo lãnh phát hành là người đứng ra muahoặc chào bán chứng khoán của một nhà phát hành nh»m thực hiện phân phối chứng khoán

+ Nhóm đại lý phân phối thường bao gồm các công ty chứng khoán tự doanh(dealers)

Thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh, công ty chứng khoán sẽ thực hiện các công việc chính sau:

- Chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành các thủ tục cần thết cho đợt phát hành

- Thành lập tổ hợp bảo lãnh (nếu có)

- Định giá chứng khoán

- Phân phối chứng khoán

- Bình ổn giá chứng khoán sau đợt phát hành

Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong những phương thức sau:

+ Cam kết chác chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL cam kết sẽ mau toàn

bộ chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không

+ Cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL thoả thuận là đại lýcho TCPH, TCBL không cam kết bán bán toàn bộchứng khoán mà cam kết sẽ có gắng tối đa

để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho TCPH phầncòn lại

+ Tất cả hoặc không: trong phương thức này, TCPH yêu cầu TCPL bán một số lượngchứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ bỏ toàn bộ đợt phát hành

+ Tối thiểu và tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cốgắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không Theo phương thức này, TCPH yêucầu TCBL bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn) Vượt trên mức ấy, TCBLđược tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứngkhoán bán được đạt tỉ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ (xem chitiết chưng 3)

- Tư vấn: Tư vấn trong lĩnh vực chứng khoán là hoạt động phân tích, dự báo các dữ

liệu về lĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng

Trang 7

Với khả năng chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, họ sẽ đưa ra các dự báocho khách hàng để tham khảo.

Từ đó khách hàng đưa ra quyết định của chính mình Nhà tư vấn không chịu tráchnhiệm về hậu quả các quyết định của nhà tư vấn Tuỳ vào loại hình tư vấn và thông tin nhà tưvấn cung cấp cho khách hàng mà khách hàng có thể trả các khoản phí

Các công ty chứng khoán thường cung ứng các dịch vụ tư vấn sau:

- Tự doanh: là hoạt động tự mua, bán chứng khoán cho mình để hưởng lợi nhuận từ

chênh lệch giá

Hoạt động này công ty phải tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình, tự gánh chịurủi ro từ quyết định mua, bán chứng khoán của mình Hoạt động này thường song hành vớihoạt động môi giới vì vậy, khi thực hiện hai hoạt động này có thể dẫn đêm xung đột về lợi íchgiữa một bên là lợi ích của công ty chứng khoán và một bên là lợi ích của khách hàng Đểtránh trường hợp này thông thường các thị trường đều có chính sách ưu tiên thực hiện lệnh củakhách hàng trước khi thực hiện lệnh của các công ty chứng khoán

Đối với một số thị trường, hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được gắn liềnvới hoạt động tạo lập thị trường Các công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ tự kinhdoanh thông qua việc mua bán trên thị trường có vai trò định hướng và điều tiết hoạt động củathị trường Gióp phần bình ổn định giá cả trên thị trường

- Quản lý danh mục đầu tư: Là hoạt động trong đó khách hàng uỷ thác vốn của mình

cho công ty chứng khoán thực hiện đầu tư hộ Thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoántheo sự uỷ thác của khách hàng thực hiện đầu tư với mục tiêu bảo toàn vốn và tăng lợi nhuậncho khách hàng

Sau khi ký hợp đồng uỷ thác với khách hàng, công ty chứng khoán có nhiệm vụ thựchiện quản lý vốn cho khách hàng theo hợp đồng uỷ thác bao gồm thực hiện đầu tư và cung ứngcác dịch vụ đi kèm cho khách hàng như: lưu ký chứng khoán, quản lý tài sản và vốn cho kháchhàng, cung cấp tín dụng…

b Quỹ đầu tư chứng khoán.

Các nghiệp vụ chủ yếu của quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm:

- Huy động vốn: Tuỳ vào loại hình quỹ đầu tư và hợp đống uỷ thác với công ty quản

lý quỹ, quỹ đầu tư sẽ lựa chọn hình thức để huy động vốn Đối với quỹ đóng, quỹ thực hiện

Trang 8

huy động vốn một lần khi thành lập quỹ và đầu tư vốn đã huy động được trong suốt thời gianhoạt động của quỹ Đối với quỹ mở, vốn của quỹ có thể huy động thêm vốn khi cần thiết.

Vốn của quỹ được huy động thông qua hai hình thức là phát hành chứng chỉ quỹ hoặc

cổ phiếu của quỹ và vay nợ Tuy nhiên luật pháp các nước đều có hạn chế số lượng vay nợcủa quỹ Thông thướng, quỹ chỉ được vay từ ngân hàng nhằm mục đích phục vụ cho các chiphí phát sinh tức thời hoặc để hỗ trợ các danh mục đầu tư có nhu cầu vốn ngắn hạn

- Đầu tư: Các quỹ đầu tư thực hiện đầu tư theo danh mục Để xác định được một danh

mục đầu tư hiệu quả, các quỹ dựa vào số vốn huy động được, căn cứ vào mục tiêu đầu tư vàkết quả nghiên cứu thị trường, quỹ sẽ quyết định lựa chọn danh mục đầu tư và phân bổ vốnvào các tài sản trong danh mục Các quỹ đầu tư thường có quyết định đầu tư hiệu quả do cáccông ty quản lý quỹ đều có các chuyên gia trong lĩnh vực phân tích và đầu tư tài chính

c Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân và các định chế tài chính khác

- Lưu ký chứng khoán: là hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng

và giúp cho khách hàng thực hiện các quyền liên quan đế sở hữu chứng khoán

- Thanh toán bù trừ: công ty sẽ căn cứ vào kết quả giao dịch để từ đó bù trừ các giao

dịch và xác định nghĩa vụ thanh toán cho các bên tham gia giao dịch

- Đăng ký chứng khoán: công ty đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở

hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán

- Nghiệp vụ của các nhà đầu tư có tổ chức và cá nhân khác: đây là đối tượng kinh

doanh bằng vốn của mính, đầu tư trên thị trường để kiếm lợi nhuận Do đó nghiệp vụ chínhcủa các đối tượng này là phân tích thị trường và dựa vào mục tiêu đầu tư của mình để có quyếtđịnh đầu tư nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán

a Môi trường phát lý

Đối với các nhà đầu tư, chứng khoán là đối tượng kinh doanh đặc biệt, việc định giáchứng khoán rất phức tạp, hoạt động giao dịch phải tuân thủ các quy định rất nghiêm ngặt do

đó nhà đầu tư có thể gặp nhiều rủi ro Đối với mỗi quốc gia hoạt động thị trường chứng khoán

có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nền kinh tế vì vậy, so với các hoạt động kinh doanhkhác Kinh doanh chứng khoán chịu sự điều chỉnh của các quy định luật pháp khá chặt chẽ và

Trang 9

buộc các chủ thể kinh doanh phải tuân thủ Các quy định này đựơc ban hành nhằm mục đích:

- Bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư, đặt biệt là các nhà đầu tư cá nhân

- Đảm bảo thị trường hoạt động trôi chảy và hiệu quả

- Ngăn chặn các hoạt động tiêu cực trên thị trường chứng khoán

- Giảm thiểu sự tác động tiêu cực của thị trường chứng khoán đến các hoạt động củanền kinh tế

b Cơ chế chính sách.

Bên cạnh sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật, kinh doanh chứng khoán còn chịu sựchi phối của hàng loạt các cơ chế, chính sách của nhà nước, của ngành Đặc biệt là cơ chếchính sách tài chính (thuế, phí, lệ phí, trợ cấp…) sẽ tác động trực tiếp đón hiệu quả kinh doanh.Nhà nước ban hành cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho hoạt động kinhdoanh góp phần quan trọng vào hiệu quả kinh doan, các quy định về mức thuế phải nộp cáckhoản phí, lệ phí….các chủ thể kinh doanh được thu, phải nộp hợp lý sẽ giúp các chủ thể kinhdoanh có nguồn thu – chi hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh

c Các nhân tố khác.

- Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: có thể nói môi trường kinh tế, chính trị, xã hội

ảnh hưởng sâu rộng đén hoạt động của nền kinh tế các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như; lam phá, tỷgiá hối đoái, tôc độ tăng trưởng của nền kinh tế…có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt độngcủa thị trường chứng khoán nói chung và dên hiệu quả kinh doanh chứng khoán nói riêng Nếulạm phát được duy trì ở mức hợp lý, tăng trưởng ổn định…là điều kiện thuận lợi để kinh doanhhiệu quả bên cạnh đó, sự ổn định về chính trị và xã hội sẽ tạo điều kiện để thị trướng chứngkhoán phát triển ổn định, hoạt động kinh doanh chứng khoán hiệu quả và phát triển

- Sự phát triển của thị trường chứng khoán: sự phát triển của thị trường chứng

khoán được xem xét ở một số khía cạnh chủ yếu:

+ Cung cầu trên thị trường: thị trường chứng khoán phát triển khi có nguồn hàng hoáphong phú, đa dạng và có đông đảo các chủ thể tham gia mua bán

+ Cơ sở hạ tầng thị trường: bao gồm hệ thống thông tin thị trường, hệ thống giao dịch,

hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ…thị trường phát triển khi cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ

sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện các giao dịch, giảm thiểu rủi ro hệ thống

+ Sự hiểu biết của công chúng về thị trường chứng khoán : Thị trường chứng khoán là

Trang 10

thị trường bậc cao, các chủ thể tham gia thị trường nếu không am hiểu những kiến thức cơ bản

về TTCK thì dễ bị rủi ro Thị trường sẽ thực sự năng động , hấp dẫn khi nhà đầu tư có sự hiểubiết về chứng khoán và thị trường hấp dẫn khi nhà đầu tư có sự hiểu biết về chứng khoán và thịtrường chứng khoán.Vì vậy, sự hiểu biết về thị trường chứng khoán cũng là một trong nhữngnhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh chứng khoán

+ Quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán là vịêc quản lý và giám sát các hoạtđộng phát hành, giao dịch, thanh toán đối với các chứng khoán Việc quản lý này được chútrọng ở khía cạnh lập pháp và hành pháp

- Năng lực của chủ thể kinh doanh: Hoạt động kinh doanh chứng khoán muôn đạt

hiệu quả đòi hỏi bản thân chủ thể tham gia kinh doanh phải là người có kỹ năng phân tích tốt,hiểu biết về lĩnh vực hành nghề Chủ thể kinh doanh có năng lực chuyên môn, có đạo đức nghềnghiệp, làm việc có trách nhiệm sẽ tạo được uy tín trên thị trường và với khách hàng, từ đó cókhả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại

1.4 Đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán.

1.4.1 Khái niệm và tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán

a Khái niệm: Bản chất của đạo đức nghề nghiệp nói chung là tính tin cậy Những

người làm việc trong một ngành nghề nhất định được khẳng định là có đạo đức nghề nghiệp cónghĩa là phải có độ tin cậy, họ sử dụng quyền hạn do tính chất nghề nghiệp mà có phải manglại hiệu qủa tốt nhất cho xã hội Như vậy đạo đức nghề nghiệp được thể hiện qua bốn khíacạnh sau:

- Đủ trình độ và năng lực để thực hiện công việc đạt kết quả cao

- Đủ tiêu chuẩn hành nghề có nghĩa là phải làm việc theo đúng tiêu chuẩn và đúng quytrình công việc

Trang 11

chứng khoán trong xã hội.

b Tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán

- Đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán là yếu tố quan trọngquyết định đến sự tin tưởng của khách hành đối với những người làm nghề kinh doanh chứngkhoán

Các tổ chức thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán là các tổ chức cung ứng dịch

vụ cho khách hàng Để kéo khách hàng về phía mình thì yếu tố hàng đầu là phải tạo được sựtin tưởng Bởi yếu tố đầu tiên đo lường chất lượng các sản phẩm dịch vụ là uy tín của đơn vịcung ứng dịch vụ Trên phương diện này thì đạo đức nghề nghiệp còn quyết định đến sự tồn tại

và phát triển của ngành kinh doanh chứng khoán

- Thông qua các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp sẽ quản lý được tiêu chuẩn vềnghiệp vụ của các công ty chứng khoán

- Một trong những tiêu chuẩn của đạo đức nghề KDCK là làm việc phải đúng theo tiêuchuẩn nghề nghiệp, đúng theo quy trình nghiệp vụ của công việc Thông qua việc đề ra các tiêuchuẩn về đạo đức nghề kinh doanh chứng khoán buộc người làm trong nghề phải thực hiệnnghiệp vụ theo đúng quy trình, đảm bảo chất lượng cao, mang lại hiệu quả cho mình và cho xãhội Điều này cũng đồng nghĩa với các hoạt động trái với tiêu chuẩn công việc sẽ trài đạo đức

1.4.2 Chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp

a Đối với công ty thành viên

Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của các công ty thành viên bao gồm:

- Chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước, các quy chế, quy định của nghề KDCK

- Phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu; Các thông tin cung cấp cho khách hàng

Trang 12

phải đảm bảo tính chính xác, kịp thời, công bằng Tài sản của khách hàng phải được bảo quảntách bạch với tài sản của công ty Tránh sự xung đột về lợi ích giữa khách hàng và công tythành viên Nếu có sự xung đột về lợi ích thì phải ưu tiên lợi ích của khách hàng trước, tránhviệc trục lợi từ khách hàng thông qua các nghiệp vụ.

- Phải chú tâm và cẩn trọng công việc: Công ty thành viên phải xây dựng quy trìnhchuẩn hoạt động, phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ, tận tuỵ và có trách nhiệm đối vớicông việc

- Tình hình tài chính lành mạnh, có cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm đảm bảo khả năng cungứng dịch vụ một cách hiệu quả cho khách hàng

Ngoài ra công ty thành viên phải có sự phối hợp chặt chẽ với đồng nghiệp, với cơ quanquản lý nhà nước và phối hợp trong toàn ngành chứng khoán nhằm đảm bảo hoạt động của cáccông ty thành viên sẽ vì lợi ích chung của ngành chứng khoán và tuân thủ các quy định củanhà nước

b Đối với các cá nhân tham gia thị trường

Tuỳ theo từng nghề mà đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp khác nhau Nhìn chung yêu cầuđạo đức nghề nghiệp của các cá nhân tham gia KDCk bao gồm:

- Tuân thủ các quy định của pháp luật, các quy chế, quy định trên thị trường chứngkhoán (không được thực hiện các hoạt động bị cấm để kinh doanh trên thị trường chứngkhoán, không tạo điều kiện giúp người khác vi phạm pháp luật)

- Tránh trường hợp vì mục tiêu trục lợi cá nhân gây ra những tác động xấu cho thịtrường

- Phải có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý thịtrường để phát hiện và loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trên thị trưởng Đảm bảo thị trường hoạtđộng minh bạch, công bằng và hiệu quả

Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN

2.1 Doanh lợi và rủi ro trong đầu tư chứng khoán

2.1.1 Doanh lợi trong đầu tư chứng khoán

Doanh lợi trong đầu tư chứng khoán được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

● Mức sinh lời tuyệt đối

Mức sinh lời của một khoản đầu tư là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau

Trang 13

một khoảng thời gian đầu tư và phần vốn gốc mà nhà đầu tư bỏ ra ban đầu.

Thu nhập mà nhà đầu tư nhận được trong đầu tư chứng khoán bao gồm:

(1) Cổ tức (D), trái tức (C) do sở hữu cổ phiếu, trái phiếu

(2) Lãi (hoặc lỗ) về vốn đầu tư: là mức chênh lệch giữa giá bán (Pt) và giá muachứng khoán (P0):

Lãi (hoặc lỗ) về vốn đầu tư = Pt – P0 Tổng mức sinh lời = cổ tức (trái tức) ± lãi (lỗ) về vốn

(3) Ngoài các khoản thu nhập trên, khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư còn có thể nhậnđược thu nhập từ chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu thực tế trên thị trường với giá quyềnmua chứng khoán mà nhà đầu tư được hưởng

● Mức sinh lời tương đối

Mức sinh lời tương đối (Rt) phản ánh 1 đồng vốn đầu tư trong 1 năm mang lại baonhiêu thu nhập, nó là cơ sở để so sánh các khoản đầu tư khác nhau

Rn = (1 + Rm) 12/m - 1

● Tổng mức sinh lời trong nhiều năm và mức sinh lời bình quân năm

Phần trên mới xác định các mức sinh lời trong 1 năm hoặc dưới 1 năm và quy đổithành năm Trên thực tế, hoạt động đầu tư có thể kéo dài trong thời gian nhiều năm Ví dụ:đầu tư cổ phiếu dài hạn và cổ tức nhận được đem tái đầu tư và tiếp tục tạo ra mức sinh lời

Gọi R1, R2, R3…, Rt là mức sinh lời mỗi năm trong thời gian đầu tư là t năm Tổng mức sinh lời (Rtnăm) được tính như sau:

Rtnăm = (1+R1) x (1+R2) x… x (1+Rt) - 1

Mức sinh lời bình quân (Rbq) năm được tính theo một trong hai cách sau:

Mức sinh lời bình quân số học:

Trang 14

Gọi R là mức sinh lời danh nghĩa, r mức sinh lời thực tế, h là tỉ lệ lạm phát, ta có thểthấy mối quan hệ giữa chúng như sau:

(1 + R) = (1 + r) (1 + h) → R = r + h + rh

● Mức sinh lời (doanh lợi) kì vọng

Doanh lợi kì vọng E(r) hay mức sinh lời ước tính của một tài sản có rủi ro ở tươnglai là bình quân gia quyền theo xác suất của các kết quả thu được trong tất cả các tìnhhuống xảy ra

E(r) = ∑ Pi Ri i =1 → n

Trong đó: - Pi là xác suất xảy ra của các tình huống i (Tổng Pi = 100%)

- Ri là doanh lợi kì vọng tương ứng với các tình huống i

2.1.2 Rủi ro và đo lường rủi ro đầu tư chứng khoán

2.1.2.1 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán

● Khái niệm rủi ro

Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra của những điềukhông mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất Khác với sự không chắcchắn rủi ro có thể đo lường được

Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro được định nghĩa là khả năng hay xác suất xảy ranhững kết quả đầu tư ngoài dự kiến, hay cụ thể hơn rủi ro là khả năng làm cho mức sinh lợithực tế nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến (thấp hơn) ban đầu

● Các loại rủi ro

Sự dao động của thu nhập, dao động của giá chứng khoán hay cổ tức (lãi suất) lànhững yếu tố cấu thành rủi ro

Rủi ro hệ thống là những rủi ro do các yếu tố, các sự kiện nằm ngoài công ty, công

ty không thể kiểm soát được và nó có tác động rộng rãi đến toàn bộ thị trường, đến tất cảcác chứng khoán

- Do sự thay đổi về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội

- Do kì vọng, tâm lí của nhà đầu tư thay đổi

- Do đầu cơ

+ Rủi ro lạm phát (rủi ro sức mua)

- Tăng giá hàng hóa dịch vụ

- Đồng tiền mất giá

Trang 15

- Giảm lợi nhuận thực của khoản đầu tư

+ Rủi ro lãi suất

Nguyên nhân chính là do sự lên xuống của lãi suất chuẩn (lãi suất trái phiếu chínhphủ) dẫn tới sự thay đổi mức lợi nhuận kì vọng Nói cách khác sự thay đổi chi phí vay vốnđối với các loại TPCP sẽ ảnh hưởng chi phí và LN của công ty phát hành cổ phiếu, tráiphiếu

Sự tăng lên của lãi suất chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống Hệ quả trựctiếp là sự tăng lên của lãi suất chuẩn làm giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống

và ngược lại (Ảnh hưởng ngược chiều)

+ Rủi ro tỉ giá: do sự thay đổi tỉ giá hối đoái + Rủi ro pháp lí

- Lừa đảo

- Không/ khó chuyển nhượng

- Tranh chấp quyền lợi

Rủi ro không hệ thống là những rủi ro do các yếu tố nội tại gây nên, và tác động lên

1 ngành, một công ty hay 1 số chứng khoán nhất định

+ Rủi ro kinh doanh: là sự biến động giá chứng khoán do những thay đổi trong hoạt

động kinh doanh dẫn đến lợi nhuận và cổ tức bị giảm sút Nguyên nhân gây nên tình trạngnày có thể do các tác động từ bên trong và/ hoặc bên ngoài doanh nghiệp

+ Rủi ro tài chính: liên quan đến sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp / xuất

hiện khi công ty tài trợ cho hoạt động của mình bằng vốn vay, kéo theo nghĩa vụ trả nợ, lãi

và phải thực hiện trước khi thanh toán cổ tức cho cổ đông Nếu việc tài trợ bằng vốn vaykhông hiệu quả thì có ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu, trái tức, cổ tức và tiền hoàn vốn chotrái chủ Thông thường một công ty có đòn bẩy tài chính cao thì mức độ rủi ro tài chínhcàng cao

+ Rủi ro thanh khoản

- Khối lượng CP ít → khó mua bán

- Khối lượng giao dịch bình quân thấp, giá giảm → khó bán

- Lưu kí chứng khoán ít → khó bán

2.1.2.2 Đo lường rủi ro

Trong tài chính, người ta thường sử dụng toán xác suất thống kê để đo lường rủi rotrong mức sinh lời của 1 loại, hoặc 1 danh mục chứng khoán bởi các thước đo: phương saihoặc độ lệch chuẩn (căn bậc hai của phương sai)

σ 2 = ∑ { Pi [Ri - E(r)] 2 } i =1→n

Trong đó: Pi là xác suất của trạng thái i

Ri là doanh lợi kì vọng ứng với từng trạng thái i

E(r) là doanh lợi kì vọng của chứng khoán

Độ lệch chuẩn (kí hiệu SD/ σ) = √ σ 2

Độ lệch chuẩn phản ánh mức biến động (dao động) hay mức rủi ro của doanh lợi kì

Trang 16

vọng của 1 chứng khoán, hoặc 1 danh mục chứng khoán Độ lệch chuẩn càng cao thì rủi rođầu tư chứng khoán càng lớn.

2.2 Phân tích đầu tư chứng khoán

Trước khi tiến hành đầu tư vào bất kì chứng khoán nào, cần phải xem xét việc đầu

tư đó trong mối quan hệ so sánh với các cơ hội đầu tư khác Do đó cần tiến hành phân tíchchứng khoán

- Phân tích chứng khoán bao gồm phân tích cơ bản (PTCB) và phân tích kĩ thuật(PTKT)

- Phân tích cơ bản làm cơ sở cho việc nhận biết loại CK tốt, CK không tốt

- Phân tích kĩ thuật để quyết định thời điểm mua bán CK

- Phối kết hợp cả 2 loại phân tích là chìa khóa để thành công trong đầu tư CK

- PTKT là phương pháp dựa vào diễn biến giá và khối lượng giao dịch trong quákhứ để dự đoán, dự báo xu thế trong tương lai

- PTCB trả lời câu hỏi CK nào (cái gì)? PTKT trả lời câu hỏi khi nào?

- Xác định thời điểm là vô cùng quan trọng đặc biệt là ở các thị trường hay biếnđộng và khi thực hiện chiến lược đầu tư ngắn hạn

2.2.1 Phân tích cơ bản

2.2.1.1.Những vấn đề chung về phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản bao gồm:

● Phân tích nền kinh tế vĩ mô và TTCK

+ Các vấn đề quốc tế

- Mức tăng trưởng kinh tế, các vấn đề chính trị nhạy cảm

- Chính sách bảo hộ, chính sách tự do hóa tài chính, chính sách tiền tệ (3 công cụ:nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc)

- Chính sách thương mại ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

+ Các vấn đề quốc gia

- Môi trường chính trị xã hội

- Môi trường pháp luật

- Các điều kiện kinh tế vĩ mô: GDP, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỉ giá, sức chitiêu (sức mua),…

+ Các dự đoán về tình hình kinh tế và xu hướng của thị trường: quan hệ giữa thựctrạng nền kinh tế với diễn biến chung của TTCK không phải lúc nào cũng diễn ra cùngchiều và nếu có thì chúng có thể xảy ra theo các chiều hướng và trật tự khác nhau

+ Diễn biến của chỉ số giá trên thị trường

+ Diễn biến giao dịch: chênh lệch cung cầu, chênh lệch khối lượng giữa các mứcgiá, tỉ lệ tham gia đặt lệnh,…

+ Hành vi của nhà đầu tư CK: có phải là nhà đầu tư theo lí trí, nhà đầu tư tích cựchay thụ động, có phải là nhà đầu tư ngắn hạn,…

● Phân tích ngành

+ Ngành là gì?

Theo Porter, ngành là 1 nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tương

tự nhau, vì vậy cạnh tranh trực tiếp với nhau

Trang 17

- Phân tích đối thủ cạnh tranh

● Phân tích doanh nghiệp

+ Mục tiêu:

- Đánh giá tổng quan về doanh nghiệp: quá trình ra đời và phát triển, ngành nghềkinh doanh, thị trường, công nghệ, nhân lực, quản trị, điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức

và triển vọng

- Đánh giá khả năng sinh lời: ROA, ROE, P/E…

- Đánh giá tình trạng tài chính: cơ cấu vốn, tài sản, khả năng thanh toán

- Định giá chứng khoán

+ Quy trình phân tích:

- Thu thập thông tin: thông tin nội bộ, thông tin bên ngoài, thông tin kế toán, quảntrị (các báo cáo tài chính của công ty: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh,báo cáo lưu chuyển tiền tệ…)

- Xử lí thông tin: so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân

- Dự đoán, ra quyết định: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ

+ Phương pháp phân tích:

(1) Phương pháp phân tích tỉ lệ

→Tính toán các chỉ tiêu tài chính theo tỉ lệ

→So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp:

- Giữa kì này với kì trước

- Giữa chỉ tiêu kế hoạch với thực hiện

- Với chỉ tiêu trung bình ngành

Ưu điểm của phương pháp:

- Đơn giản, dễ tính

- Thấy được xu thế biến động của các chỉ tiêu tài chính

- Đánh giá được vị thế của doanh nghiệp trong ngành

Nhược điểm của phương pháp:

- Số liệu không cập nhật, thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến kết quả tính toán vàcác nhận xét đánh giá có thể không xác đáng, trung thực

- Chỉ tiêu trung bình ngành khó xác định

- Không thấy rõ được nguyên nhân thay đổi của các chỉ tiêu tài chính

(2) Phương pháp tách đoạn: tách 1 chỉ tiêu tổng hợp thành nhiều chỉ tiêu cấu thành

bộ phận có mối quan hệ nhân quả

Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Doanh thu Tổng tài sản

Trang 18

= x - x

Vốn CSH Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH

2.2.1.2 Phân tích các chỉ tiêu tài chính

Phân tích các chỉ số tài chính sẽ cho thấy mối quan hệ đầy đủ ý nghĩa hơn giữa cácgiá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính Nếu như một con số riêng lẻ trong một báo cáo tàichính không thực sự nói lên nhiều điều, thì một chỉ số tài chính riêng lẻ cũng có giá trị rấtthấp nếu chúng ta không xét nó trong mối tương quan với các chỉ số khác Từ những chỉ sốđược phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt độngcủa công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế, lĩnh vực ngành, các nhà cạnhtranh chủ yếu trong phạm vi ngành, kết quả hoạt động trước đây của công ty

♦ Nội dung phân tích:

Trên cơ sở hệ thống số liệu đã được phản ánh ở các báo cáo tài chính liên quan, đểđánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp người ta thường tính toán và phân tích một sốcác chỉ tiêu sau:

● Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh toán

Hệ số thanh toán chung

sở hữu và đang đi đến bờ vực phá sản

Trang 19

được từ đầu tư tài chính và các khoản phải thu để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn.

Nhìn chung các hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cao đem lại sự an toàn về tình hình tàichính, đảm bảo doanh nghiệp luôn có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.Ngược lại các hệ số thanh toán thấp thể hiện tiềm năng thanh toán kém Tuy nhiên, 1 doanhnghiệp có hệ số thanh toán nợ ngắn hạn quá cao cũng có mặt không tốt, do doanh nghiệptồn trữ khối lượng tiền quá lớn, một loại tài sản gần như không sinh lời

● Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn và tình hình tài sản

Hệ số nợ

mà có những đánh giá xác đáng về doanh nghiệp

= Giá trị TSLĐ và ĐTNH

Các chỉ tiêu phản ánh quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn (9)

- Quan hệ giữa TSCĐ và nguồn dài hạn

Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu (Vcsh) + Nợ dài hạn (Nợdh)Nếu TSCĐ > Nguồn dài hạn chứng tỏ nguồn tài trợ không hợp lý, doanh nghiệp dễlâm vào tình trạng thiếu và mất khả năng thanh toán do dùng nguồn ngắn hạn tài trợ cho tàisản dài hạn

- VLĐ thường xuyên = Vcsh + Nợdh - Giá trị còn lại của TSCĐ (VCĐ)

- Vốn lưu động thuần = TSLĐ và ĐTNH - Tổng nợ ngắn hạn

(Net working capital)

● Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản

= Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân

Giá trị hàng bán bình quân 1 ngày

(11)

Vòng quay hàng tồn kho phản ánh trong 1 kì, hàng tồn kho luân chuyển được baonhiêu lần Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày từ khi mua nguyên vậtliệu, hàng hóa đến khi bán được hàng

Trang 20

Nhìn chung, so với kì trước, vòng quay hàng tồn kho giảm, hay thời gian của 1 vòngquay hàng tồn kho tăng, chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọng, kéo theonhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng (trong điều kiện quy mô sản xuất kinh doanh khôngthay đổi).

Nguyên nhân làm giảm vòng quay hàng tồn kho có thể do:

- Hiệu quả quản lí yếu tố đầu vào không tốt,

- Chu kì sản xuất kéo dài,

- Thành phẩm hàng hóa không bán được,

- Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa,

- Các nguyên nhân khách quan khác

Thận trọng khi phân tích: trường hợp vòng quay hàng tồn kho tăng song phản ánh xu

hướng tài chính không tốt (sau khi bán, hàng khan hiếm, giá cả đầu vào tăng, không cóhàng bán…)

Vòng quay

các khoản phải thu

= Doanh thu bán chịu trong kì

Phải thu bình quân

(12)

Kỳ thu tiền bình quân = Phải thu bình quân

Doanh thu bán chịu bquân 1 ngày (13)

Kì thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để chuyển các khoản phải thu từngười mua thành tiền Nó cho thấy hiệu quả của cơ chế quản lí tín dụng của doanh nghiệp Nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quay khoản phải thubình quân tăng, hay kì thu tiền bình quân ngắn hơn so với kì trước thường được coi là tốt,bởi các tác động tích cực sau:

- Làm giảm vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán,

- Giảm nhu cầu vốn của doanh nghiệp (trong điều kiện quy mô sản xuất không thayđổi)

- Tăng hiệu quả sử dụng vốn

- Tăng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho chủ nợ

Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của doanh nghiệp không thay đổi, vòng quaykhoản phải thu bình quân giảm, hay kì thu tiền bình quân dài hơn so với kì trước thườngđược đánh giá là không tốt Nguyên nhân của tình trạng đó có thể là:

- Công tác giám sát, quản lí nợ của doanh nghiệp không tốt

- Khách nợ cố tình chây ỳ, hoặc lâm vào tình trạng thiếu / mất khả năng thanh toán

- Kết quả của những biện pháp nhằm duy trì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…Lưu ý: cần thận trọng khi phân tích trong các trường hợp, vòng quay khoản phải thutăng song lại phản ánh xu hướng tài chính không tốt do các khoản phải thu giảm kéo theokết quả tiêu thụ giảm Cần phân tích kĩ nguyên nhân để có cách nhìn nhận đánh giá chínhxác

Kỳ thanh toán (phải trả)

Trang 21

● Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và phân phối thu nhập

Chỉ số lợi nhuận/ doanh thu

(doanh lợi)

Doanh thu thuần

(16)

(Net profit margin - lợi nhuận biên)

Trên thực tế, mức độ lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong mộtngành thì công ty nào quản lí và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực…) tốt hơn thì

sẽ có hệ số lợi nhuận / doanh thu (lợi nhuận ròng) cao hơn

Chỉ số lợi nhuận/ tài sản

Thu nhập ròng một cổ

phiếu thường (EPS)

= Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãiTổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành

(19)

Tài sản ròng một cổ

phiếu thường (NAV)

= Tổng tài sản - Tổng nợ - Tổng mệnh giá CPUĐTổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành

Hệ số chi trả cổ tức

(DPS/ EPS)

= Tổng cổ tức đem chia cho cổ phiếu thường

Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi

(22)hoặc, Hệ số chi trả cổ tức = 1 – tỉ lệ thu nhập giữ lại

Hệ số chi trả cổ tức thường được tuyên bố tại đại hội cổ đông thường niên, nói lên cổ

Trang 22

tức của cổ đông chiếm bao nhiêu phần trăm trong thu nhập, nó cũng nói lên chính sách chia

cổ tức của công ty Chính sách này có thể thay đổi theo từng thời kì và do đó nó phản ánhchiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Suất cổ tức hiện hành = Cổ tức 1 cổ phiếu thường (DPS)

Thị giá cổ phiếu thường (23)

Suất cổ tức hiện hành phản ánh thu nhập của nhà đầu tư tính trên vốn thực anh ta phải

bỏ ra để có được cổ tức tương ứng

● Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty

Hệ số thu nhập giữ lại (b) = 1 - hệ số chi trả cổ tức (24)

Hệ số thu nhập giữ lại là 1 yếu tố quan trọng nói lên sự tích lũy của công ty cho tươnglai, góp phần vào tốc độ phát triển của công ty sau này

Hệ số giá / thu nhập

(P/E)

= Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)

Thu nhập ròng của một cổ phiếu (EPS)

Tốc độ tăng trưởng (growth rate) = Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) x ROE (27)

Trên thực tế, số lượng các loại chứng khoán được cung ứng cho thị trường là rất lớn

Vì vậy, nhà đầu tư không thể tiến hành phân tích tất cả các loại chứng khoán hiện có trênthị trường Ngay cả các nhà phân tích chuyên nghiệp, tùy theo điều kiện và những thếmạnh riêng mà họ có thể chỉ chuyên phân tích chứng khoán ở một ngành hoặc một nhómngành nhất định Để đạt hiệu quả cao trong phân tích, nhà đầu tư cần tuân thủ một quytrình bao gồm các bước sau :

- (1) Lựa chọn 1 vài doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực (ngành) mà mình quan tâm đểtìm thông tin

Trang 23

- (2) Phân tích, so sánh tình hình tài chính của doanh nghiệp giữa các thời kì và vớicác doanh nghiệp khác trong cùng ngành, hoặc số trung bình của ngành.

Mỗi chỉ số đề cập ở phần trên chỉ cung cấp một số thông tin về mức độ hiệu quả tronghoạt động của một công ty Do vậy, việc phân tích tài chính chỉ đặc biệt có ý nghĩa khi cómột số chuẩn mực để so sánh, ví dụ so sánh các chỉ số của cùng một doanh nghiệp giữa cácthời kì khác nhau để đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp ; so sánh các chỉ sốcủa doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh, với ngành, hay với công ty hoạt động tốt nhấttrong cùng ngành để chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu của công ty được lựa chọn phântích

- (3) Đánh giá tổng quát về các cổ phiếu, trái phiếu đã phân tích; so sánh đối chiếu vớimục tiêu đã xác định để ra quyết định đầu tư

Việc phân tích tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp ở hiện tại

và dự báo triển vọng của nó ở tương lai, do đó nếu chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu, phântích là các báo cáo tài chính thì có thể có những nhìn nhận đánh giá lệch lạc, thiếu xác đáng

về một doanh nghiệp Vì vậy, cần phải kết hợp với các nội dung phân tích cơ bản khác, sosánh với mục tiêu đã xác định để có quyết định đầu tư thích hợp Thực tế cho thấy không

có một quyết định đầu tư nào là đúng cho mọi điều kiện và mọi chủ thể đầu tư

Các nhà đầu tư chứng khoán là những nhà đầu tư mạo hiểm vì cổ phiếu là một loạihàng hóa đặc biệt, và TTCK là thị trường bậc cao, mức độ rủi ro tiềm ẩn rất lớn Cơ hộithành công trong đầu tư vào TTCK của nhà đầu tư sẽ lớn hơn nếu biết cách tránh những sailầm sau:

(1) Không có kế hoạch đầu tư rõ ràng

Nhà đầu tư cần quan tâm đến một vài chính sách và kế hoạch đầu tư cá nhân sauđây:

- Có mục đích và mục tiêu rõ ràng,

- Xác định những rủi ro gì là thích hợp với với danh mục đầu tư của mình,

- Dùng tiền đầu tư vào hạng mục tài sản nào Việc phân bổ các khoản mục đầu tưnên đi kèm với các mục tiêu đã đề ra, đồng thời phải xem xét đến các yếu tố rủi ro thíchhợp

- Đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu tỉ lệ rủi ro và tăng cơ hội thu thêm lợinhuận

(2) Giới hạn thời gian đầu tư quá ngắn

Hầu hết các nhà đầu tư thường qua tập trung vào các hoạt động đầu tư mang tínhngắn hạn Đó chính là sai lầm thứ hai mà họ mắc phải

(3) Tập trung sự chú ý quá nhiều vào các thông tin tài chính do các phương tiệnthông tin đại chúng đưa ra

(4) Không có sự tái cân bằng

Tái cân bằng là một tiến trình khiến cho số tiền đầu tư vào các khoản mục tài sảntrong danh mục đầu tư quay trở về đúng với mục tiêu ban đầu Nhìn chung các nhà đầu tư

có xu hướng không muốn bán những cổ phiếu đang đắt giá để đề phòng trường hợp khi cổphiếu đó giảm giá thì danh mục sẽ trở về mức cân bằng như cũ Những cách suy nghĩ như

Trang 24

vậy là cách suy nghĩ trong thời điểm ngắn hạn Tái cân bằng một cách có ý thức sẽ gặt háiđược những thành quả trong dài hạn.

(5) Quá tin tưởng vào năng lực của những nhà quản lí quỹ đầu tư

Trên thực tế hiếm có các nhà đầu tư cá nhân có đủ thời gian để tính toán đầu tưmang về lợi nhuận trong dài hạn Đó chính là lí do tại sao có quá nhiều nhà đầu tư tintưởng vào việc đầu tư vào các quỹ và cho rằng năng lực của các nhà quản lí quỹ trong việctính toán lợi nhuận trên thị trường là hơn hẳn họ

(6) Không quan tâm đến các quỹ đầu tư chỉ số

Khái niệm đầu tư theo chỉ số không còn mới với thế giới, nhưng lại khá mới đối vớicác nhà đầu tư Việt nam Theo phương pháp này, đầu tư sẽ thực hiện vào toàn bộ thịtrường nên rủi ro sẽ thấp hơn so với đầu tư vào từng công ty Các nghiên cứu đã chứngminh phần lớn các nhà quản lí quỹ đầu tư ở dưới mức chuẩn cho phép

(7) Chạy theo thành tích lợi nhuận

Rất nhiều nhà đầu tư chọn các hạng mục tài sản, các chiến lược, các nhà quản lí vàcác quỹ đầu tư dựa trên những thành tích lớn hiện tại Cảm giác “đang bỏ lỡ một cơ hộikiếm lời lớn” sẽ có thể dẫn đến những quyết định đầu tư tồi tệ hơn bất kì một yếu tố đơn lẻnào đó, không có một hạng mục tài sản, quỹ hoặc chiến lược đặc biệt nào mà có hiệu quảliên tiếp trong vòng 3 đến 4 năm

Canslim là một phương pháp chọn muc chứng khoán nổi tiếng được nhiều ngườibiết đến do William J.Oneil người sáng lập ra tờ Investor’s Business Daily đã đúc kết 7yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu có khả năng sinh lời lớn trong tương

Canslim là tập hợp 7 chữ cái đầu tiên của 7 yếu tố mà theo William J.Oneil nhậnđịnh là rất hiệu quả khi sử dụng để đánh giá cổ phiếu, đó là:

- C (Current Quaterly Earning Per Share) - Lợi nhuận trong quý hiện tại: Nghiêncứu của J.Oneil cho thấy hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùngquý năm trước (tỉ lệ tăng càng cao càng tốt) Khi lựa chọn cổ phiếu đầu tư, cần để ý tới các

cổ phiếu có sự gia tăng lợi nhuận mạnh mẽ

- A (Annual Earnings Increase) - Gia tăng doanh lợi hàng năm: Theo J.Oneil, cổphiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước Cần đặcbiệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và trên 25% Tuynhiên cũng nên chú ý tới chu kì kinh doanh của từng ngành, từng công ty Theo J.Oneil,tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi

- N (New Products, Management, Heights, More People Trading the Stock) - Cổphiếu tăng bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó Những nhân tố này thường là sảnphẩm mới của công ty của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lí mới, hay mứcgiá trần mới của cổ phiếu

- S (Supply and Demand) - Số cung và số cầu: Quy luật cung cầu quyết định giá củahầu hết các hàng hóa và cổ phiếu không phải là một ngoại lệ Theo J.Oneil, cổ phiếu củacác công ty lớn không phải luôn là các cổ phiếu nên mua Cổ phiếu có số lượng lưu hànhthấp sẽ dễ dàng gia tăng giá hơn các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn Cổ phiếu được cácnhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỉ lệ lớn thường là cổ phiếu có độ an toàn cao Đặc biệt

Trang 25

cần lưu ý đến các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỉ lệ nợ dàihạn trên vốn tự có vừa phải Đối với các công ty có chênh lệch lớn về cung cầu thì khảnăng tăng giá của cổ phiếu là dễ dàng hơn.

- L (Leader and Laggard) - Cổ phiếu hàng đầu hay bị xếp hạng thấp: Theo J.Oneilchỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong toàn nhóm Đặc biệt tránh mua các cổ phiếutăng theo đuôi vì các cổ phiếu này không sớm thì muộn cũng sụt giá

- I (Institutional Sponsorship) - Các định chế nói tới ở đây thường là các cơ quanchức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư Nếu các cơ quan này nắmgiữ số lượng cổ phiếu nhất định của một công ty nào đó thì công ty ấy sẽ có sự ủng hộ vàtrợ giúp mạnh mẽ từ các định chế đó, rất thuận lợi cho giá cổ phiếu tăng mạnh Tuy nhiêncần chú ý đối với những cổ phiếu được các định chế này nắm giữ với số lượng quá lớn

- M (Market Direction) - Chiều hướng biến động của thị trường: Bạn có thể đúngtrong tất cả các tiêu chí kể trên nhưng nếu bạn sai lầm về phương hướng thị trường, thì cóthể 3 trong số 4 cổ phiếu bạn mua sẽ giảm giá và bạn sẽ mất tiền Yếu tố thị trường đặc biệtquan trọng vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới giá cổ phiếu J.Oneil nhấn mạnh đến tầm quantrọng của việc nghiên cứu đồ thị biến động giá chứng khóan theo ngày

2.2.1.3 Phân tích mẫu một số công ty niêm yết

● Tình huống: Công ty cổ phần Cáp và Dây điện Viễn thông

Công ty cổ phần Cáp và Dây điện Viễn thông (SACOM) được thành lập từ tháng2/1998 trên cơ sở nhà máy Cáp và Vật liệu Viễn thông

● Cơ cấu vốn

- Vốn điều lệ ban đầu: 120.000 triệu đồng

- Vốn điều lệ hiện nay: 234.000 triệu đồng

- Số cổ phiếu niêm yết: 23.400.000

Trang 26

● Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh

Năm 2005, tình hình kinh doanh của công ty có kết quả tốt so với 2004, mặc dù tìnhhình thị trường có nhiều biến động, đặc biệt là biến động về giá nguyên vật liệu đầu vàonhư: nhựa, đồng… (tăng từ 10 - 45%) Đạt được kết quả trên là do sự nỗ lực của mọi thànhviên trong công ty đặc biệt là bộ phận dự báo thị trường để có kế hoạch dự trữ nguyên vậtliệu tồn kho, cùng với chính sách quản lí sản xuất và giao khoán sản phẩm đến từng tổ sảnxuất đã mang lại hiệu quả cao

● Tóm tắt tình hình tài chính của công ty

Một số biến động trong bẳng cân đối tài sản của công ty qua một số năm

Đơn vị tính: triệu đồng

Nhận xét: nhìn chung, trong thời gian qua tổng tài sản của công ty không ngừng tăng lên,

nhất là năm 2005, tập trung chủ yếu vào 1 số khoản mục:

- Công ty phát hành cổ phiếu phổ thông tăng vốn điều lệ lên 54 tỉ đồng Thặng dưvốn 184,14 tỉ đồng

- Mở rộng quy mô kinh doanh, doanh thu tăng, đồng thời tăng cường cho kháchhàng trả chậm

Trang 27

- Trong kì công ti tiếp tục đầu tư TSCĐ để mở rộng quy mô sản xuất Nguồn tài trợchủ yếu là nguồn vốn kinh doanh và trích từ quỹ phát triển kinh doanh của công ty.

● Phân tích các chỉ số tài chính của SACOM

Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời và phân phối thu nhập

Tỉ suất sinh lời

trên tổng tài

sản - ROA

Lợi nhuận ròng/ tổng tài sảnbình quân

Trang 28

Đầu tư 151.919.563.671 đồng, trong đó:

- Đầu tư máy móc thiết bị mới: 56,8 tỉ đồng

- Góp vốn thành lập công ty: 94,2 tỉ đồng

● Dự đoán phát triển của thị trường cáp trong tương lai

Tuy xu hướng sử dụng cáp quang và vệ tinh viễn thông ngày càng chiếm ưu thế,song với tốc độ phát triển thuê bao trung bình 30 - 40% năm, cũng như chiến lược từ nayđến 2010 của VNPT, nhu cầu sử dụng cáp và vật liệu viễn thông nội địa vẫn có mức tăngtrưởng khá., ước tính tương đương mức tăng trưởng doanh thu bình quân của ngành vàokhoảng 10 - 15%

● Phân tích mô hình SWOT

đã không ngừng đổi mới máy móc thiết bị thể hiện qua việc TSCĐ không ngừng tăng lên

- Chất lượng sản phẩm: thế mạnh cạnh tranh của SACOM tại thị trường nội địa làcác sản phẩm có chất lượng cao mà giá thành rẻ hơn 10% so với sản phẩm cùng loại

- SACOM sản xuất và tiêu thụ thành công các sản phẩm mới tại thị trường trong vàngoài nước

- SACOM có uy tín cao và thương hiệu mạnh trên thị trường (hiện nay SAM chiếmkhoảng 45% thị phần trong nước)

* Điểm yếu (Weaknesses)

- Các sản phẩm mới tuy được sự chấp nhận của thị trường, song quy mô còn nhỏ,hàm lượng chất xám công nghệ chưa cao

- Mạng lưới tiêu thụ phụ thuộc rất lớn (90%) vào chính sách tiêu thụ sản phẩm củaVNPT và Bộ chủ quản

Trang 29

- Áp lực cạnh tranh và áp lực về giá ngày càng cao SAM cần có biện pháp hợp líhóa sản xuất để hạ giá thành, cần phải tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm để thu hút đơn đặthàng.

- Phần lớn nguyên vật liệu phục vụ sản xuất đều nhập khẩu từ nước ngoài, sản phẩmcủa công ty phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường nước ngoài

* Cơ hội (Opportunities)

- Hiện nay SAM đang chiếm thị phần 45% Với chính sách đầu tư dài hạn hợp lí,SAM có nhiều khả năng mở rộng thị phần trong nước và nước ngoài

- Các dự án SAM tham gia đầu tư đang trong giai đoạn hoàn thành hay kết thúc, sẽgóp phần tăng nguồn lực tài chính của công ty

* Thách thức (Threats)

- Đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất cáp đồng là nhà máy vật liệubưu điện, công ty liên doanh Vinadeasung và 6 công ty liên doanh sản xuất sản phẩm cápquang

- Khi VN gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và thế giới, thuế suất thuế nhậpkhẩu cáp giảm sẽ làm giảm tính cạnh tranh về giá của cáp nội địa

- Xu hướng sử dụng cáp quang và vệ tinh địa tĩnh ngày càng cao, SAM cần theo kịp

sự đổi mới về công nghệ

- Nguồn nguyên vật liệu chính hầu hết phải nhập khẩu, do đó giá của nguyên vậtliệu chịu sự tác động của tỉ giá, đồng thời nhu cầu gia tăng dự trữ nguyên vật liệu làm cho

xu hướng tăng giá nguyên vật liệu đã tác động vào chi phí sản xuất, tăng giá thành sảnphẩm

● Tính hấp dẫn của cổ phiếu SAM

Từ khi niêm yết (2000) đến nay SACOM mới phát hành bổ sung cổ phiếu 1 đợt từtháng 12/2005 đến tháng 2/2006 với tổng số 10,08 triệu Đây là lần đầu tiên công ty huyđộng vốn bằng cổ phiếu trong điều kiện liên tục mở rộng kinh doanh và đầu tư mới với 4mục đích chính là:

- SACOM góp 49% vốn (73,5 tỉ đồng) vào công ty cổ phần cáp Sài gòn

SACOM góp 30% vốn (8,4 triệu USD) vào liên doanh sản xuất cáp Taihan SACOM

Đầu tư khoảng 18,6 tỉ đồng nâng 15% công suất thiết bị

- Tăng VLĐ

Với chính sách khấu hao nhanh, giá trị máy móc thiết bị (7 dây chuyền cáp viễnthông và 2 dây chuyền sản xuất đồng) hiện còn lại trên sổ sách kế toán với tỉ lệ 4,7% Quỹkhấu hao lớn là nguồn lực giúp SACOM dễ dàng triển khai các dự án đầu tư mở rộng sảnxuất Vì vậy SAM được coi là CP dành cho các nhà đầu tư theo mục đích tăng trưởng

SACOM có tốc độ tăng trưởng doanh số, năng lực sản xuất vào loại khá cao so vớicác công ty niêm yết khác Từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình36,17% năm, lợi nhuận tăng trưởng trung bình 25,07% năm, doanh thu năm 2004 lớn gấp 4lần so với năm 2000, doanh thu năm 2005 bằng 1,72 lần doanh thu năm 2004 Năm 2003công ty tăng vốn điều lệ từ 120 tỉ lên 180 tỉ đồng bằng lợi nhuận tích lũy Năm 2005, công

ty tăng vốn điều lệ lên 234 tỉ đồng bằng phát hành cổ phiếu

►Kết luận

Trang 30

Là 1 công ty được nhiều ưu ái của ngành bưu chính viễn thông, với ROE luôn ởmức 25 - 30% năm, SAM được đánh giá là 1 trong 5 CP sáng giá nhất trong rổ chứngkhoán ở sàn HCM khoảng thời gian 2005.

2.2.2 Phân tích kĩ thuật

2.2.2.1 Khái niệm và mục đích của phân tích kĩ thuật

Phân tích kĩ thuật là phương pháp phân tích dựa vào các diễn biến của giá và khốilượng giao dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế giá trong tương lai Các nhà phân tích kĩthuật sử dụng các công thức toán học và đồ thị để xác định xu thế thị trường của 1 loại cổphiếu nào đó, từ đó đưa ra quyết định thời điểm thích hợp để mua hoặc bán Việc xác địnhthời điểm có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là tại các thị trường hay biến động và khithực hiện chiến lược đầu tư ngắn hạn

- PTKT nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu sử dụng các đồ thị nhằm mụcđích dự báo xu hướng giá trong tương lai nếu các nhà phân tích có được ba thông tin cơbản của sự biến động thị trường: giá, khối lượng và trạng thái mở của thị trường (phản ánhtính thanh khoản tiềm năng của thị trường)

- PTKT nghiên cứu các hành vi thị trường trong quá khứ để xác định thực trạng vàđiều kiện thị trường trong hiện tại

- PTKT là hoạt động nghiên cứu hành vi của thành viên thị trường, như được phảnánh qua giá, khối lượng, trạng thái mở của thị trường trong một thị trường tài chính, nhằmxác định các giai đoạn trong sự phát triển của xu hướng giá

- PTKT được áp dụng như là một khâu trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư hoặcgiao dịch trên thị trường tài chính Với yếu tố chú trọng tính thời điểm, PTKT được dùngchủ yếu để giúp người đầu tư hoặc người giao dịch nếu họ muốn:

+ Xác định thời điểm ban đầu của một xu hướng giá trên thị trường

+ Tiến hành giao dịch tùy theo xu hướng giá đó

+ Xác định thời điểm kết thúc cùa một xu hướng giá trên thị trường

+ Thoát khỏi thị trường hoặc tiến hành đổi chiều giao dịch

PTKT xuất hiện ngay từ thời kì sơ khai của TTCK, nhưng nó chỉ thực sự trở thànhmột khoa học từ khi có sự xuất hiện của Charles Henry Dow - Người đặt nền móng líthuyết đầu tiên cho khoa học PTKT hiện đại ngày nay Qua việc nghiên cứu giá đóng cửaDow cho rằng, chỉ số trung bình là “phong vũ biểu” và nhà đầu tư có thể sử dụng nó để đolường sự biến động của thị trường

Ngày nay với sự phát triển hệ thống công nghệ thông tin và các chương trình phầnmềm máy tính, việc thiết lập các đồ thị hay biểu đồ để phục vụ cho mục đích phân tích kĩthuật được thực hiện một cách thuận lợi và dễ dàng hơn

Ngay cả với những nhà đầu tư cá nhân, với sự phổ biến của máy tính cá nhân và cácphần mềm phân tích kĩ thuật cũng như khả năng truy cập dữ liệu từ xa hiện nay, nhà đầu tư

có thể dễ dàng có được các thông tin cần thiết về giá và khối lượng giao dịch để phục vụmục đích phân tích kĩ thuật riêng cho mình

2.2.2.2.Các giả định nền tảng của phân tích kĩ thuật

Các nhà phân tích kĩ thuật đưa ra quyết định giao dịch dựa trên việc xem xét các số

Trang 31

liệu về giá và khối lượng giao dịch nhằm xác định xu thế thị trường trong quá khứ để từ đó

dự đoán xu thế tương lai của toàn bộ thị trường cũng như của từng chứng khoán đơn lẻ Họnêu ra một vài giả định hỗ trợ cho dự đoán xu thế biến động của thị trường

- Giá trị thị trường của bất cứ loại hàng hóa hay dịch vụ nào đều hoàn toàn được xácđịnh bởi sự tương tác của quan hệ cung cầu

- Cung cầu được quyết định bởi 1 số nhân tố, cả logic và phi logic Những nhân tốnày bao hàm cả những biến số kinh tế được sử dụng trong phân tích cơ bản cũng như cácquan điểm các trạng thái tâm lí và những phỏng đoán Thị trường phản ánh tất cả nhữngnhân tố này một cách tự động và liên tục

- Ngoại trừ 1 số dao động nhỏ, giá của các chứng khoán và thị trường nói chung cóbiểu hiện biến động theo những xu thế, các xu thế này diễn ra trong những khoảng thờigian xác định

- Các xu thế trội thay đổi tương ứng với những sự dịch chuyển trong quan hệ cungcầu, những sự dịch chuyển này, bất kể do nguyên nhân nào gây ra, sớm hay muộn rồi cũngđều có thể được phát hiện dựa vào phản ứng của chính thị trường

- Thách thức cơ bản đối với phân tích kĩ thuật xuất phát từ lí thuyết thị trường hiệuquả (thị trường hiệu quả được hiểu là thị trường mà thị giá hiện hành phản ánh đầy đủ vàtức thời tất cả các thông tin có ảnh hưởng tới thị trường, phí giao dịch trên thị trường đượcquyết định bởi quy luật cạnh tranh và quan hệ cung cầu…) Để các quy tắc giao dịch kĩthuật mang lại lợi nhuận sau khi trừ các chi phí giao dịch, việc điều chỉnh giá trên thịtrường phải diễn ra từ khi xuất hiện những thông tin mới, nghĩa là thị trường phải kém hiệuquả

- Một thách thức hiển nhiên với phân tích kĩ thuật là các diễn biến giá trong quá khứhay các mối quan hệ giữa các biến số thị trường cụ thể và giá chứng khoán có thể khônglặp lại Theo đó một kĩ thuật đã từng mang lại kết quả trước đó có thể không còn giá trịtrong những biến động tiếp theo của thị trường

- Những dự đoán về giá sẽ làm cho xu hướng giá tự điều chỉnh

- Mọi quy tắc giao dịch đều gắn với một đánh giá mang tính chủ quan cao

- Các giá trị chuẩn làm căn cứ cho quyết định đầu tư có thể thay đổi theo thời gian

● Những lợi thế

Phần lớn các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng, một nhà phân tích cơ bản với nguồnthông tin tốt, khả năng phân tích tốt và 1 sự nhạy cảm có thể kiếm được những khoản lợitrên mức bình thường Tuy nhiên theo các nhà phân tích kĩ thuật, các nhà phân tích cơ bản

có thể chỉ kiếm đựơc những khoản lợi cao khi họ tiếp cận thông tin trước những người đầu

tư khác và xử lí thông tin một cách chính xác, nhanh chóng

- Với cách tiếp cận đó, các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng lợi thế lớn trong phương

Trang 32

pháp của họ là không phụ thuộc nặng nề vào các báo cáo tài chính và do đó tránh đượcnhững sai sót đáng tiếc nếu có sự hoài nghi về tính chính xác, trung thực của các báo cáotài chính này Hầu hết số liệu kĩ thuật sử dụng, ví dụ như giá chứng khoán, khối lượng giaodịch và các thông tin giao dịch khác đều bắt nguồn từ diễn biến của thị trường.

- Nhà phân tích cơ bản phải xử lí thông tin mới một cách chính xác và nhanh chóng

để tìm ra giá trị nội tại mới của chứng khoán trước những người đầu tư khác Trong khi đócác nhà phân tích kĩ thuật chỉ cần nhanh chóng nhận ra xu thế dịch chuyển sang 1 mức giácân bằng mới bất kể đâu là nguyên nhân của sự dịch chuyển

- Các nhà PTKT có thể xác định được thời gian mua bán có hiệu quả nhất trong khicác nhà PTCB có thể chỉ xác định được giá trị hợp lí của chứng khoán

- Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển tạo điều kiện thuận lợi trong việc truy cập

dữ liệu, đồng thời cung cấp các phần mềm tiện ích cho PTKT

2.2.2.4.Các chỉ báo và quy tắc giao dịch kĩ thuật

● Các kĩ thuật liên quan đến giá và khối lượng

Sự thay đổi giá theo hướng nào đó thể hiện các nhân tố ảnh hưởng, nhưng chỉ riêngthay đổi về giá thì chưa phản ánh quan hệ cung cầu tại thời điểm đó Vì vậy các nhà phântích thường tìm kiếm sự tăng giá kèm theo khối lượng giao dịch tương đối lớn so với khốilượng giao dịch thông thường như là 1 chỉ báo về xu thế giá lên, còn nếu giá giảm kèmtheo khối lượng giao dịch lớn đồng nghĩa với xu thế giá giảm

Các nhà phân tích cũng sử dụng tỉ lệ khối lượng giao dịch giá lên / giá xuống như là

1 chỉ báo ngắn hạn của thị trường nói chung Hàng ngày SGDCK công bố khối lượng giaodịch của các CP tăng giá và khối lượng giao dịch của các CP giảm giá Tỉ lệ này được coi

là 1 thước đo về trạng thái tâm lí của người đầu tư và sử dụng nó để xác định quan hệ cungcầu trên thị trường

● Các quy tắc theo quan điểm trái ngược

Nhiều nhà phân tích kĩ thuật dựa vào những quy tắc giao dịch được phát triển từ giảthiết rằng đại bộ phận nhà đầu tư thường sai lầm khi dự đoán thị trường đạt đến đỉnh caohoặc điểm đáy Vì vậy các nhà phân tích kĩ thuật tìm cách xác định thời điểm đại bộ phậnnhà đầu tư kì vọng giá lên hoặc giá xuống và giao dịch theo chiều hướng ngược lại Cácnhà phân tích kĩ thuật sử dụng 1 số thước đo nhằm đánh giá xu hướng giao dịch của nhàđầu tư trên thị trường Họ thường sử dụng đồng thời 1 số chỉ báo để xác định sự đánh giátrùng hợp về thái độ của người đầu tư

Số dư có trên tài khoản giao dịch

Số dư có xuất hiện khi người đầu tư bán chứng khoán mà không rút tiền ra khỏi tàikhoản giao dịch với hi vọng tiếp tục đầu tư Thông thường số liệu tổng hợp về tình hình tàikhoản giao dịch của người đầu tư được công bố trên 1 số tạp chí tài chính Các nhà phântích coi số dư có trên tài khoản giao dịch là sức mua tiềm năng Theo đó họ cho rằng khi số

dư này giảm xuống là dấu hiệu của xu thế giá xuống, bởi nó báo hiệu sức mua thấp hơn khithị trường đạt đến đỉnh cao Tương tự như vậy, nhà phân tích kĩ thuật cho rằng số dư cótăng lên báo hiệu sự gia tăng về sức mua và là dấu hiệu của xu thế lên giá

Lưu ý rằng số liệu về số dư này được công bố bằng số tuyệt đối mà không có sự sosánh tương đối nào khác Điều này khiến cho việc xác định xu thế trở nên khó khăn khi

Trang 33

quy mô thị trường thay đổi.

Ý kiến tư vấn đầu tư

Nhiều nhà phân tích kĩ thuật nhận thấy rằng nếu phần lớn các công ty tư vấn đầu tư

có quan điểm tiêu cực, điều này báo hiệu thị trường đã tiến gần đến điểm đáy và chuẩn bịchuyển sang xu thế giá lên Người ta lập luận rằng, phần lớn các công ty tư vấn đầu tư đều

có xu hướng ngả theo xu hướng chung Vì vậy số lượng các công ty tư vấn đầu tư có quanđiểm tiêu cực là lớn nhất khi thị trường đang gần đạt tới điểm đáy Họ phát triển quy tắcgiao dịch này từ tỉ lệ giữa số các công ty tư vấn đầu tư có quan điểm tiêu cực và tổng sốcông ty tư vấn đưa ra ý kiến

● Bám theo các nhà đầu tư khôn ngoan

Một số nhà phân tích kĩ thuật sử dụng các chỉ báo mà họ cho rằng chúng phản ánhhành vi giao dịch của những nhà đầu tư khôn ngoan Sau khi nghiên cứu thị trường, cácnhà phân tích này xây dựng nên các chỉ báo cho biết động thái của những nhà đầu tư khônngoan và phát triển các quy tắc để bám theo họ Sau đây là một số chỉ báo được sử dụngkhá phổ biến

+ Chỉ số niềm tin (the confidence index)

Chỉ số niếm tin do Barron’s xây dựng là hệ số giữa tỉ suất doanh lợi của trái phiếu

10 công ty hàng đầu do Barron’s lựa chọn so với tỉ suất doanh lợi của 40 trái phiếu thườngdùng để tính chỉ số trái phiếu DowJones Chỉ số này phản ánh sự khác biệt về chênh lệch tỉsuất doanh lợi giữa các trái phiếu hàng đầu so với các trái phiếu thường khác thuộc nhiềunhóm ngành nghề

Các nhà phân tích kĩ thuật cho rằng đây là 1 chỉ báo của xu thế giá lên, bởi khingười đầu tư có lòng tin, họ sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào các trái phiếu chất lượng thấphơn nhằm thu được tỉ suất doanh lợi cao hơn Do vậy chỉ số niềm tin sẽ tăng Ngược lại,khi người đầu tư bi quan họ sẽ tránh đầu tư vào các trái phiếu chất lượng thấp và gia tăngđầu tư vào các trái phiếu có chất lượng cao

Tuy nhiên việc đánh giá về hành vi của người đầu tư theo chỉ số này hầu như mớiphụ thuộc vào mức cầu Trên thực tế nó còn phụ thuộc vào mức cung Ví dụ, công ty ABCphát hành 1 khối lượng lớn trái phiếu hàng đầu có thể dẫn đến lợi suất của các trái phiếuhàng đầu tạm thời tăng lên, làm giảm chênh lệch lợi suất và khiến chỉ số niềm tin tăng lên

mà không có sự thay đổi về niềm tin của nhà đầu tư

Những người ủng hộ chỉ số này tin rằng nó phản ánh được thái độ chung của ngườiđầu tư đối với các tài sản tài chính Một số nghiên cứu khoa học cho thấy chỉ số này tỏ rakhông mấy hữu ích trong việc dự đoán biến động giá cổ phiếu

+ Số dư nợ trên tài khoản giao dịch

Số dư nợ trên tài khoản giao dịch phản ánh thái độ của 1 số nhà đầu tư có kiến thức

và kĩ năng chuyên sâu trong việc thực hiện các giao dịch kí quỹ Theo đó khi số dư nợ giatăng sẽ là dấu hiệu xu thế giá lên Ngược lại khi số dư nợ giảm xuống sẽ là dấu hiệu bán ra

vì những người đầu tư khôn ngoan này muốn kết thúc 1 chu kì giao dịch, đồng thời nócũng phản ánh sự giảm sút của luồng vốn sẵn sàng tham gia thị trường và sẽ là dấu hiệucủa xu thế giá xuống

Số liệu hàng tháng về giao dịch kí quỹ được công bố trên Barron’s Tuy nhiên sốliệu này không phản ánh khoản vay của người đầu tư từ những nguồn khác như ngân hàng

Trang 34

Thêm vào đó đây cũng là con số tuyệt đối nên khó có thể so sánh theo thời gian.

● Một số chỉ báo thị trường khác

+ Độ rộng của thị trường

Độ rộng của thị trường là chỉ báo về số lượng các cổ phiếu lên giá và số lượng các

cổ phiếu xuống giá trong mỗi ngày giao dịch Chỉ báo này giúp cho việc giải thích nguyênnhân sự đổi hướng của các chỉ số chứng khoán như DJIA hoặc S&P 500 Những chỉ số nổitiếng trên thị trường thường chịu ảnh hưởng lớn từ các cổ phiếu của các công ty lớn, bởi vìhấu hết các chỉ số đều được tính theo phương pháp gia quyền giá trị Như vậy có thể xảy ratrường hợp chỉ số tăng lên nhưng phần lớn các cổ phiếu thành phần lại không lên giá Sựphân kì giữa giá trị của chỉ số chung và các cổ phiếu thành phần trở thành 1 vấn đề đángquan tâm, vì điều này có nghĩa là phần lớn các cổ phiếu không góp phần vào xu thế giá lêncủa thị trường Tình trạng này có thể được phát hiện bằng cách xem xét số liệu về tănggiảm giá của tất cả các cổ phiếu trên thị trường và đồng thời với chỉ số chung

+ Tổng khối lượng bán khống (Short Interest)

Tổng khối lượng bán khống là tổng khối lượng cổ phiếu hiện được bán khống trênthị trường Một số nhà phân tích kĩ thuật cho rằng khối lượng bán khống cao là dấu hiệutốt, song 1 số khác lại cho là dấu hiệu không tốt Dấu hiệu tốt là bởi mọi giao dịch bánkhống sẽ phải được hoàn tất (nghĩa là những người bán khống cuối cùng sẽ phải mua cổphiếu để hoàn trả lại số cổ phiếu họ đã vay) Do vậy tổng khối lượng bán khống phản ánhmức cầu tiềm năng trong tương lai đối với cổ phiếu Khi các giao dịch bán khống được tấttoán, mức cầu phát sinh do việc mua cổ phiếu sẽ đẩy giá lên

Dấu hiệu không tốt là bởi trên thực tế những người bán khống thường là nhữngngười đầu tư lớn và có kĩ năng chuyên nghiệp Theo đó tổng khối llượng bán khống giatăng phản ánh trạng thái tâm lí của nhà đầu tư được coi là “am hiểu” về triển vọng thịtrường giá xuống

2.3 Định giá chứng khoán

2.3.1 Định giá trái phiếu

2.3.1.1 Định giá trái phiếu

● Định giá trái phiếu thông thường

Ở dạng thông thường trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếu xácđịnh, không kèm theo các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mua lại hay bán lại… Khi đógiá của trái phiếu bằng giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính sẽ nhận được từ công cụtài chính đó Vì vậy để xác định được mức giá trái phiếu cần phải:

- Ước tính các luồng tiền sẽ nhận được trong tương lai: Lãi trái phiếu và mệnh giátrái phiếu khi đáo hạn

-Ước tính tỉ suất sinh lợi (lợi suất) đòi hỏi phù hợp

Công thức tổng quát để tính giá của một trái phiếu là:

C C C C F n 1 F

PV = - + - + … + + - + - = C  +

(1+i) 1 (1+i) 2 (1+i) n-1 (1+i) n (1+i) n t=1 (1+i) t (1+i) n

Trang 35

Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F làmệnh giá trái phiếu, i là lãi suất chiết khấu hay lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư.

Đối với trái phiếu trả lãi trước, hay hay trái phiếu không trả lãi định kì (Zero couponbonds) thì:

● Định giá trái phiếu trong một số trường hợp đặc biệt

♦ Định giá tại một thời điểm giữa kì trả lãi

Trên thực tế, người mua trái phiếu nhận được toàn bộ lãi định kì vào thời điểmthanh toán sắp tới, trong khi học chỉ nắm giữ trái phiếu trong một phần thời kì đó, vì thếngười mua sẽ phải trả cho người bán khoản tiền lãi lẻ tích lũy được từ kì thanh toán lãitrước đó đến thời điểm bán trái phiếu Khoản lãi lẻ này được tính như sau:

Lãi lẻ = C x T/D

Giá thị trường (giá niêm yết) của trái phiếu = PV – lãi lẻ

♦ Định giá trái phiếu có lãi suất thả nổi

Lãi suất định kì của một trái phiếu thả nổi thường được ấn định dựa vào lãi suất thịtrường (LIBOR hoặc SIBOR) và cộng thêm 1 tỷ lệ phụ trội (x%) Vì thế luồng tiền củacông cụ thả nổi bao gồm 2 bộ phận:

- Luồng tiền có lãi suất thả nổi theo thị trường không có phần phụ trội Luồng tiềnnày bao gồm cả khoản thanh toán mệnh giá vào lúc đáo hạn, gọi là luồng tiền của chứngkhoán tham chiếu Công cụ tham chiếu này sẽ luôn được định giá bằng mệnh giá vì lãi suấtđược trả chính là lãi suất thị trường nên không có lí do gì để nhà đầu tư phải trả thêm mộtkhoản phụ trội để mua nó

- Luồng tiền đã biết dựa vào phần phụ trội Việc định giá của bộ phận này tính nhưphần định giá trái phiếu thông thường

Trang 36

Như vậy giá của công cụ thả nổi lãi suất là tổng giá của 2 chứng khoán trên.

2.3.1.2 Đo lường lãi suất trái phiếu

* Lãi suất hiện hành (Current Yield - CY): Là tỉ lệ giữa lãi cuống phiếu hàng năm

với giá thị trường

CY = C/PV

Ví dụ: Trái phiếu 15 năm, lãi suất 10% năm, mệnh giá 100.000đ đang bán với giá80.000đ thì lợi suất hiện hành được xác định như sau:

10% x 100.000 / 80.000 = 0,125 hay 12,5%

Phép tính lợi suất hiện hành chỉ quan tâm đến lãi cuống phiếu mà không tính đến bất

kì một nguồn lợi tức nào khác tác động tới lợi suất của nhà đầu tư

* Lãi suất đáo hạn (Yield to Marturity - YTM): là mức lãi suất làm cho giá trị hiện

tại của các luồng tiền mà người đầu tư nhận được từ trái phiếu bằng với giá của trái phiếu

C C C C F n 1 F

PV = - + - + … + + - + - = C  +

(1+y)1 (1+y)2 (1+y)n-1 (1+y)n (1+y)n t=1 (1+y)t (1+y)n

Trong đó: PV là giá trái phiếu, n là số kì trả lãi, C là tiền lãi của một kì trả lãi, F làmệnh giá trái phiếu, y là lãi suất đáo hạn

Lãi suất đáo hạn có thể xác định theo công thức gần đúng sau:

Trong đó: i1, i2 : mức lãi suất lựa chọn (i2> i1 và i2- i1≤ 1%)

NPV : giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i ; NPV >0

Trang 37

NPV2: giá trị hiện tại ròng ứng với lãi suất i2 ; NPV2<0

Mệnh giá Lãi suất cuống phiếu = lãi suất hiện hành = lãi suất

đáo hạnGiá chiết khấu (dưới mệnh giá) Lãi suất cuống phiếu < lãi suất hiện hành < lãi suất

đáo hạnGiá phụ trội (trên mệnh giá) Lãi suất cuống phiếu > lãi suất hiện hành > lãi suất

đáo hạn

2.3.1.2 Thời gian đáo hạn bình quân (Macaulay Duration - MD / Duration)) Thời

gian đáo hạn bình quân được xác định như sau:

n tC nF

MD = {  - + - } / P t=1 (1+y) t (1+y) n

Trong đó: y là lãi suất đáo hạn (hay lãi suất yêu cầu), P là giá trái phiếu

Ví dụ: Tính MD của trái phiếu lãi suất 10%/năm, kì hạn 5 năm, trả lãi mỗi năm 2lần, bán theo mệnh giá 100.000đ, lãi suất yêu cầu là 12%/ năm

2.3.2 Định giá cổ phiếu

2.3.2.1 Một số vấn đề liên quan đến định giá CP

● Định giá CP là gì?

- Là công việc ước tính

- Không bao giờ định giá bằng phương pháp duy nhất

- Giá trị CP được ước tính chỉ có giá trị tại 1 thời điểm cụ thể

● Tại sao phải định giá CP?

- Không định giá được CP là đầu tư cho rủi ro và thất bại

- Để so sánh với giá CP đang bán trên thị trường (đắt hay rẻ) là căn cứ cho việc raquyết định đầu tư

Ví dụ: giá CP XYZ đang giao dịch trên thị trường là 100.000đ Việc định giá CPcho kết quả 120.000đ Chứng tỏ CP XYZ rẻ

● Những khó khăn khi định giá CP?

- Khó khăn trong việc thực hiện các phương pháp định giá

Phương pháp giá trị sổ sách là phương pháp ước tính giá trị CP dựa trên giá trị thực

tế của doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh trừ đi tổng nợ phải trả của

Trang 38

Công ty Cổ phần Hải Kim đã phát hành hai loại cổ phiếu:

- Cổ phiếu ưu đãi tích lũy và không tham dự: 10.000 cổ phiếu, mệnh giá 20.000đ/cổ phiếu, cổ tức 13%/năm

- Cổ phiếu phổ thông: 80.000 cổ phiếu với mệnh giá 10.000đ /cổ phiếu

Theo số liệu bảng cân đối kế toán ngày 31 tháng 12 năm N:

Tổng giá trị tài sản của Công ty: 2.000.000.000 đồng, trong đó:

Theo bản cáo bạch của công ty Thủy điện Thác mơ có các số liệu sau:

Số CP phát hành chào bán đấu giá là 70.000.000

Tại thời điểm cổ phần hóa, giá trị phần vốn Nhà nước thực tế của công ty Thủy điện Thác

mơ là:1.432.742.646.692đ

Giá trị sổ sách 1 CP thường = 1.432.742.646.692đ : 70.000.000 = 20.467,7đ

+ Tại sao lại sử dụng phương pháp này để định giá CP?

- Dễ tính toán

- Dễ lấy thông tin

- Dùng để kiểm tra cách tính toán của các phương pháp khác

Trên thực tế giá trị sổ sách kế toán không phản ánh đúng giá trị thực của tài sản củadoanh nghiệp nên giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp có thẻ được tính theo giá trị thịtrường của tất cả các tài sản Việc tính giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp theo sổ sách kếtoán hay theo giá thị trường mới chỉ phản ánh giá trị hữu hình của tài sản., phần giá trị lợithế (giá trị các yếu tố phi vật chất) cấu thành từ tài sản vô hình thường chưa được quan tâmđến Vì vậy khi định giá cổ phiếu người ta có thể sử dụng phương pháp kết hợp sau:

Trang 39

giá trị tài sản ròng + giá trị lợi thế

Giá cổ phiếu =

số cổ phiếu đang lưu hành (hoặc dự định phát hành)

Giá trị lợi thế của một doanh nghiệp có được là do những nguyên nhân chủ yếu như:

uy tín của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm hoặc cung ứng, vị trí địa lí thuận lợi trongsản xuất và tiêu thụ, bí quyết công nghệ như bằng phát minh, sáng chế phục vụ quá trìnhnghiên cứu phát triển, nhằm cải tiến, mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh hoặc quản lídoanh nghiệp, độc quyền sản xuất hoặc bán những sản phẩm độc quyền do doanh nghiệpphát minh ra, đặc quyền khai thác, nhãn hiệu thương mại…

Giá trị lợi thế của doanh nghiệp được tính căn cứ vào tỉ suất lợi nhuận siêu ngạchbình quân của n năm liền kề (n thường được lấy = 5) với thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp

Tổng số lợi nhuận thực hiện của n năm liền kề

Tỉ suất lợi nhuận bình quân =

Tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp n năm liền kề

Tỉ suất lợi nhuận bình quân chung nnăm của doanh nghiệp cùng ngành

Giá trị

lợi thế = Vốn SXKD của công ty theo sổ kếtoán bình quân của n năm liền kề x Tỉ suất lợi nhuận siêu ngạch

● Phương pháp luồng tiền chiết khấu

(1) Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức

♦ Phương pháp tính

Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức là phương pháp ước tính giá trị cổ phiếu, dựatrên độ lớn của các luồng cổ tức, được hiện tại hóa về một thời điểm xác định, mà doanhnghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong tương lai

Nếu nhà đầu tư nắm giữ CP đến năm thứ n, cổ tức chi trả từ năm 1 đến năm n lầnlượt là: D1, D2, …, Dn, giá bán CP vào năm thứ n là Pn, tỉ lệ lợi tức nhà đầu tư yêu cầu (tỉ

lệ chiết khấu) là i, ta có công thức định giá CP theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tứcnhư sau:

D 1 D 2 D n-1 D n P n n D t P n

P 0 = - + - + … + + - + - =  +

(1+i) 1 (1+i) 2 (1+i) n-1 (1+i) n (1+i) n t=1 (1+i) t (1+i) n

Trong đó: P0 là giá trị của 1 CP thường

Trang 40

Nếu nhà đầu tư nắm giữ CP đến vô hạn, có nghĩa là n → ∞, khi đó giá trị hiện tạicủa vốn gốc Pn/ (1+i) n → 0, do đó giá trị CP chỉ căn cứ vào luồng cổ tức.

Trên thực tế, với quan điểm đầu tư cổ phiếu là đầu tư dài hạn nên người ta xác địnhgiá cổ phiếu ở hiện tại theo công thức (1), được gọi là “mô hình chiết khấu cổ tức” do giáo

sư người Mĩ Rond Gordon đưa ra năm 1962

n D t

P 0 =  - (1)

t=1 (1+i) t

Dt được xác định theo 3 trường hợp:

Trường hợp 1: cổ tức tăng trưởng ổn định hàng năm (constant growth), tỉ lệ tăng

(1+i)1 (1+i)2 (1+i)n

Nhân cả 2 vế của (2) với (1+i) / (1+g)

1+i D0 x (1+g) D0 x (1+g)2 D0 x (1+g)n-1

P0 x = D0 + - + - +… + - (3)

1+g (1+i)1 (1+i)2 (1+i)n-1

Lấy phương trình (3) trừ phương trình (2)

Suy ra P 0 = D 0 (1+g) / (i-g) Hay P 0 = D 1 / (i-g) (5)

Biểu thức (5) được gọi là mô hình tăng trưởng ổn định Gordon

Điều kiện áp dụng: Các doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng thấp hơn tỉ lệ tăng trưởng danhnghĩa của nền kinh tế (g<i)

Nhược điểm:

- Không sử dụng cho các công ty không trả cổ tức,

- Không áp dụng khi g > i,

Ngày đăng: 10/08/2012, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.2. Quy trình quản lý danh mục đầu tư - 30 Ebook.VCU Giáo trình kinh doanh chứng khoán DHTM !.doc
Hình 5.2. Quy trình quản lý danh mục đầu tư (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w