1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1 t4 HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm

100 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hứng Thú Của Sinh Viên Khoa Tâm Lý - Giáo Dục Học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội Với Học Thuyết Phân Tâm
Tác giả Phan Hoàng Minh Anh
Người hướng dẫn GS.TS Trần Quốc Thành
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm Lý - Giáo Dục Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 260,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNĐề tài: “Hứng thú của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội với học thuyết phân tâm” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình quý báu của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC - -

PHAN HOÀNG MINH ANH

HỨNG THÚ CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI VỚI HỌC

THUYẾT PHÂN TÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC

Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Trần Quốc Thành

HÀ NỘI -2020

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài: “Hứng thú của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học

Sư phạm Hà Nội với học thuyết phân tâm” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn,

giúp đỡ tận tình quý báu của GS.TS Trần Quốc Thành, được sự giúp đỡ và tạo

điều kiện thuận lợi của trường đại học Sư phạm Hà Nội

Nhân đây cho phép em được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến của GS.TS Trần

Quốc Thành - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua,

tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp, những nhận xét quý báucủa các thầy cô giáo giúp tôi hoàn thành bài khóa luận của mình

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn độngviên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận

Hà Nội, tháng 4 năm 2020

Sinh viên

Phan Hoàng Minh Anh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân,được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của của GS.TS Trần Quốc Thành

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này

là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 4 năm 2020

Sinh viên

Phan Hoàng Minh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Contents

LỜI CẢM ƠN 2

LỜI CAM ĐOAN 3

DANH MỤC VIẾT TẮT 5

MỞ ĐÂU 6

Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7

4.Giả thuyết nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 9

8 Cấu trúc khóa luận 9

Chương 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ HỌC THUYẾT PHÂN TÂM 10

CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC 10

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 10

1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 12

1.2 Hứng thú và hứng thú học thuyết Phân tâm 16

1.2.1 Hứng thú 16

1.2.2 Hứng thú học thuyết Phân tâm 19

1.3 Học thuyết Phân tâm 23

1.3.1 Nội dung của học thuyết Phân tâm 23

1.3.2 Vị trí của học thuyết Phân tâm 28

1.4 Hứng thú của sinh viên ngành Tâm lý - giáo dục học với học thuyết phân tâm 30

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên 33

1.5.1.Các yếu tố thuộc về sinh viên 33

1.5.2 Các yếu tố thuộc về quá trình đào tạo 34

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 38

THỰC TRẠNG HỨNG THÚ CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI VỚI HỌC THUYẾT PHÂN TÂM 38

2.1 Khái quát về địa bàn và đối tượng nghiên cứu 38

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 38

Trang 5

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 42

2.2 Thực trạng hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường đại học sư phạm hà nội với học thuyết Phân tâm 45

2.2.1 Biểu hiện hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường đại học sư phạm Hà Nội với học thuyết Phân tâm qua mặt nhận thức của sinh viên 45

2.2.2 Biểu hiện hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường đại học sư phạm Hà Nội với học thuyết Phân tâm qua mặt thái độ của sinh viên 50

2.2.4 Đánh giá tổng hợp mức độ hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường đại học sư phạm hà nội với học thuyết Phân tâm 72

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường đại học sư phạm hà nội với học thuyết Phân tâm 75

2.4 Đề xuất ý kiến 82

Tiểu kết chương 2 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 95

Trang 7

MỞ ĐÂU

1 Lý do chọn đề tài

Phân tâm học, với bề dày lịch sử hơn 100 năm của mình, đã và đang là mộttrường phái học thuật (và cả lâm sàng) gây nhiều tò mò cho giới chuyên môn vàngoài chuyên môn Tại Việt Nam, học thuyết phân tâm vẫn đang là một mảng quantrọng được quan tâm, tìm hiểu và bước đầu được nghiên cứu sao cho phù hợp vớibối cảnh kinh tế-văn hóa-lịch sử-chính trị đặc trưng của nước ta Ngày nay, thuậtngữ “Phân tâm học” cùng với tên tuổi của người sáng lập là Sigmund Freud đã trởnên quá quen thuộc với nhiều người

Chính Freud sinh thời cũng đã có lần cho rằng, trong suốt lịch sử của loàingười đã trải qua 3 cú sốc lớn Đầu tiên là cú sốc lớn do nhà thiên văn học người BaLan Nicolas Copernius (1473-1543) mang đến Corpenius đã chứng minh rằng TráiĐất không phải trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong rất nhiều những hành tinhxoay quanh mặt trời Phát hiện thứ hai là của nhà bác học người Anh CharlesDarwin (1800-1882), người đã chỉ ra rằng con người không phải một tạo vật củaChúa Trời hay một giống loài đặc biệt trong thế giới tự nhiên Con người chỉ là mộtloài động vật cao cấp, xuất hiện trong quá trình tiến hóa từ những loài thấp hơn, vìvậy, họ không thể tham vọng làm chủ thế giới tự nhiên Cú sốc thứ ba do chínhFreud tạo ra khi ông phát hiện ra chúng ta không luôn trong trạng thái có thể kiểmsoát tuyệt đối được bản thân nhờ ý thức Cũng có thể hiểu là chúng ta không thực sự

“tỉnh táo” và chỉ là món đồ chơi trong tay của sức mạnh vô thức Lời khẳng định củaFreud không phải không có căn cứ Ở phương Tây, kể từ sự ra đời của thuyết Phântâm đến này không có một lí thuyết khoa học nào có tác động mạnh mẽ đến suy nghĩcủa con người như lí thuyết này

Usinxki cho rằng: “Trong học tập không có hứng thú mà chỉ dùng sức mạnhcủa sự cưỡng ép, nó sẽ làm cho óc sáng tạo của người ta ngày thêm mai một, nó sẽlàm cho người ta ngày một thờ ơ với loại hình hoạt động này” Có thể nói, hứng thú

Trang 8

có ý nghĩa rất lớn đến thái độ nhận thức đặc biệt của chủ thể với hoạt động học tập.lĩnh hội tri thức, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trongđời sống cá nhân Hơn nữa, mục đích của giáo dục là biến quá trình giáo dục thànhquá trình tự giáo dục để người học có thể tự học suốt đời Do đó, hiệu quả của giáodục phụ thuộc rất nhiều vào việc làm thế nào để người học tham gia một cách chủđộng và tích cực vào quá trình đó, mà hứng thú là một trong những gốc rễ quantrọng tạo nên tính tích cực đó.

V.I.Lenin đã đánh giá sinh viên là: bộ phận nhạy cảm nhất của giới tri thức, làtầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên Sinh viên là lực lượng

kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ tri thức tương lai Sự phát triển của đất nước đòi hòiphải có lực lượng lao động trình độ khoa học, tay nghề cao Học tập ở đại học là mộthoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo nhằm mục đích giúp sinh viên trởthành những chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao

Do đó, hứng thú giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quảcủa các quá trình học

Vậy, thái độ của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học Sư phạm

Hà Nội với học thuyết phân tâm là như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, tôi quyết

định chọn đề tài “Hứng thú của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội với học thuyết phân tâm” để nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng hứng thú và những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú họcthuyết Phân tâmcủa sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học Sư phạm HàNội với học thuyết Phân tâm Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hứngthú học thuyết Phân tâmcho sinh viên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ hứng thú với học thuyết Phân tâm của sinh viên ngànhTâm lý- Giáo dục học,

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên khoa Tâm lý - Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 9

4.Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên Tâm lý- Giáo dục học có hứng thú với học thuyết phân tâm củaS.Freud nhưng mức độ hứng thú còn thấp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thúcủa sinh viên nhưng trong đó chủ yếu là do thiếu nguồn tài liệu về học thuyết này,thời lượng dành cho nội dung này còn ít nên sinh viên chưa thực sự hiểu đầy đủ vềhọc thuyết phân tâm dẫn đến hứng thú với học thuyết còn thấp

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến hứng thú, hứng thú củasinh viên khoa Tâm lý- Giáo dục học với học thuyết Phân tâm

5.2.Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện hứng thú của sinh viên khoaTâm lý- Giáo dục học đối với học thuyết Phân tâm và các yếu tố ảnh hưởng đếnhứng thú của sinh viê

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1.Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu hứng thú học thuyết Phân tâmtheo hướng tiếpcận: Nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên khoa TLGDH đối với học thuyếtphân tâm

6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu trên 150 sinh viên khoa tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư Phạm

Hà Nội bao gồm sinh viên các khóa K66, K67, K68

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận

Khái quát cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

7.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng bảng hởi: đây là phương pháp nghiên cứu chínhcủa nghiên cứu, nhằm thu thập thông tin cần thiết

Phương pháp phỏng vấn: Khẳng định lại thông tin đã thu thập được trên bảnghỏi và thu thập được những thông tin có thể cần thiết mà bảng hỏi chưa có

Trang 10

Phương pháp quan sát: Đánh giá lại kết quả thu thập thông qua phiếu, phỏngvấn một cách khách quan nhất.

Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia về địnhhướng cũng như tính khả thi của nghiên cứu

7.3.Phương pháp xử lý số liệu.

Phân tích thông tin thu được trên ứng dụng phần mềm SPSS

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận được chia thành 2 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên

Chương 2 Thực trạng hứng thú với Học thuyết Phân tâm của sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ HỌC THUYẾT PHÂN TÂM

CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1.Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về hứng thú là một trong những nghiên cứu phong phú củaTâm lý học Những công trình nghiên cứu về hứng thú trên thế giới xuất hiện khásớm và ngày một phát triển Herbart (1776-1841) nhà Triết học, Tâm lý học, Giáodục học người Đức cho rằng hứng thú học thuyết Phân tâmlà yếu tố quyết địnhkết quả học tập của người học, thậm chí, ông còn nói rằng, “tội ác” lớn nhất củadạy học là sự nhàm chán (the ‘worst sin of teaching’ is boredom.) Ovide Decroly(1871 – 1932) bác sĩ và nhà tâm lý người Bỉ khi nghiên cứu về khả năng tập đọc

và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và vềlao động tích cực

Từ những năm 1940 của thế kỷ XX: A.F.Bêliep đã bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ về “Tâm lý học hứng thú” Các nhà tâm lý học như S.LRubinstein,N.G.Morodov đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú, con đường hìnhthành hứng thú, và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm JohnDewey (1859 – 1952) nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ năm 1896 sánglập ra trường thực nghiệm, ưu tiên hứng thú của học sinh và nhu cầu của học sinhtrong từng lứa tuổi Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ýtưởng hoặc một vật thể, đồng thời, tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ

Trang 12

Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về mối quan hệ khắngkhít giữa tri thức học viên với hứng thú học tập Trong đó, sự hiểu biết nhất định

về môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với mônhọc Năm 1967, N.G (A.K) Marôsôva đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việcgiảng dạy, nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên” Dạy học nêuvấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú họcthuyết Phân tâmcủa học sinh trong quá trình học tập Năm 1976, tác giả đưa racấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khảnăng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh

Trong công trình nghiên cứu của mình L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệgiữa hứng thú với tính tích cực học tập của học sinh I.G.Sukira trong công trình

“Vấn đề hứng thú trong khoa học giáo dục” (1972) đã đưa ra khái niệm về hứngthú nhận thức cùng với biểu hiện của nó và nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứngthú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh J.Piaget (1896 –1980) chú trọng đặc biệt đến hứng thú của học sinh Trẻ em cũng là một thực thểnhư người lớn, hoạt động bị chi phối bởi hoặc quy luật hứng thú hoặc nhu cầu.Hoạt động sẽ không đem lại hiệu quả nếu người ta không khơi gợi những động cơnội tại của hoạt động đó Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựatrên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của

sự đồng hóa

Langevin (1971) nghiên cứu trên trẻ trong độ tuổi đến trường, đo lường tríthông minh và tính ham hiểu biết bằng bảng hỏi tự trả lời và bằng hành vi biểuhiện, kết hợp với việc giáo viên đánh giá tính ham hiểu biết của từng học sinh.Ông gợi ý phân biệt độ rộng và độ sâu của hứng thú Ông đã chỉ ra cách phân tíchyếu tố độ rộng để thấy được những sự đo lường khác nhau về tính ham hiểu biết

có tương quan với nhau như thế nào

TAinley (1998) định nghĩa chiều sâu của hứng thú là “khuynh hướng mongmuốn khám phá và tìm hiểu những đối tượng, sự kiện, ý tưởng mới nhằm hiểu

Trang 13

được chúng”; và độ rộng của hứng thú là “khuynh hướng mong muốn tìm ranhững kinh nghiệm thay đổi và khác biệt để nghiệm ra chúng giống cái gì”

Từ những công trình nghiên cứu trên, ta có thể khái quát lịch sử nghiên cứuhứng thú theo các hướng sau: xu hướng giải thích bản chất tâm lý của hứng thú;

xu hướng xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nóichung, vốn tri thức của cá nhân nói riêng; xu hướng nghiên cứu sự hình thành vàphát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Do nền tâm lý học Việt Nam còn non trẻ nên những công trình nghiên cứu

về hứng thú mãi đến những năm 1960, 1970 mới có những công trình nghiên cứunhư “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III” của Trương Anh Tuấn, Phạm HuyThụ, Đặng Trường Thanh Năm 1973, Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận

án Phó Tiến Sĩ ở Liên Xô với đề tài “Một số đặc điểm hứng thú nghề của họcsinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”

Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú học thuyết Phântâmgiữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng pháttriển nghề của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không đượcthực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi Hứng thú học thuyết Phântâmcác bộ môn của học sinh là cơ sở để đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp một cáchkhoa học

Năm 1977 tổ nghiên cứu của khoa tâm lý học giáo dục trường Đại Học SưPhạm Hà Nội đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú học thuyết Phân tâmcủa học sinhcấp II đối với môn học cụ thể” kết quả cho thấy hứng thú học thuyết Phân tâmcácmôn của học sinh cấp II là không đồng đều Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đềtài luận văn “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học văn học lớp 10 ở một số trườngPhổ thông Trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1982, Đinh Thị Chiến “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sưphạm của giáo sinh Cao đẳng sư phạm Nghĩa Bình” Tác giả đưa ra nhiều biệnpháp để cải thiện hứng thú với nghề sư phạm cho giáo sinh, trong đó, tác giả nhấn

Trang 14

mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của dư luận xã hội Năm 1984, Trần ThịThanh Hương đã thực nghiệm nâng cao hứng thú họcsinh viên K68 của học sinhqua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh Năm 1987, NguyễnKhắc Mai với đề tài luận án “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với hoạtđộng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoatâm lý giáo dục” Tác giả đã đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ýnghĩa của môn học, trình độ của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảngviên Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài thực nghiệm “Tìm hiểu hứng thú vớinăng lực học văn của học sinh lớp 6” Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài

“Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổthông” tác giả kết luận dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đếnhứng thú của học sinh

Năm 1999, Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học thuyếtPhân tâmcác môn lý luận của sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao I” Tácgiả rút ra kết luận: phương pháp, năng lực chuyên môn của giảng viên là yếu tốảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên

Năm 2000 Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạnghứng thú học mônsinh viên K68 của học sinh trung học cơ sở thị xã Tân An” Kếtquả cho thấy đa số học sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú họcsinh viênK68 Năm 2003, Dương Thị Kim Oanh nghiên cứu “ảnh hưởng của việc sử dụng

đa phương tiện trong giảng dạy tới hứng thú học nghiệp vụ sư phạm của sinh viênKhoa sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Bách khoa Hà Nội” Tác giả đưa ra kếtluận: thiết kế bài giảng phần hoạt động nhận thức bằng cách sử dụng đa phươngtiện góp phần làm tăng hứng thú học môn này ở sinh viên

Năm 2014, Mai Văn Hải với đề tài nghiên cứu khoa học “Hứng thú củasinh viên Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn với môn học thểchất” Các sinh viên chưa thấy hết được học thể chất có tác dụng như thế nàotrong cuộc sống

Trang 15

Năm 2015, Phạm Mạnh Hiền nghiên cứu “Hứng thú học thuyết Phântâmcủa học viên thuộc Trung tâm Phát triển kỹ năng con người Tâm Việt” Trong

đó nổi bật lên phương pháp giảng dạy của giảng viên có ý nghĩa to lớn tác độngtới hứng thú học của học viên

Năm 217, Lê Thanh Hà với luận văn thạc sĩ về “Hứng thú của sinh viên đốivới môn học tư tưởng Hồ Chí Minh” Năm 2009, Phạm Thanh Thủy với “Hứngthú học thuyết Phân tâmmôn Giáo dục quốc phòng-an ninh của sinh viên trườngĐại học Sư phạm Hà Nội”

Năm 2017, Lê Văn Bích với luận văn Thạc sĩ “Hứng thú học thuyết Phântâmcác môn Lý luận chính trị của sinh viên hệ chính qui trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh” Riêng với hứng thú học thuyết Phân tâmmôn tâm lý,

có những công trình nghiên cứu sau: Năm 1980, Dương Diệu Hoa “Bước đầu tìmhiểu hứng thú học thuyết Phân tâmmôn Tâm lý học đại cương của sinh viên khoaTâm lý học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

Năm 2017, Đặng Mai Khanh với Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Tìm hiểuthực trạng hứng thú đối với môn Tâm lý học của sinh viên trường Đại học Cầnthơ” Tác giả khảo sát thực trạng hứng thú học Tâm lý học và các yếu tố ảnhhưởng đến hứng thú học thuyết Phân tâmtâm lý học của sinh viên Cao đẳng Sưphạm Cần Thơ và thử nghiệm bằng cách cải tiến và sử dụng hệ thống bài tập thựchành trong chương trình Tâm lý học nhằm nâng cao hứng thú học thuyết Phântâmcho sinh viên sư phạm

Năm 2018, Đặng Minh Thư với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với môn Tâm lýhọc của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai” Năm 1999, Nguyễn ThịNhượng, “Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn Tâm lý học của giáo sinh,sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Phú Yên” Tác giả nêu những nguyên nhângây nên thực trạng trên, bước đầu thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng caohứng thú học Tâm lý học cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Phú Yên

Phạm Thị Ngạn nghiên cứu “Hứng thú học môn Tâm lý học của sinh viêntrường Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ” (luận án thạc sĩ Tâm lý học), tác giả đã tiến

Trang 16

hành thử nghiệm biện pháp nâng cao hứng thú học thuyết Phân tâmmônTâm lý học của sinh viên: cải tiến nội dung các bài tập thực hành, cải tiến cách sửdụng các bài tập thực hành, tăng tỉ lệ các giờ thực hành

Năm 2012, Đặng Quốc Thành nghiên cứu “Hứng thú học môn Tâm lý họcquân sự của học viên các trường Cao đẳng, đại học Kỹ thuật Quân sự” tác giả đã

đề xuất một số biện pháp: kết hợp phương pháp giảng giải và phương pháp nêuvấn đề; Cải tiến hình thức tổ chức dạy học (kết hợp hình thức bài giảng hình thứcthảo luận - bài tập thực hành) Và tác giả nêu một số biện pháp nâng cao hứngthú: cấu trúc lại nội dung chương trình; vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn

đề kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống; nâng cao tay nghề sư phạmcho giảng viên; đổi mới việc kiểm tra đánh giá; đảm bảo điều kiện vật chất

Năm 2012, Lê Thị Phương Thảo tìm hiểu hứng thú học thuyết Phântâmmôn Tâm lý học và biện pháp nâng cao hứng thú học thuyết Phân tâmchosinh viên Cao đẳng Sư phạm Huế Năm 2015, Phan Thị Thơm với luận văn thạc

sĩ “Hứng thú học thuyết Phân tâmmôn Tâm lý học đại cương của sinh viêntrường Đại học Dân lập Đông Đô”, trong đó, tác giả khẳng định: hứng thú họcthuyết Phân tâmmôn Tâm lý học phát triển chưa cao, chưa đồng đều; có nhiềunguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên trong đó,phải kể đến yếu tố của giảng viên

Năm 2018, Lê Thị Lâm với đề tài nghiên cứu “Hứng thú học thuyết Phântâmmôn Tâm lí học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng” kết luận:phần lớn sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học, tuy nhiêngiữa nhận thức và hành động lại có sự mâu thuẫn, nguyên nhân căn bản là dochưa có động cơ học tập đúng đắn và có sự khác biệt về mức độ hứng thú giữahai khối tự nhiên và xã hội, sinh viên khối tự nhiên có mức độ xúc cảm và nhậnthức cao hơn nhưng sinh viên khối xã hội lại có những hành động học tập tíchcực hơn Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học thuyết

Trang 17

Phân tâmnhư: phát động được động cơ học tập đúng đắn; khơi dậy ở sinhviên nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập; tạo điều kiện họctập thuận lợi; giáo viên cần trau dồi kỹ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, cảitiến phương pháp giảng dạy, đảm bảo việc truyền thụ tri thức ngày càng chínhxác, hấp dẫn, có chất lượng,…

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú họcthuyết Phân tâmmôn tâm lý nói riêng trên thế giới cũng như tại Việt Nam đãđược nghiên cứu rất phong phú, đa dạng Chính từ những công trình này, cơ sở lýluận về hứng thú ngày càng được hoàn thiện, góp phần làm giàu thêm cho nềnTâm lý học Tuy nhiên, với mỗi công trình nghiên cứu khác nhau, khách thểnghiên cứu cũng có nhiều sự khác biệt, ấy là chưa đề cập đến yếu tố lịch sử củakhách thể nghiên cứu

Từ trước đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về “Hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trường Đại học Sư phạm Hà Nội với học thuyết phân tâm” Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu vấn đề này là hết

sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

1.2 Hứng thú và hứng thú học thuyết Phân tâm

1.2.1 Hứng thú

1.2.1.1 Khái niệm hứng thú

Một số quan niệm vế hứng thú của các nhà Tâm lý học trên thế giới Từnhững năm nửa đầu thế kỷ XX, khái niệm hứng thú đã được nhiều nhà tâm lýhọc, giáo dục học quan tâm nghiên cứu Nghiên cứu của các tác giả khác nhaucho thấy khái niệm “hứng thú” được sử dụng khá rộng rãi, được hiểu dưới nhiềukhía cạnh khác nhau do đó, có nhiểu cách giải thích khác nhau

Một số nhà tâm lý học, giáo dục học phương Tây quan niệm rằng hứng thú

là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người (I.Ph.Shecbac); hứng thú khôngnhững chỉ toàn bộ những hành động khác nhau mà nó còn thể hiện cấu trúc baogồm các nhu cầu, là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn (CharletteBuhler, Sbinle)

Trang 18

Theo E.K.Strong và W.James, hứng thú là một trường hợp riêng của thiênhướng biểu hiện trong xu thế hoạt động của con người muốn học một số đốitượng nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tính cách nhấtđịnh vào những hoạt động đó

Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn cótrong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cánhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại của cá nhân Thái độ

đó xuất hiện do kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa điều kiện sống và hoạtđộng của con người

Một số nhà Tâm lý học Macxit coi hứng thú là thái độ nhận thức tích cựccủa cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan (V.G.Ivanôp,A.G.Ackhipop); thậm chí, A.A Luiblinxcaia khẳng định hứng thú là thái độ nhậnthức, thái độ khao khát đi sâu vào một khía cạnh nhất định của thế giới xungquanh P.A.Rudich coi hứng thú là sự hiểu biết của xu hướng đặc biệt trong sựnhận thức thế giới khách quan, là thiên hướng tương đối ổn định với một loạihoạt động nhất định

A.V.Daparôzét coi hứng thú như là khuynh hướng lựa chọn của sự chú ý

và đưa ra khái niệm hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định lànguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng tốt Còn B.M.Cheplốp thìcoi hứng thú là thiên hướng ưu tiên chú ý vào một đối tượng nào đó

Trong quyển sách Tâm lý học cá nhân, A.G.Côvaliốp coi hứng thú là sựđịnh hướng của cá nhân vào một đối tượng nhất định, tác giả đã đưa ra một kháiniệm được xem là khá hoàn chỉnh về hứng thú “Hứng thú là một thái độ đặc thùcủa cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong cuộc sống và sựhấp dẫn về mặt tình cảm của nó”

Một số quan niệm về hứng thú của các nhà Tâm lý học Việt Nam: Nhómcủa tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta cóhứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩacủa nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối

Trang 19

với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ratâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó

Nguyễn Quang Uẩn trong Tâm lý học đại cương đã tổng hợp và phát biểukhái niệm hứng thú tương đối thống nhất: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cánhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khảnăng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động

Các khái niệm nêu trên vừa chứng minh được bản chất của hứng thú, vừagắn hứng thú với hoạt động của cá nhân Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cánhân đối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhậnthức đối tượng sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng

Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thúkhi chúng thoả mãn những điều kiện sau: một là, có ý nghĩa với cá nhân, điềukiện này quyết định nhận thức trong cấu trúc của hứng thú, đối tượng nào càng có

ý nghĩa lớn đối với cuộc sống của cá nhân thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú.Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng vớicuộc sống của mình, nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vữngchắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú

Hai là, có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân Trong quá trình hoạtđộng với đối tượng, hứng thú quan hệ mật thiết với với nhu cầu Khoái cảm nảysinh trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tácdụng thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thểhình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân Biện pháp quantrọng nhất, chủ yếu nhất để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trìnhhoạt động và bằng hoạt động với đối tượng, mới có thể nâng cao được hứng thúcủa cá nhân

Bên cạnh đó, cũng như những chức năng cấp cao khác, hứng thú được quyđịnh bởi những điều kiện xã hội lịch sử Hứng thú của cá nhân được hình thànhtrong hoạt động và sau khi được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cánhân hoạt động

Trang 20

Vì các lý do trên, hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâuvào đối tượng gây ra nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trungchú ý cao độ vào cái làm cho mình hứng thú, hướng dẫn và điều chỉnh các quátrình tâm lý theo một hướng xác định, do đó tích cực hóa hoạt động của conngười theo hướng phù hợp với hứng thú của nó dù phải vượt qua muôn ngàn khókhăn người ta vẫn thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao.

Đề tài nghiên cứu đồng ý với khái niệm hứng thú của A.G.Côvaliốp và

Nguyễn Quang Uẩn Khái niệm hứng thú được phát biểu như sau: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”.

1.2.1.2 Biểu hiện hứng thú

Có khá nhiều quan niệm khác nhau về những biểu hiện của hứng thú Tuynhiên, quan niệm sau đây được xem là gần với đề tài nghiên cứu của chúng tôi.Hứng thú được biểu hiện ở các mặt sau:

- Về mặt kiếnthức:

+ Luôn say mê, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc

+ Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết, sẵn sàng học hỏi

+ Biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và thích làm những công việckhó

- Về thái độ, tình cảm:

Trang 21

+ Rất hứng thú, phấn khởi trong quá trình tham gia học tập

+ Chủ động dành nhiều thời gian cho việc tìm tòi, khám phá kiến thức + Thích vượt qua những khó khăn và vui sướng, hạnh phúc khi biết thêmmột kiến thức mới

- Về kếtquả:

+ Biết rút ra bài học kinh nghiệm

+ Đạt kết quả cao trong học tập

+ Thường xuyên thành công trong công việc

1.2.2 Hứng thú học thuyết Phân tâm

1.2.2.1 Khái niệm hứng thú học tập

Theo quan niệm của A.G Kovaliov: “Hứng thú học thuyết Phân tâmchính

là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập,

vì sự thu hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thực tiễn của nó trong đời sống của cánhân”

Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy cho rằng: “Khi ta có hứngthú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta hiểu ý nghĩa của

nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với

nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm

lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó”

Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhânđối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năngmang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Khái niệm này vừanêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân”

Một cách khái quát có thể hiểu: Hứng thú là thái độ con người đối với sựvật, hiện tượng nào đó Hứng thú là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của

cá nhân với hiện thực khách quan, biểu hiện sự ham thích của con người về sựvật, hiện tượng nào đó

Trang 22

Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thúkhi chúng thỏa mãn 2 điều kiện sau đây: Điều kiện cần: Sự vật và hiện tượng đóphải có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân, điều kiện này Muốn hình thành hứngthú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của sự vật và hiện tượng với cuộc sống củamình Nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sựhình thành và phát triển của hứng thú Điều kiện đủ: Khi nhận thực và thực hiệnđược “sự vật và hiện tượng” đó phải có khả năng mang lại khoái cảm cho chủ thể.

1.2.2.2 Biểu hiện hứng thú học tập

Hứng thú học thuyết Phân tâmđược biểu hiện ở ba mặt: Nhận thức về đốitượng, thái độ đối với đối tượng và thể hiện hành vi để vươn tới chiếm lĩnh đốitượng:

- Những dấu hiệu đặc thù riêng của hứng thú, đó là những biểu hiện vềhành vi và hoạt động của chủ thể trong quá trình hoạt động học tập trên lớp

+ Tập trung chú ý trong giờ học: khi hứng thú cá nhân tập trung tư tưởng,không sao nhãng với vấn đề đang quan tâm

+ Khi theo dõi bài giảng, cá nhân tham gia vào bàn bạc, thảo luận nhữngvấn đề giáo viên đặt ra cho cả lớp Do đó, việc cá nhân hăng hái giơ tay phát biểu

ý kiến xây dựng bài, số lượng và chất lượng của những phát biểu… là một dấuhiệu chứng tỏ cá nhân có hứng thú học thuyết Phân tâm

+ Nảy sinh các câu hỏi trong quá trình nghiên cứu về học thuyết phân tâm.Khi hứng thú, cá nhân muốn đi sâu vào bản chất của đối tượng nhận thức, do đónẩy sinh các câu hỏi và sự tìm tòi lời giải đáp cho câu hỏi đó

- Những dấu hiệu của hứng thú có liên quan với sự thay đổi hành vi của cánhân ở ngoài giờ học: các cá nhân tranh luận với nhau về vấn đề đặt ra, suy nghĩ

về nội dung bài học,…

- Những dấu hiệu liên quan tới cách sống của cá nhân ở nhà là biểu hiện độbền vững, phát triển cao của hứng thú học thuyết Phân tâm, như: ở nhà cá nhânthường đọc loại sách gì, sử dụng thời gian rảnh rỗi như thế nào, lựa chọn các hìnhthức ngoại khóa nào, có thường xuyên trao đổi về học thuyết với bạn bè, thầycô…

Trang 23

Từ những phân tích trên, chúng tôi vạch ra những biểu hiện cụ thể chohứng thú học thuyết Phân tâm của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học trongnghiên cứu này như sau:

Một là, chủ thể nhận thức được tầm quan trọng học thuyết phân tâm; hai là,

có thái độ tích cực với học thuyết; ba là, không chỉ nhận thức tốt, thái độ đúngđắn, mà biểu hiện cao nhất của sự hứng thú học thuyết Phân tâm đó là chủ thểtích cực hoạt động để tiếp cận, khai thác và chiếm lĩnh tri thức

- Nhận thức về tầm quan trọng của học thuyết: Việc nhận thức được mụcđích, ý nghĩa học tập mới chỉ là cơ sở, là tiền đề cho hứng thú học thuyết Phântâm Sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học chỉ mới dừng lại ở việc nhận thức vềđối tượng, chưa có xúc cảm tình cảm với đối tượng đó, chưa tiến hành, hoạt động

để chiếm lĩnh đối tượng đó

Có thái độ tích cực đối với học thuyết phân tâm: Sinh viên khoa tâm lý giáo dục học tự thấy mình có thích thú với việc học tập, coi việc học tập là niềmvui Đây là điều kiện cần thiết cho sự hình thành hứng thú học thuyết Phân tâm

- Thể hiện hành vi vươn tới chiếm lĩnh đối tượng nghiên cứu: Lúc này, đốitượng hứng thú thúc đẩy sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học tiến hành thực hiện

hệ thống hành vi học tập nghiên cứu tích cực nhằm chiếm lĩnh kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo, thỏa mãn hứng thú với học thuyết Phân tâm

Vì vậy, bản thân sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học không chỉ thể hiệnhứng thú với học thuyết Phân tâm trên lớp hoặc ngoài lớp bắt buộc mà còn thểhiện sự tích cực với học thuyết ngoài lớp không bắt buộc Điều này thể hiện việcnghiên cứu sâu, toàn diện các học thuyết với ý thức tự giác cao của sinh viên.Chính điều này thể hiện hứng thú học thuyết Phân tâm phát triển ở mức cao vàbền vững của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học

Biểu hiện mức độ hứng thú học thuyết Phân tâm qua hành vi như sau: Nghiên cứu, học tập trên lớp:

+ Đi học đúng giờ

+ Tập trung chú ý trong giờ học

+ Nghe giảng và ghi chép bài theo cách hiểu của mình

Trang 24

+ Nêu những thắc mắc của mình với thầy cô trong giờ học

+ Phát biểu ý kiến trong giờ học

+ Suy nghĩ và tự tìm lời giải đối với những vấn đề thầy cô đưa ra

Nghiên cứu, học tập bắt buộc ở ngoài lớp:

+ Trao đổi để làm sáng tỏ một số vấn đề về phân tâm học với bạn bè

+ Đọc giáo trình liên quan đến phân tâm học trước khi lên lớp

+ Đọc những tài liệu có liên quan đến học thuyết do giáo viên đưa ra + Hệ thống hóa lại kiến thức về phân tâm học

+ Làm các bài tập, tiểu luận thầy cô giao đúng thời hạn

Nghiên cứu, học tập ngoài lớp không bắt buộc: là biểu hiện mức độ phát triển caocủa hứng thú học thuyết Phân tâm

+ Đặt câu hỏi để tìm kiếm, phát hiện vấn đề

+ Đọc sách, báo, tạp chí về phân tâm học

+ Tìm kiếm thông tin mới có liên quan đến phân tâm học trên mạng

+ Ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tế

+ Dành nhiều thời gian cho việc tự học, nghiên cứu các tài liệu về phântâm học

+ Trao đổi với thầy cô, bạn bè về học thuyết phân tâm

+ Tham gia những hội thảo, chuyên đề có liên quan đến phân tâm học+ Khi gặp khó khăn trong học tập, nghiên cứu cố gắng tìm cách để giảiquyết

1.3 Học thuyết Phân tâm

1.3.1 Nội dung của học thuyết Phân tâm

Phân tâm học: là tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có

mục đích tìm hiểu những mối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liêntưởng Nó được khởi thảo bởi Sigmund Freud, một bác sĩ người Áo Phân tâmhọc chuyên sâu nghiên cứu về con người Phân tâm học chia bản năng con người

ra làm ba phần: cái ấy (E: id; F: Le Ca; G: das Es), cái tôi (E: Ego; F: Le Moi;

G: das Ich) và cái siêu tôi (E: Super ego; F: Le Surmoi; G: das Über-Ich).

Trang 25

Nội dung cơ bản của học thuyết Phân tâm bao gồm:

Trước và cùng thời với S Freud, các nhà triết học, xã hội học, tâm lí học

đã chia những hiện tượng tinh thần làm ba loại với những đặc điểm khác nhau: vôthức, tiềm thức, ý thức Freud không bác bỏ cách phân loại như vậy, nhưng ông

có cách phân loại theo yêu cầu riêng của phân tâm học như sau: vô thức, tiền ýthức, ý thức

Bởi thế, học thuyết phân tâm học được xây dựng trên khái niệm vô thức

Freud quan niệm: “Tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện tượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lí của con người Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức”

Để hiểu về vô thức ta cần hiểu về ý thức và tiềm ý thức Ý thức là lớp ởtrên, là những suy nghĩ và nhận thức mà ta biết rất minh bạch Còn tiềm ý thức vềđặc điểm có vẻ như không khác với tiềm thức nhưng vai trò của chúng lại cóphần nào thay đổi theo yêu cầu riêng của phân tâm học Có thể hiểu rằng tiềmthức là một hiện tượng tinh thần không còn phụ thuộc vào ý thức nữa nhưng cũngchưa hoàn toàn phụ thuộc vô thức

Khi đề cập đến vô thức Freud đồng tình với quan niệm cho rằng, vô thức làcái mang tính sinh lí tự nhiên, là cái mang tính bản năng di truyền bẩm sinh từđời nọ sang đời kia Tuy nhiên, ông còn cho rằng vô thức ngoài nguồn gốc có tínhbẩm do cơ quan sinh lí phát động còn có sự tác động bên ngoài xã hội

Để thấy rõ hơn ta cần tìm hiểu về cấu trúc nhân cách của Freud Ông chorằng nhân cách của cá nhân là cảnh tượng về một cuộc chiến dai dẳng, giữa mộtbên là những thôi thúc nguyên sơ và không thể chấp nhận được, đang mongmuốn được diễn tả, một bên là các lực lượng cố tìm cách từ chối hoặc ngụy trang

Trang 26

các thôi thúc đó Trong trận chiến đó, Freud còn nhận diện các đối thủ, đólà: bản năng vô thức hay là tự ngã (id), bản ngã (ego), và siêu ngã (superego).

Trước hết là tự ngã (id) Tự ngã là cái con người đã có ngay từ lúc sinh ra

Nó chi phối toàn bộ dời sống của con người Đó cũng là nguồn cung cấp libido.Theo Freud, con người sinh ra với hai xung động bản năng, đóng vai trò làm

động cơ thúc đẩy căn bản cho tất cả mọi hành vi Một là xung năng Eros Đây là

xung động để tồn tại Xung động này bao gồm nhu cầu ăn uống, giữ ấm, và trên

hết là hoạt động tính dục (libido) Và xung năng Thanatos là thôi thúc phá hủy.

Mục đích của nó là phá hủy cái khác, nhưng cũng có một khía cạnh tự phá hủyđối với nó

Còn bản ngã (ego) thì không có lúc sinh ra Chính bản ngã giúp con người

tự chủ trước các tác động bên ngoài Bản ngã phát triển qua sự tương tác bênngoài, đồng thời nó sẽ tìm lấy sức mạnh trong siêu ngã

Vậy siêu ngã là gì? Siêu ngã thể hiện lương tri của chúng ta Đó là các giátrị đạo đức về đúng, sai mà chủ yếu được thấm dần vào chúng ta từ bố mẹ, thầy

cô và xã hội Bản chất của siêu ngã là lương tâm và cái tôi lý tưởng Siêu ngãđược hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt Siêu ngã khiến chúng tacảm thấy tội lỗi khi làm một điều sai trái Cũng chính siêu ngã khiến chúng tahoàn thiện mình hơn và sống theo những lý tưởng của mình Siêu ngã tồn tại ở cả

ba cấp độ nhưng chủ yếu là vô thức

Do đó, Freud đã xây dựng mô hình lí thuyết của mình mà ông gọi là môhình tảng băng Theo đó, phần trên của tảng băng là ý thức, phần dưới tảng băngtheo thứ tự: tiềm ý thức, siêu ngã, cái tôi, vô thức, tự ngã Và cũng cần thấy rằng,cái tôi (ego) không phải là dạng cố định nhưng nó có thể có mặt ở cả 3 dạng thức(vô thức, tiềm ý thức và ý thức)

Trang 27

Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lí người được Freudlàm rõ trong các công trình nghiên cứu về bệnh Hystêri, về giấc mơ và về lýthuyết tính dục cũng như ở nhiều vấn đề khác được đề cập liên quan trong cácvấn đề cụ thể của ông.

Và để thấy rõ hơn về vô thức, chúng ta cần hiểu libido theo Freud là gì

Libido có thể tạm dịch là dục năng – tức xung năng tính dục, là sự khát dục của

con người Freud coi vô thức là bể chứa các xung năng và xung năng tính dục làxung năng quan trọng nhất cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động tâm thần củacon người Libido tồn tại ở 2 dạng là Eros và Thanatos Theo Freud, libido là bảnnăng tình dục của con người, chịu tác động theo nguyên tắc khoái lạc (pleasreprinciple) “Khát vọng tình dục là nhu cầu thỏa mãn một ham muốn mang nộidung tình dục” Nó là nhu cầu của con người như ăn, uống, ngủ, nghỉ…Libidokhông chỉ diễn ra trong 5 giai đoạn phát triển nhân cách của trẻ mà còn chi phốisuốt cuộc đời con người Cũng theo Freud, nhờ những thực tại ngăn cản nguyêntắc khoái lạc (Freud gọi là ego) nên con người chỉ thỏa mãn thúc đẩy tình dục khihội đủ các yếu tố mà thôi

Vì libido chi phối không những những giai đoạn đầu đời của trẻ mà còn chiphối cả cuộc đời con người nên chúng ta sẽ hiểu cách rõ ràng hơn về quan niệmmặc cảm Oedipus của Freud Trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ, Freudchia 5 giai đoạn: môi miệng, hậu môn, dương vật, tiềm ẩn, cơ quan sinh dụcngoài Theo đó, mặc cảm Oedipus xuất hiện rõ nhất trong giai đoạn dương vật

“Vào khoảng tuổi lên 3 trẻ bắt đầu giai đoạn sùng bái dương vật (Phallicstage)” Đây là một giai đoạn đánh dấu một trong các sắc thái quan trọng nhất củatiến trình phát triển nhân cách theo quan điểm của Freud: đó là xung đột do mặccảm Oedipus

Trang 28

Freud tin rằng các trẻ nam phát triển các mối quan tâm tình dục vào mẹchúng, bắt đầu xem cha chúng như kẻ thù, và ấp ủ ước muốn giết cha – giống nhưOedipus đã làm trong bi kịch Hy Lạp cổ đại Nhưng vì thấy người cha quá uyquyền, trẻ sinh lòng sợ hãi bị trả đũa dưới dạng “lo sợ bị thiến” (Oedipalconflict) Trẻ lo ngài ông bố sẽ giải quyết cuộc cạnh tranh bằng những biện phápquyết liệt này Vì đời sống có sự lo âu không thể chấp nhận được như thế, nên trẻphải giải quyết theo cách nào đó, qua cơ chế phòng thủ cái tôi gọi là nhận dạngvới tác nhân tấn công Tác động tiềm thức trên nguyên tắc người bố có thể có thái

độ thù địch đối với trẻ ít hơn nếu ông ta xem trẻ như một đồng minh Sau cùngnỗi sợ hãi này mạnh mẽ đến mức đè nén được các khát khao đối với mẹ chúng,

và thay vào đó bằng cách đồng hóa (Identification) với người cha, cố bắt chướchành vi của ông càng nhiều càng tốt Bằng cách này, trẻ đi đến việc tiếp nhận vaitrò giới tính của mình, và phải nhận dạng như một nam giới

Đối với bé gái, tiến trình diễn ra khác biệt hẳn Freud lập luận rằng các bégái bắt đầu thức tỉnh tình dục đối với cha của chúng, tức chúng ao ước có dươngvật, ao ước sinh con cho cha, đổ lỗi cho mẹ vì chúng vì mẹ mà chúng thiếu dương

vật Về điểm này, Freud sau này bị lên án vì như thế là ông đã quan niệm nữ giới thấp kém hơn nam giới Dù vậy, giống như các bé trai, chúng thấy rằng để giải

quyết những tình cảm không thể chấp nhận được như thế, chúng phải đồng hóavới bậc cha mẹ đồng giới tính bằng cách cư xử giống mẹ và chấp nhận giá trị vàthái độ của bà mẹ Theo cách này, hiện tượng đồng hóa với bà mẹ của các bé gái

đã hoàn tất

Phân tâm học còn cho chúng ta biết rằng Oedipus là mặc cảm xuất hiện cả

trẻ nam và trẻ nữ Riêng ở trẻ nữ, phân tâm học gọi là mặc cảm electra Freud và

các nhà phân tâm học sau này không cho chúng ta biết nhiều về mặc cảm này chỉbiết rằng nó cũng tương tự như mặc cảm Oedipus Vào thời điểm này, các nhàphân tâm nói rằng mặc cảm Oedipus đã được giải quyết…

Trang 29

Giấc mơ:

Tiếp đến, chúng ta hãy tìm hiểu giấc mơ trong học thuyết phân tâm củaFreud Vào năm 1901 Freud đã đưa ra lí thuyết về giấc mơ Vì Freud coi tiềmthức của con người cơ bản tập trung ở năng lượng tình dục nên lí thuyết về giấc

mơ của ông cũng được giải thích theo hướng đó Ông cho rằng, con người trong

vô thức luôn mong ước một khát khao, và để tránh những mối đe dọa từ bênngoài nên con người đã đưa mong muốn đó vào giấc mơ “Ông gọi các hạng mục

và sự kiện trong giâc mơ là nội dung hiện trong khi ý nghĩa ẩn các giấc mơ là nộidung ẩn.”.Giấc mơ chỉ xuất hiện trong giấc ngủ, và phân tâm học coi giấc ngủ

“chính là biểu hiện của những gì còn sót lại trong ngày, trong đời sống bên ngoàivào những lúc thức”

sự hợp lí hóa (reaction Formation), sự phá bỏ (undoing), sự thăng hoa (sublimation), sự mơ mộng (fantasy)

Như vậy, sự dồn nén (repression) là một trong 8 cơ chế phòng thủ theo

Freud Khi một nhu cầu bản năng không thực hiện được hay không được chấpnhận nó dẽ được đẩy vào vô thức “Dồn nén là một phương thức trực tiếp nhấtnhằm giải quyết tình trạng lo âu, thay vì phải giải quyết một xung động gây ratình tạng lo âu ở bình diện ý thức, người ta chỉ việc phớt lờ nó đi”.Chẳng hạn mộtcậu bé căm ghét cha mình, nó bị dồn nén, đến lúc đi học nó gặp những ông thầykhó tính và kết quả còn tồi tệ hơn Thế là nó sẽ gia nhập cảnh sát để có thể ranhững mệnh lệnh và bắt người khác phải thực hiện mà không có khiếu nại nào

Trang 30

Đây là một cơ chế rất thường thấy trong đời sống con người Nó có ảnh hưởng rấtnhiều trong quá trình phát triển nhân cách…

1.3.2 Vị trí của học thuyết Phân tâm

Dưới tầm ảnh hưởng rộng lớn của phân tâm học, đã có ít nhất 22 nhánh lýthuyết nghiên cứu về sự phát triển tâm lý con người Nhiều phương pháp tiếp cậnkhác trong trị liệu cũng được gọi phân tâm học lại khác xa so với lý thuyết Thuậtngữ phân tâm học cũng dùng cho một phương pháp nghiên cứu về sự phát triển ởtrẻ em

Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, màngười được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, quanhững liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâmhọc sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra cáctriệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họhiểu để từ đó có giải pháp cho những nan đề của mình

Điểm đặc trưng cho phương pháp can thiệp của liệu pháp phân tâm làđương đầu và phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tộilỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân Qua sự phân tích những xung đột và sự tácđộng của nó gây ra những kháng cự tâm lý và hiện tượng chuyển di vào nhà phântích qua những hành vị bị bóp méo, liệu pháp phân tâm có thể đưa ra những giảthuyết về vô thức chính là những kẻ thù tệ hại nhất của các bệnh nhân: cách thức

mà những hành động mang tính biểu trưng và vô thức đã bị kích thích bởi nhữngtrải nghiệm đang gây ra các triệu chứng Lý thuyết này đã bị chỉ trích rất nhiều,

có quan điểm cho rằng đó là một hệ lý thuyết phi khoa học; nhưng dù vậy, liệupháp phân tâm vẫn đang được rất nhiều nhà tâm lý hiện nay ứng dụng

Ngoài ra, Thuyết Phân tâm học của S.Freud ra đời cũng xuất phát từ sự tácđộng của ngành khoa học tự nhiên lúc đó, bởi trong giai đoạn này khoa học tựnhiên đã có sự phát triển vượt bậc Freud đã chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi tưtưởng của các nhà tâm vật lý như Fexner, hình ảnh tâm lý như tảng băng trôi,

Trang 31

phần lớn hoạt động tâm lý được dấu dưới cái vỏ ý thức và chịu sự tác độngmạnh mẽ của những sức mạnh không nhìn thấy được Tất cả những tư tưởng,quan điểm đó đã được S.Freud sử dụng để giải thích về khả năng tồn tại năng lựctính dục thúc đẩy hành vi của nhân loại.

Thuyết Phân tâm học ra đời đã cung cấp một ý tưởng khoa học đúng đắncho sự phát triển của nhân loại nói chung, ngành khoa học, đặc biệt là khoa họcnghiên cứu về tâm lý con người nói riêng, để từ đó hiểu rõ hơn về những suy nghĩcủa cá nhân tức là sự tri giác của cá nhân đó đối với các giá trị đạo đức và xã hộinói chung, từ sự hiểu rõ bản chất của suy nghĩ của cá nhân đó, chúng ta có thể tìm

ra những giải pháp để kiềm chế những xung đột của cá nhân đó do có sự nhậnthức không đúng đắn về các giá trị đạo đức và xã hội mà xâm hại đến những giátrị đó, đưa cá nhân đó trở lại trạng thái bình thường, phát triển bình thường Cáckết quả của Phân tâm học được rút ra từ những nghiên cứu thực hành trị liệu dochính S.Freud thực hiện, những thành tựu mà ông mang đến cho khoa học loàingười nói chung, khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói riêng là một khámphá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến naychưa ai vượt qua được những nghiên cứu của ông Thuyết Phân tâm học có ảnhhưởng rộng khắp trên toàn thế giới, nó đã tạo ra một phương pháp cho việc ứngdụng vào những ngành liên quan, hiện nay thuyết này được ứng dụng rộng rãitrong nhiều lĩnh vực như điều trị bệnh nhân bằng liệu pháp tâm lý, điều tra tộiphạm, tội phạm học để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những phản kháng tiêucực đối với các chuẩn mực xã hội do hành vi, để đưa cá nhân đó đi theo conđường đúng đắn;

Freud đã đề xuất được một phương pháp “liên tưởng tự do” nhằm giải tỏatâm lý, trị liệu cho những người có vấn đề về tâm lý Nói chung, với việc xuấthiện một học thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu về con người bởi tâm lý của

họ, nó đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng khoa học, làm phong phúhơn cho lĩnh vực khoa học, hơn nữa, cũng giúp cho xã hội có thể giải quyết được

Trang 32

những trường hợp thuộc lĩnh vực nghiên cứu của Phân tâm học mà trước đó, cácngành khoa học khác vẫn chưa thể giải quyết được

1.4 Hứng thú của sinh viên ngành Tâm lý - giáo dục học với học thuyết phân tâm

1.4.1 Sinh viên ngành Tâm lý- Giáo dục học

Lứa tuổi sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học thường là từ 18 đến 25 tuổi,đây là thời kỳ hoàn thành và ổn định sau những biến động sâu sắc của tuổi dậythì Sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học là giai đoạn đang chuẩn bị cho việc hìnhthành nghề nghiệp ổn định và bắt đầu bước vào phạm vi hoạt động lao động.Hoạt động học tập của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học là hoạt động đi vàonghiên cứu chuyên sâu những chuyên ngành khoa học cụ thể nhằm trở thànhchuyên gia trong các lĩnh vực khoa học nhất định Chính vì vậy, sinh viên khoatâm lý - giáo dục học phải có sự phối hợp các thao tác tư duy như phân tích, sosánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, … trong quá trình học tập Đồngthời, sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học cũng phải hình thành cho bản thânnăng lực nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập Vì hoạt động học tập củasinh viên khoa tâm lý - giáo dục học là hoạt động độc lập, tự chủ và sáng tạo cao

Bản thân sinh viên cũng phải tự đào tạo, xây dựng kế hoạch, phương pháphọc tập phù hợp với ngành nghề mình đang theo học và theo yêu cầu của nhàtrường Trong quá trình học tập, sinh viên phải nhanh nhạy, sắc bén trong việclĩnh hội, phân tích và giải quyết các vấn đề Lúc này, họ đào sâu suy nghĩ, mởrộng kiến thức không chỉ qua những bài học trên lớp của thầy cô mà đi sâu vàophân tích, hệ thống qua các tài liệu chuyên môn, qua các cuộc hội thảo về ngànhnghề mình đang theo học, qua các phương tiện truyền thông,… Điều đó làm cholượng tri thức mà sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học tích lũy được thường rấtlớn, khơi gợi trong họ nhu cầu khám phá và say mê học hỏi những cái mới, sựhuyền diệu của khoa học Và một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng củasinh viên khoa tâm lý - giáo dục học là sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức Tự ýthức có liên quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên, đến trình độhọc lực cũng như kế hoạch sống trong tương lai của sinh viên

Trang 33

Thành phần có ý nghĩa nhất tạo nên sự phát triển tự ý thức của sinh viênkhoa tâm lý - giáo dục học là năng lực tự đánh giá, thể hiện ở thái độ đối với bảnthân Tự đánh giá hình thành nên lòng tự trọng, tự tin, tính tích cực trong nhâncách sinh viên và nó được thực hiện trong đời sống với toàn bộ cấu trúc của mốiliên hệ nhân cách Tự đánh giá phản ánh năng lực tự hiểu biết, phản ánh kỹ năngđiều khiển bản thân Sự tự đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quảcủa hoạt động, đặc biệt là tự đánh giá về trí tuệ Ở trường đại học là giai đoạn họctập, khám phá, tìm hiểu những tri thức của chuyên ngành mình đang theo học Do

đó, tự đánh giá có tác dụng rất lớn đối với sự hình thành và phát triển các phẩmchất trí tuệ trong quá trình học tập ở đại học

Bên cạnh đó, đời sống tình cảm của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục họccũng có biểu hiện rất phong phú, có tính hệ thống và bền vững Đây là thời kỳphát triển tích cực nhất của các loại tình cảm: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức,tình cảm thẩm mĩ Đặc biệt ở lứa tuổi này là sự phát triển mạnh mẽ có tính địnhhướng, khá sâu sắc về tình yêu nam nữ Qua hoạt động học tập, giao lưu, sinhhoạt ngoại khóa sinh viên có điều kiện tiếp xúc và gặp gỡ, tìm hiểu nhau Dầndần tình yêu nam nữ sẽ nảy sinh từ những tình bạn chân thành, đồng cảm và gắn

bó Tình bạn, tình yêu của lứa tuổi sinh viên nói khoa tâm lý - giáo dục học nóiriêng nhìn chung tương đối đẹp đẽ, trong sáng và bền vững Tình cảm này cũng

có tác dụng tích cực trong việc giúp sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học chia sẻvui buồn, cùng nhau học tập

Hứng thú với học thuyết phân tâm bao hàm cả thái độ nhận thức phức tạpđối với học thuyết Thái độ nhận thức đó được thể hiện ra ở việc thường xuyênnghiên cứu sâu sắc, độc lập, tiếp thu kiến thức học thuyết phân tâm, hoàn thiệnphương pháp trị liệu trong phân tâm học, kiên trì khắc phục khó khăn nắm kiếnthức và phương pháp tiếp thu kiến thức

Trong hứng thú với học thuyết phân tâm, các quá trình suy nghĩ mang màusắc xúc cảm rõ rệt, các hành vi nhận thức không dừng ở mức độ quan sát thụđộng mà mang tính chất định hướng tích cực Chủ thể không chỉ có nguyện vọngnắm chắc kiến thức mà còn muốn mở rộng kiến thức Hơn nữa, việc mở rộng

Trang 34

kiến thức được gắn liền với hoạt động tích cực, tìm tòi ra cái bản chất, cái cơ bảnbên trong của quá trình cũng như của những hiện tượng, sự kiện được nghiêncứu, chứ không chỉ dừng lại ở bề ngoài.

Nội dung học thuyết phân tâm tác động đến hứng thú của người học dựatrên cơ sở phù hợp với nhận thức của bản thân họ, thiết thực với ngành nghề đangtheo học, cập nhật những nội dung mới, hữu ích trong ngành nghề đang được đàotạo, qua đó tác động vào hệ động cơ học tập của người học mà trước hết là động

cơ nhận thức khoa học Tuy nhiên tính thiết thực, cập nhật của nội dung họcthuyết phân tâm không phải do riêng bản thân học thuyết mà còn phụ thuộc vàocông tác biên soạn giáo trình, tài liệu và trình độ chuyên môn của đội ngũ giảngviên giảng dạy Vì vậy, để tạo hứng thú đối với học thuyết phân tâm trong quátrình học tập đòi hỏi nội dung giáo trình, tài liệu và bài giảng của các môn họcphải thường xuyên cập nhật những thông tin mới mẻ xuất phát từ thực tiễn và đápứng được nhu cầu nhận thức của người học

1.4.2 Hứng thú của sinh viên với học thuyết Phân tâm

Dựa trên quan điểm về hứng thú nhận thức của A.G.Côvaliôp khi quan

niệm về hứng thú, chúng tôi cho rằng hứng thú của sinh viên khoa tâm lý - giáo

dục học là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học đối với kết quả, quá trình của

sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức tâm lý học, đặc biệt là học thuyết Phân

tâm vào quá trình học tập và cuộc sống

Hứng thú học thuyết Phân tâm có ý nghĩa rất lớn đến khả năng lĩnh ngộ trithức của sinh viên Hứng thú lại giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việcnâng cao hiệu quả của các quá trình học tập, nhờ hứng thú mà trong quá trình họctập, nghiên cứu sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học có thể giảm mệt mỏi, căngthẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực tìm tòi, sáng tạo Có nhiều yếu tố ảnhhưởng đến việc hình thành và phát triển hứng thú của sinh viên, cả những yếu tốbên ngoài và yếu tố chủ quan từ chính bản thân sinh viên

Khi bước chân vào môi trường đại học, sinh viên khoa tâm lý - giáo dụchọc đã chuyển sang một giai đoạn mới, trưởng thành hơn, kinh nghiệm cũngphong phú hơn so với lứa tuổi học sinh phổ thông, ý thức đối với việc học tập

Trang 35

tăng lên Lúc này, học tập, nghiên cứu của bản thân sinh viên khoa tâm lý - giáodục học là gắn liền với nghề nghiệp trong tương lai mà họ đã lựa chọn, phần lớn

họ ý thức được rằng việc học tập của bản thân là để trở thành những nhữngchuyên gia thành thạo trong lĩnh vực nghề nghiệp đã chọn

Hứng thú học thuyết Phân tâm của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục họchình thành dần dần và phát triển qua mỗi bài học, khi giảng viên khơi dậy sự tíchcực ở sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học làm cho sinh viên khoa tâm lý - giáodục học cùng suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo trong quá trình học Giảng viên biếtcách tổ chức bài giảng và sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp sẽ thúc đẩysinh viên quan tâm tới những vấn đề đặt ra cả trong giờ học lẫn sau khi giờ học

đã kết thúc Từ đó, bản thân sinh viên sẽ nhận thức được ý nghĩa, tác dụng, tầmquan trọng của bài học, của ngành nghề mình đang học và tính chất, đặc điểmcủa học tập, tri thức trở thành đối tượng hấp dẫn Nó kích thích khát vọng thườngxuyên mở rộng và đào sâu suy nghĩ trong lĩnh vực khoa học đó Từ đó, sinh viênkhoa tâm lý - giáo dục học trở nên thích thú, yêu thích việc học tập và biểu hiện

sự tích cực học tập bằng những hành động cụ thể, khát khao đi sâu vào tiếp cận,khai thác, tìm hiểu tri thức

Hứng thú với thuyết Phân tâm là sự kết hợp giữa nhận thức với xúc cảmtích cực và hành động, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với

sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên

1.5.1.Các yếu tố thuộc về sinh viên

Hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên chịu sự tác động của nhiều yếu

tố khác nhau Trong đó, người học với tư cách là chủ thể của hoạt động nhận thứcđược xem là yếu tố quyết định đến mức độ hứng thú đối với học thuyết Phân tâm

Trang 36

Ở lứa tuổi sinh viên, trí tuệ, kỹ năng trí tuệ … đã phát triển ở trình độ cao

và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế và uyển chuyển, linh động tùy theotừng hoàn cảnh có vấn đề Đây là cơ sở cần thiết để phát triển và bồi dưỡng hứngthú nhận thức trong hoạt động học tập Tuy nhiên, hoạt động học tập của sinhviên có những nét đặc trưng và đòi hỏi khác so với các lứa tuổi trước đó

Trong thời gian ở trường đại học, bản thân sinh viên sẽ gặp nhiều sự thayđổi trong hoạt động học tập như: phương thức tổ chức học tập mang tính chuyênngành, phương pháp học tập mang tính nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự tích cực,

tự giác cao Do đó, để hoạt động học tập ở bậc đại học có hiệu quả, đem lại hứngthú, sinh viên phải thích ứng với phương thức tổ chức học tập ở đại học, cóphương pháp học tập hợp lý Họ phải tự giác tìm hiểu, sắp xếp, tìm cách thíchnghi và hoàn thành nhiệm vụ người giảng viên giao, từ đó khơi dậy niềm say mêvới các bộ môn trong chương trình học, với ngành nghề mình đang theo học

Mỗi cá nhân phải ý thức được vai trò của mình trong việc học tập, cần tíchcực học tập mọi lúc mọi nơi, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, tích cực tham giavào các hoạt động mang tính tập thể do nhà trường và các tổ chức khác tổ chức.Bên cạnh đó, việc hiểu biết rõ về ngành nghề, những yêu cầu phẩm chất tiêu biểu

mà nghề đòi hỏi cũng như có niềm đam mê, yêu thích ngành nghề bản thân đangtheo học sẽ làm cho sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học hứng thú học thuyếtPhân tâmvà đạt kết quả cao

Ngược lại, sinh viên không đảm bảo những điều kiện như đã nêu trên thìchắc chắn không thể tìm thấy niềm vui, hứng thú trong hoạt động học tập và cókết quả học tập như mong muốn Lúc đó, sinh viên dễ chán nản với việc học tập

và coi việc học chỉ là nghĩa vụ

1.5.2 Các yếu tố thuộc về quá trình đào tạo

Những yếu tố thuộc về môn học:

Nội dung các môn học tác động đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinhviên dựa trên cơ sở phù hợp với nhận thức của bản thân họ, thiết thực với ngànhnghề đang theo học, cập nhật những nội dung mới, hữu ích trong ngành nghề

Trang 37

đang 30 được đào tạo, qua đó tác động vào hệ động cơ học tập của sinh viên màtrước hết là động cơ nhận thức khoa học

Tuy nhiên tính thiết thực, cập nhật của nội dung môn học không phải dobản thân môn học mà phụ thuộc vào công tác biên soạn giáo trình, tài liệu vàtrình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên giảng dạy

Vì vậy, để tạo hứng thú cho sinh viên trong quá trình học tập đòi hỏi nộidung giáo trình, tài liệu và bài giảng của các môn học phải thường xuyên cập nhậtnhững thông tin mới mẻ xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng được nhu cầu nhậnthức của sinh viên trong quá trình học tập

Những yếu tố thuộc về nhà trường:

Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật là yếu tố quan trọng của hoạt độngdạy- học Việc đảm bảo của yếu tố này trên thực tế có ảnh hưởng nhất định đếnhứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên

Khi có hứng thú học tập, bản thân người học sẽ có xu hướng đi sâu tìmhiểu về môn học, thích đọc thêm giáo trình, các tài liệu, sách báo, tạp chí cóliên quan đến nội dung của môn học, bài học Nếu nhu cầu trên không được đápứng sẽ làm giảm tính tích cực, sự nhiệt tình của sinh viên đối với hoạt động họctập mà họ ưa thích

Do đó, để sinh viên tìm hiểu sâu về kiến thức các môn học cần phải cóphòng thực hành, thí nghiệm, tài liệu ở thư viện đầy đủ,… mới có thể tạo điềukiện cho sinh viên tiếp cận, khát khao đi sâu tìm hiểu kiến thức ngành nghề mìnhđang theo học Mặt khác, các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại như: băngvideo, máy tính điện tử, hệ thống đa phương tiện đã và đang sử dụng một cáchkhá phổ biến, rộng rãi trong hoạt động dạy – học Điều này xuất phát từ ưu thế rấtlớn của các phương tiện kỹ thuật dạy – học đó là: kết hợp với âm thanh, màu sắc,hình ảnh sống động, qua đó làm tăng hưng phấn và sự tập trung chú ý, kích thích

sự tích cực, tư duy độc lập, sáng tạo của người học, làm cho sinh viên cảm thấyhứng thú với bài học, nội dung, chương trình học và chủ động tiếp cận kiến thứcmột cách sâu hơn

Trang 38

Những yếu tố thuộc về giảng viên:

Hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinh viên được tăng cường một phần rấtlớn chịu ảnh hưởng bởi cán bộ giảng dạy Cùng với trình độ tri thức chuyên mônthì phương pháp sư phạm của giáo viên cũng là một yếu tố có tác động mạnh đếnhứng thú của sinh viên đối với môn học, đối với việc học tập Thực tế đã chothấy, cùng một nội dung bài giảng như nhau nhưng giảng viên sử dụng phươngpháp dạy học khác nhau sẽ dẫn đến thái độ tiếp thu của người học có sự khácnhau Muốn làm cho mục đích dạy học, nội dung dạy học trở thành thái độ họctập đúng đắn, có khả năng nhận thức được vấn đề và giải quyết được vấn đề mộtcách thông minh sáng tạo ở sinh viên thì phương pháp giảng dạy của giảng viêncũng phải là những phương pháp dạy học hiện đại, khoa học Cố thủ tướng PhạmVăn Đồng thường khuyên những người làm công tác giáo dục, đặc biệt nhữnggiảng viên dạy đại học: “Phương pháp giảng dạy bao giờ cũng đi đôi với nội dunggiảng dạy Anh dạy thế nào giúp cho người học trò, người sinh viên có khả năngđộc lập suy nghĩ, giúp cho cái thông minh của họ làm việc, phát triển chứ khôngphải chỉ giúp cho họ có trí nhớ Phải có trí nhớ nhưng chủ yếu là phải giúp cho họphát triển trí thông minh, sáng tạo Làm sao cho người học trò lúc nghe thầy đãbắt đầu nắm vững nội dung chương trình, nắm vững giáo trình, từ đó gợi cho họnhững ý nghĩ mới Cao hơn một mức nữa, từ đó họ sẽ có những dự kiến sẽ làmngày mai, ngày kia”

Phương pháp giảng dạy của giảng viên có làm cho “ngọn lửa” yêu khoahọc, tích cực tìm tòi cái mới của sinh viên phát triển hay chỉ là một “bình chứa”kiến thức một cách thụ động có ý nghĩa nhất định trong việc tạo ra hứng thú họcthuyết Phân tâmcho sinh viên, đặc biệt là sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học

Nếu giảng viên trong mỗi bài học biết khéo léo đề ra cho sinh viên nhữngbài làm và bài tập làm cho sinh viên suy nghĩ, tìm được câu trả lời, giải được bàitập thì sẽ tạo ra niềm vui trong học tập

Trang 39

Như vậy, giảng viên cần có những phương pháp giảng dạy phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức, nội dung học tập, luôn luôn chú ý tạo “tìnhhuống có vấn đề” nhằm khêu gợi hứng thú học tập, khả năng tư duy sáng tạo củangười học Bản thân thầy (cô) giáo làm cho người học biết liên hệ những kiếnthức lý thuyết với thực tế, vận dụng tri thức đã học vào giải quyết tình huốngtrong thực tiễn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hứng thú học thuyết Phân tâmcủa sinhviên Mặt khác, thái độ của thầy cô đối với sinh viên (thái độ đánh giá công bằng,vui vẻ, cởi mở, ) cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hứng thú học thuyết Phântâmcủa sinh viên Nếu giảng viên biết đánh giá sinh viên một cách công bằng, vui

vẻ, cởi mở, kích thích sinh viên tin vào khả năng nhận thức của mình một cáchđúng đắn thì sẽ thúc đẩy được sự phát triển hứng thú học thuyết Phân tâmở sinhviên

Hứng thú học thuyết Phân tâmbị ảnh hưởng từ cả yếu tố chủ quan và kháchquan Do đó, chúng ta cần tìm hiểu cả những điều kiện khách quan bên ngoài(yếu tố khách quan) và xác định những yếu tố từ chính bản thân chủ thể, sinhviên khoa tâm lý - giáo dục học (yếu tố chủ quan) Có như thế, việc nhận thức vềnhững yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học thuyết Phân tâmsinh viên khoa tâm lý

- giáo dục học mới đầy đủ và chính xác nhằm giúp đề ra những giải pháp phù hợp

để nâng cao hứng thú học tập, giúp sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học học tậphiệu quả

Tiểu kết chương 1

Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nóphản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Hứng thú của cánhân được hình thành trong hoạt động và sau khi đã được hình thành chính nóquay trở lại thúc đẩy cá nhân hoạt động Vì vậy, hứng thú tạo nên ở cá nhân khátvọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng gây ra nó Khát vọng này được biểu hiện ởchỗ cá nhân tập trung chú ý cao độ vào cái làm cho mình hứng thú, hướng dẫn vàđiều chỉnh các quá trình tâm lý theo một hướng xác định

Trang 40

Chương 1 của luận văn đã trình bày cơ sở lý luận về hứng thú của sinh viênkhoa tâm lý giáo dục hoc với học thuyết phân tâm Tổng quan nghiên cứu vấn đề

về hứng thú trên thế giới và trong nước Làm rõ các khái niệm công cụ Phân tíchmột số đặc điểm tâm lý của sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học và hứng thú củasinh viên khoa tâm lý - giáo dục học với học thuyết Phân tâm Nội dung lý luậntại chương 1 là cơ sở để làm rõ thực trạng tại chương 2

Ngày đăng: 21/09/2022, 11:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.G. Covaliôp (1971), Tâm lý học cá nhân, Tập 2, Nxb Giáo dục 2. I.X. Côn (1987), Tâm lý học thanh niên, Nxb trẻ, TP. Hồ Chí Minh Khác
3. Vũ Dũng (2008), Từ điển tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Khác
4. Đinh Phương Duy (2007), Tâm lý học, Nxb Giáo dục Khác
5. Hồ Ngọc Đại (1983), Tâm lý học dạy học, Nxb Giáo dục Khác
6. Nguyễn Văn Đồng (2007), Tâm lý học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Phạm Minh Hạc (2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
8. Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Giáo dục Khác
9. Dương Thị Diệu Hoa (2008), Giáo trình tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
10.Lê Văn Hồng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb.đại học Quốc gia Hà Nội Khác
11. Imkock (1990), Tìm hiểu hứng thú họcsinh viên K68 của học sinh lớp 8 Phnom – Pênh, Luận án phó tiến sĩ Tâm lý học Khác
12.Kharlamop (1979), Phát huy tính tích cực học thuyếtcủa học sinh như thế nào, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
13.V.A. Kruche (1978), Những cơ sở tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà nội Khác
14. La Quốc Kiệt (2003), Tu dưỡng đạo đức tư tưởng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Lavitốp (1970), Tâm lý học trẻ em và sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
16.A.N. Lêônchiep (1989), Hoạt động - Ý thức - Nhân cách, Nxb Giáo dục Khác
17.Tuấn Lộ, Tâm lý học đại cương, lưu hành nội bộ tại khoa Tâm lý học, đại học Văn Hiến Khác
18. B.Ph. Lômov (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Khác
19. Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
20. A.V. Petrovski (1982), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
21. Roberts Feldman - biên dịch Minh Đức (2009), Tâm lý học căn bản, Nxb Văn hóa giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng 2.3 có thể nhận định có năm mục đích được xếp ở mức đồng ý (>3.5), có năm mục đích xếp ở mức phân vân (>2.5) - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
ua bảng 2.3 có thể nhận định có năm mục đích được xếp ở mức đồng ý (>3.5), có năm mục đích xếp ở mức phân vân (>2.5) (Trang 49)
Bảng 2.3: Nhận thức về mục đích đối với học thuyết Phân tâmcủa sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.3 Nhận thức về mục đích đối với học thuyết Phân tâmcủa sinh viên khoa tâm lý - giáo dục học (Trang 49)
Bảng 2.4: So sánh nhận thức về mục đích học thuyết Phân tâmgiữa các nhóm - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.4 So sánh nhận thức về mục đích học thuyết Phân tâmgiữa các nhóm (Trang 51)
Bảng 2.5:. Thái độ đối của sinh viên khoa tâm lý- giáo dục học trường đại học sư phạm hà nội với học thuyết Phân tâm - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.5 . Thái độ đối của sinh viên khoa tâm lý- giáo dục học trường đại học sư phạm hà nội với học thuyết Phân tâm (Trang 54)
Bảng 2.6: So sánh thái độ đối với học thuyết Phân tâmcủa sinh viên giữa các  nhóm - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.6 So sánh thái độ đối với học thuyết Phân tâmcủa sinh viên giữa các nhóm (Trang 57)
Bảng 2.7: Hành vi học thuyết Phân tâmtrên lớp của sinh viên Hành vi học tập trên lớpSố - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.7 Hành vi học thuyết Phân tâmtrên lớp của sinh viên Hành vi học tập trên lớpSố (Trang 59)
Bảng 2.8: So sánh hành vi học thuyết Phân tâmtrên lớp của sinh viên giữa các  nhóm - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.8 So sánh hành vi học thuyết Phân tâmtrên lớp của sinh viên giữa các nhóm (Trang 61)
Qua bảng 2.8 thấy rằng: - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
ua bảng 2.8 thấy rằng: (Trang 62)
Bảng 2.9: Hành vi học thuyết Phân tâmngoài lớp bắt buộc của sinh viên Hành vi học thuyết Phân tâm ngoài - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.9 Hành vi học thuyết Phân tâmngoài lớp bắt buộc của sinh viên Hành vi học thuyết Phân tâm ngoài (Trang 64)
Qua số liệu ở bảng 2.10 thấy: - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
ua số liệu ở bảng 2.10 thấy: (Trang 67)
Bảng 2.11: So sánh hành vi học thuyết Phân tâmcủa sinh viên giữa các ngành học - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.11 So sánh hành vi học thuyết Phân tâmcủa sinh viên giữa các ngành học (Trang 68)
Bảng 2.12: Hành vi học tập ngồi lớp khơng bắt buộc của sinh viên - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.12 Hành vi học tập ngồi lớp khơng bắt buộc của sinh viên (Trang 69)
Theo số liệu ở bảng 2.12 thì khơng có hành vi nào xếp ở mức “rất thường xuyên” (>4.5), “thường xuyên” (>3.5) hoặc “không bao giờ” (<1.5) - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
heo số liệu ở bảng 2.12 thì khơng có hành vi nào xếp ở mức “rất thường xuyên” (>4.5), “thường xuyên” (>3.5) hoặc “không bao giờ” (<1.5) (Trang 70)
Bảng 2.13: So sánh hành vi học thuyết Phân tâmngồi lớp khơng bắt buộc giữa các nhóm - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.13 So sánh hành vi học thuyết Phân tâmngồi lớp khơng bắt buộc giữa các nhóm (Trang 72)
Bảng 2.15: Các biện pháp nâng cao hứng thú học thuyết Phân tâm của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học sư phạm Hà Nội - 1 t4  HỨNG THÚ của SINH VIÊN KHOA tâm lý   GIÁO dục học TRƯỜNG đại học sư PHẠM hà nội với học THUYẾT PHÂN tâm
Bảng 2.15 Các biện pháp nâng cao hứng thú học thuyết Phân tâm của sinh viên khoa tâm lý giáo dục học trường Đại học sư phạm Hà Nội (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w