Theo quan điểm này, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả hoạt động cơbản được tính như sau: H: hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp KQ: kết quả đầu ra doanh thu, lợi nhuận…C: giá trị các
Trang 1PHẦN MỘT: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1 Sự cần thiết phải phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tất cả các doanh nghiệp hoạt độngđều nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận, đảm bảo sự giàu có, sựtăng trưởng tài sản của doanh nghiệp Để thực hiện được mục đích này các chủdoanh nghiệp, các nhà quản trị phải sử dụng và phát huy triệt để tiềm năng kinhtế của mình Nếu như bất kỳ một doanh nghiệp nào mà không đảm bảo chắcchắn được khả năng sinh lãi, mức lợi nhuận trong tương lai của đơn vị mình thìgiá trị của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút và nếu tình hình này kéo dài sẽ làm chochủ doanh nghiệp có nguy cơ bị mất vốn Muốn phát huy triệt để các tiềm năngkinh tế, muốn tối đa hoá lợi nhuận thì doanh nghiệp cần phải biết được thếmạnh, điểm yếu của mình, phải biết được những lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạtđộng có hiệu quả, những lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động không có hiệuquả Do đó doanh nghiệp cần phải dựa vào các chỉ tiêu phân tích hiệu quả hoạtđộng
Đối với những đối tác của doanh nghiệp thì lợi nhuận là một chỉ tiêu rấtquan trọng Nhưng thông qua cấu trúc tài chính các cá nhân, các tổ chức bênngoài, nhà đầu tư không thể nắm bắt được khả năng thanh toán cũng như khảnăng sinh lãi của doanh nghiệp mà cần phải dựa vào các chỉ tiêu phân tích hiệuquả hoạt động để đi đến quyết định có nên đầu tư hay không và mức đầu tư làbao nhiêu
Vì vậy phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là rất cần thiết
2 Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau có nhiều quan điểm khác nhau về hiệuquả hoạt động:
- Nếu hiểu hiệu quả hoạt động theo mục đích thì hiệu quả hoạt động làhiệu số giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Cách hiểu này đã đồng nhất hiệuquả hoạt động với lợi nhuận của doanh nghiệp
- Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố để xem xét, hiệu quả hoạt động thểhiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinhdoanh
Trang 2Có thể nói rằng mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trùhiệu quả hoạt động phản ánh mặt chất lượng của hoạt động trong doanh nghiệp,nhưng lại không có sự thống nhất trong khái niệm về hiệu quả hoạt động
Khi các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường mỗi doanhnghiệp đều có hướng phát triển riêng trong từng giai đoạn cụ thể nhưng mục tiêucuối cùng của tất cả các doanh nghiệp là lợi nhuận Vì vậy để đánh giá hiệu quảhoạt động thì hai yếu tố quan trọng cần phải xem xét là giá trị các yếu tố đầuvào và kết quả
Theo quan điểm này, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả hoạt động cơbản được tính như sau:
H: hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
KQ: kết quả đầu ra (doanh thu, lợi nhuận…)C: giá trị các yếu tố đầu vào (vốn chủ sở hữu, tài sản…)Như vậy: Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là việc đánh giákhả năng đạt được kết quả, khả năng sinh lãi dựa trên việc xem xét giá trị cácyếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của doanh nghiệp
3 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả hoạt động
Phân tích hiệu quả hoạt động giúp doanh nghiệp tự đánh giá, xem xétviệc thực hiện hoạt động của doanh nghiệp, khả năng đạt được mục tiêu kinh tế
Phân tích hiệu quả hoạt động nhằm khai thác tối đa những nguồn lực củadoanh nghiệp để đạt được lợi nhuận cao nhất
Phân tích hiệu quả hoạt động không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân doanhnghiệp mà còn rất có ý nghĩa đối với các cá nhân, tổ chức bên ngoài đặc biệt làcác nhà đầu tư, tổ chức tín dụng… trong việc cho ra các quyết định đúng đắn, kịpthời
II CÁC NGUỒN THÔNG TIN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
1 Nguồn thông tin từ các báo cáo tài chính
1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổngquát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định (thời điểm này thường là vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán)
KQ
H =
C
Trang 3Khi so sánh số liệu giữa hai thời điểm trên bảng cân đối kế toán có thể thấyđược một cách khái quát sự biến động của tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệptrong kỳ
Bảng cân đối kế toán được chia làm hai phần: phần “Tài sản” và phần
“Nguồn vốn”
Phần tài sản: phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệpđến cuối kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giaiđoạn của quá trình sản xuất kinh doanh Các chỉ tiêu trong phần tài sản được sắpxếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản trong doanh nghiệp, được chiathành hai mục:
A - Tài sản ngắn hạn
B - Tài sản dài hạnPhần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanhnghiệp đến cuối kỳ hạch toán Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theotừng nguồn hình thành tài sản Phần nguồn vốn cũng được chia thành hai mục:
A - Nợ phải trả
B - Vốn chủ sở hữu
1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính quantrọng, phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động củadoanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chobiết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tươnglai Như vậy thông qua việc phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, báocáo kết quả hoạt động kinh doanh đã cung cấp những thông tin tổng hợp về tìnhhình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độquản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhà phân tíchcó thể biết được tình hình thực hiện kế hoạch thu nhập, chi phí, kết quả của từnghoạt động và của toàn doanh nghiệp, dự tính khả năng hoạt động của doanhnghiệp trong tương lai
1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 4Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việchình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp thôngtin liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp Qua các chỉ tiêu trên báo cáolưu chuyển tiền tệ ngân hàng, nhà đầu tư có thể đánh giá khả năng tạo ra tiền từcác hoạt động khác nhau của doanh nghiệp để có quyết định đầu tư đúng đắn.Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo lưu chuyển tiền tệ trợ giúp họ trongcông tác hoạch định chiến lược để có các biện pháp tài chính cần thiết nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng khả năng thanh toán các khoản nợ và tiếnhành hoạt động đầu tư mới
1.4 Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thểtách rời của báo cáo tài chính doanh nghiệp nhằm thuyết minh và giải trình bằnglời hoặc bằng số liệu một số chỉ tiêu kinh tế tài chính được trình bày trên Bảngcân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiềntệ Bản thuyết minh này cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giákết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm báo cáo được chính xác Đồngthời bản thuyết minh này cũng có thể trình bày những thông tin khác nếu doanhnghiệp thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáo tài chính
2 Nguồn thông tin khác
Khi phân tích kết quả hoạt động bên cạnh việc dựa vào những thông tin từbáo cáo tài chính của doanh nghiệp các nhà phân tích phải kết hợp với nhữngnguồn thông tin khác để có đánh giá đầy đủ hơn về các hoạt động của doanhnghiệp, trên cơ sở đó đưa ra quyết định phù hợp Các nguồn thông tin khác đượcchia thành ba loại
2.1 Thông tin chung về tình hình kinh tế
Đây là những thông tin về môi trường đầu tư, môi trường pháp lý, thôngtin về sự suy thoái hoặc tăng trưởng kinh tế, thông tin về tỷ lệ lạm phát, lãi suấtngân hàng, tỷ giá ngoại tệ… có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư cũngnhư có ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từngthời kỳ Những thông tin này thường có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp
2.2 Thông tin theo ngành
Thông tin theo ngành là những thông tin về đặc điểm của ngành kinh tế,yêu cầu công nghệ của ngành, mức độ cạnh tranh của thị trường, nguy cơ xuấthiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng… Những thông tin này sẽ làm rõ hơn
Trang 5nội dung của các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, từng lĩnh vực kinh doanh vàtrong việc đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
2.3 Thông tin của doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh,có chiến lược, sách lược kinh doanh khác nhau cho từng thời kỳ Cho nên khiphân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì cần thiết phải thu thập cácthông tin có liên quan đến bản thân doanh nghiệp Những thông tin này baogồm: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ; mối liên hệgiữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng; tình hình huyđộng, phân phối và sử dụng vốn của doanh nghiệp; khả năng thanh toán củadoanh nghiệp…
III CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1 Phương pháp phân tích định lượng:
Các phương pháp truyền thống được sử dụng trong phân tích hiệu quảhoạt động là:
1.1 Phương pháp chi tiết:
Chi tiết là sự phân chia kết quả kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiềuhướng khác nhau để phục vụ cho các yêu cầu quản lý cụ thể Thông thườngphương pháp này có các hướng chi tiết sau:
- Chi tiết theo thời gian: là sự phân chia kết quả kinh doanh của doanhnghiệp theo các khoảng thời gian khác nhau Việc chi tiết theo thời gian giúpdoanh nghiệp phân phối nguồn lực đầu vào theo từng khoảng thời gian cụ thể vìkhông phải lúc nào hoạt động kinh doanh cũng thuận lợi
- Chi tiết theo địa điểm phát sinh: là việc phân chia kết quả kinh doanhtheo địa điểm phát sinh kết quả như phân chia doanh thu theo thị trường, phânchia doanh thu theo cửa hàng, phân chia giá thành theo giai đoạn sản xuất Việcchi tiết này có tác dụng rất lớn trong hạch toán kinh doanh nội bộ nhằm đánh giánhững thành tích hay khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
- Chi tiết theo các yếu tố cấu thành chỉ tiêu phản ánh kết quả: là việcphân chia chỉ tiêu phản ánh kết quả theo các yếu tố cấu thành nên chỉ tiêu đónhư chi tiết giá thành theo khoản mục, chi tiết doanh thu theo loại hình hoạtđộng,chi tiết doanh thu theo từng mặt hàng… Việc chi tiết này nhằm đánh giá xuhướng tác động của các chỉ tiêu cần phân tích từ đó phát hiện ra trọng điểm củacông tác quản lý
Trang 61.2 Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế bằngcách tiến hành so sánh một chỉ tiêu kinh tế với chỉ tiêu được chọn làm gốc sosánh
1.2.1 Tiêu chuẩn so sánh:
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ để so sánh, cònđược gọi là số gốc
- Số gốc có thể là số liệu của kỳ trước hoặc nhiều kỳ trước để đánh giá xuhướng của các chỉ tiêu phân tích
- Số gốc có thể là số kế hoạch để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạchcủa doanh nghiệp
- Số gốc có thể là số trung bình ngành nhằm đánh giá vị thế của doanhnghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành
1.2.2 Điều kiện so sánh:
- Về mặt thời gian: các chỉ tiêu phân tích phải phản ánh cùng nội dungkinh tế, có cùng phương pháp tính toán và đơn vị đo lường
- Về mặt không gian: các chỉ tiêu phải cùng quy đổi về một quy mô vàđiều kiện tương tự nhau
1.2.3 Kỹ thuật so sánh:
- So sánh ngang và so sánh dọc:
So sánh ngang là so sánh cùng một chỉ tiêu kinh tế qua các thời kỳ đểxem xét sự biến động của chỉ tiêu đó
So sánh dọc là so sánh được thực hiện bằng cách lấy một chỉ tiêu làmquy mô chung rồi tính tỷ trọng
So sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối:
So sánh bằng số tuyệt đối: cho biết sự biến động về mặt lượng của chỉtiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc
= Số kỳ phân tích - Số kỳ gốc
- So sánh bằng số tương đối: cho biết tỷ lệ giữa chỉ tiêu kỳ phân tích vớichỉ tiêu kỳ gốc
Hay:
t% = Số kỳ phân tích - Số kỳ gốc
Số kỳ gốc x 100%
t% = Số kỳ phân tích
Số kỳ gốc x 100%
Trang 71.3 Phương pháp loại trừ:
Là phương pháp dùng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đếnsự biến động của các chỉ tiêu kinh tế trong phân tích Nguyên tắc của phươngpháp loại trừ là khi đánh giá ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến chỉ tiêukinh tế cần phân tích thì phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại Phươngpháp loại trừ bao gồm hai phương pháp sau:
1.3.1 Phương pháp thay thế liên hoàn:
Phương pháp này dùng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉtiêu kinh tế cần phân tích bằng cách lần lượt thay thế từng trị số của nhân tố từkỳ gốc sang kỳ phân tích
Phương pháp này được sử dụng khi các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêukinh tế cần phân tích có mối quan hệ với nhau và liên hệ với chỉ tiêu phân tíchbằng một công thức toán học, trong đó các nhân tố sắp xếp theo trình tự từ nhântố số lượng đến nhân tố chất lượng
Trình tự thay thế của các nhân tố:
- Nhân tố số lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau
- Khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng sẽ xuất hiệnnhân tố kết cấu, lúc này: nhân tố số lượng thay thế trước, tiếp theo là nhân tố kếtcấu, nhân tố chất lượng thay thế sau cùng
- Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc chất lượng thì nhântố chủ yếu thay thế trước, nhân tố thứ yếu thay thế sau
1.3.2 Phương pháp số chênh lệch:
Đây là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn khi giữacác nhân tố có quan hệ tích số Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng củanhân tố sẽ bằng số chênh lệch của nhân tố đó với các nhân tố còn lại đã cố định
2.Phương pháp phân tích định tính:
Việc sử dụng những số liệu trên báo cáo tài chính để so sánh, đánh giá vànhận xét trên cơ sở đó đưa ra quyết định là chưa đầy đủ Vì hạn chế của báo cáotài chính là dữ liệu mà chúng cung cấp phản ảnh quá khứ trong khi phân tích lạihướng đến tương lai Do đó cần thiết phải dựa vào những nhân tố khác khôngthể định lượng được như: tình hình pháp luật, môi trường kinh doanh, khách hàngvà tình hình thực tế về đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị nhưđặc điểm sản phẩm, đặc điểm ngành hàng kinh doanh, chính sách phân phối sảnphẩm…
Trang 8IV NỘI DUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1 Mối quan hệ giữa hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Giữa hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cómối quan hệ biện chứng, tác động qua lại Cụ thể:
1.1 Tác động của hoạt động tài chính đến hoạt động kinh doanh
Chức năng cơ bản của hoạt động tài chính là huy động và sử dụng vốn
- Chức năng huy động vốn là chức năng tài trợ, tìm kiếm nguồn vốn dướinhiều hình thức khác nhau như vay, liên doanh, phát hành cổ phiếu… nhằm tạo ramột lượng vốn đủ lớn trong doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
- Chức năng sử dụng vốn là chức năng đầu tư, nó được thể hiện ở việcphân bổ vốn ở đâu, phân bổ với lượng vốn như thế nào để nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh
1.2 Tác động của hoạt động kinh doanh đến hoạt động tài chính
Hoạt động kinh doanh gồm nhiều khâu như sản xuất, quảng cáo, chínhsách chiết khấu, chính sách marketing, chính sách bán hàng… Hiệu quả hoạtđộng trong từng khâu có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động tài chính.Khi hoạt động kinh doanh có lãi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tàichính, khi hoạt động kinh doanh không có lãi thì hoạt động tài chính cũng gặpnhiều khó khăn
2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là khái niệm được dùng để phản ánh trình độ sửdụng các nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả caonhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra là thấp nhất
Như vậy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là sự kết hợp tất cả cácyếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpchỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố này có hiệu quả
Do vậy khi phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bên cạnhviệc phân tích các chỉ tiêu tổng hợp thì cần phải xem xét các chỉ tiêu cá biệtphản ánh sức sản xuất, sức hao phí cũng như sức sinh lời của từng yếu tố
2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cá biệt
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh cá biệtngười ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất
Trang 9kinh doanh Các chỉ tiêu này phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quảchung và được sử dụng với nhiều tên gọi như: hiệu suất, tỷ suất, năng suất…
2.1.1 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng tài sản được thể hiện bằng mối quan hệ giữa kết quảđầu ra trên tổng tài sản của doanh nghiệp Kết quả đầu ra có thể là doanh thu vàthu nhập của các hoạt động khác, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng…
Nếu chọn kết quả đầu ra là doanh thu và thu nhập của các hoạt động khácthì hiệu suất sử dụng tài sản được thể hiện theo công thức sau:
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng tài sản đầu tư vào doanh nghiệp thìsẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu và thu nhập Giá trị của chỉ tiêu này càngcao thì doanh thu tạo ra càng nhiều và ngược lại
Trong công thức trên nếu sự biến động về tình hình tài sản trong doanhnghiệp là không lớn thì tổng tài sản bình quân chính là số bình quân đầu kỳ vàcuối kỳ của tài sản Nếu doanh nghiệp có sự biến động về tài sản liên tục thìtổng tài sản bình quân phải lấy giá trị trung bình tài sản của các tháng hoặc cácquý trong năm để đảm bảo tính chính xác
2.1.2 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, phản ánhnăng lực vật chất hiện có cũng như trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của doanhnghiệp Tài sản cố định, đặc biệt là máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quantrọng và cần thiết để tăng sản lượng, tăng năng suất, giảm chi phí… nhằm manglại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Bỡi vậy việc phân tích hiệu quả sử dụng tàisản cố định để có biện pháp khai thác, sử dụng tài sản cố định hợp lý, hiệu quảlà một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Để phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định ta thường dùng chỉtiêu sau:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tài sản cố định bình quânđầu tư tại doanh nghiệp đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàng và
Thu nhập khácTổng tài sản bình quân
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quânDoanh thu thuần bán hàng và
cung cấp dịch vụ
Trang 10cung cấp dịch vụ Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu suất sử dụng tài sản cố định củadoanh nghiệp càng cao và ngược lại
2.1.3 Hiệu suất sử dụng lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sản xuất, sức sản xuấtcủa lao động trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này được thể hiện dưới nhiều đạilượng khác nhau như: năng suất lao động năm, năng suất lao động ngày, năngsuất lao động giờ của công nhân trực tiếp sản xuất hay của công nhân phục vụquản lý và quản lý sản xuất Chỉ tiêu năng suất lao động năm được tính như sau:
Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy doanh nghiệp có hiệu suất sử dụng laođộng càng cao
Trong nhiều trường hợp, để thấy rõ hơn hiệu suất sử dụng lao động trongquá trình kinh doanh người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất chi phí tiền lương trêndoanh thu Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Chỉ tiêu này có ý nghĩa cứ một đồng doanh thu thu được từ hoạt động sảnxuất kinh doanh tại doanh nghiệp cần bao nhiêu đồng chi phí tiền lương Nếu chỉtiêu này tiến gần đến 1 hoặc càng lớn chứng tỏ chi phí tiền lương trong doanhnghiệp càng lớn, hiệu suất sử dụng lao động thấp, lợi nhuận thu được không cao
Việc phân tích chỉ tiêu tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu sẽ giúpdoanh nghiệp có cơ sở để kiểm soát tình hình chi phí qua đó có biện pháp cắtgiảm lao động cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động
2.1.4 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn lưu động làmột yếu tố không thể thiếu được và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiệncác nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Vốn lưu động của doanh nghiệp không ngừngvận động và có hình thái thay đổi qua các giai đoạn dự trữ, sản xuất, tiêu thụ củaquá trình sản xuất Nó là một bộ phận vốn có tốc độ luân chuyển nhanh hơn rấtnhiều so với vốn cố định
Việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động không chỉ có ýnghĩa trong việc tiết kiệm vốn mà còn nâng cao khả năng tạo ra tiền, nâng cao
Năng suất lao động năm = Giá trị sản xuất
Số công nhân sản xuất bình quân năm
Tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu =
Chi phí tiền lươngDoanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
Trang 11hiệu quả sử dụng vốn nhằm góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanhnghiệp
Có nhiều chỉ tiêu xác định tốc độ luân chuyển vốn lưu động như: hiệusuất sử dụng vốn lưu động, số ngày của một vòng quay vốn lưu động…
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động còn được gọi là hiệu suất sử dụng tài sảnngắn hạn hay số vòng quay của vốn lưu động
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động cho biết cứ một đồng vốn lưuđộng doanh nghiệp bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần bán hàngvà cung cấp dịch vụ Giá trị của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn lưu độngtrong doanh nghiệp có tốc độ luân chuyển càng nhanh Điều này phản ánhdoanh nghiệp đã có chính sách quản lý vốn hợp lý trong các khâu dự trữ, tiêuthụ và thanh toán, tạo tiền đề cho tình hình tài chính lành mạnh
Chỉ tiêu này phản ánh để vốn lưu động quay được một vòng thì cần baonhiêu ngày Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ trong một năm vốn lưu động quayđược càng nhiều, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và kéo theo đó là sốvốn lưu động tiết kiệm được càng nhiều Như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động thì cần thiết phải tăng số vòng quay của vốn lưu động, khi đó sốngày của một vòng quay sẽ được rút ngắn
Việc tăng hay giảm số vòng quay của vốn lưu động sẽ khiến cho doanhnghiệp tiết kiệm hay lãng phí một số vốn lưu động nhất định trong năm Để xácđịnh được số vốn lưu động tiết kiệm hay lãng phí ta có công thức sau:
Trong đó: DTT1 là doanh thu thuần của kỳ phân tích
N1 là số ngày của một vòng quay vốn lưu động kỳ phân tích N0 là số ngày của một vòng quay vốn lưu động kỳ gốc
Trong tất cả các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thì hàng tồn khovà nợ phải thu cũng là các khoản mục quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổngtài sản của doanh nghiệp Tốc độ quay vòng của hàng tồn kho và nợ phải thu
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụVốn lưu động bình quân (lần , vòng)
Số VLĐ tiết kiệm (-) hay lãng phí (+) = Số ngày của kỳ phân tích DTT1 (N1 – N0)Số ngày của một
vòng quay VLĐ = Số ngày của kỳ phân tíchSố vòng quay của VLĐ (ngày/ vòng)
Trang 12nhanh hay chậm sẽ có ảnh hưởng lớn đến tốc độ luân chuyển vốn lưu động.Chính vì vậy sau khi phân tích số vòng quay của vốn lưu động ta cần phân tíchsố vòng quay của hàng tồn kho và số vòng quay của nợ phải thu để có đánh giásâu hơn về hiệu suất sử dụng vốn lưu động
- Hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu đánh giá khả năng luân chuyểnhàng tồn kho của doanh nghiệp Trị giá của chỉ tiêu này càng cao thì công việckinh doanh được đánh giá là càng tốt, khả năng hoán chuyển thành tiền củahàng tồn kho cao Tuy nhiên với số vòng quay của hàng tồn kho quá cao thì cầnphải chú ý đến khâu cung cấp, vì lúc này dễ xảy ra tình trạng hàng hoá dự trữkhông đủ để cung ứng kịp thời cho khách hàng, dễ gây mất uy tín cho doanhnghiệp Khi số vòng quay của hàng tồn kho càng cao thì số ngày cho một vòngquay càng ngắn
- Phải thu khách hàng:
Số vòng quay nợ phải thu khách hàng là chỉ tiêu phản ánh tình hình quảnlý và thu hồi nợ của doanh nghiệp Số vòng quay nợ phải thu khách hàng càngcao chứng tỏ việc quản lý và thu hồi nợ của doanh nghiệp càng tốt, doanhnghiệp có khách hàng quen thuộc, ổn định, thanh toán đúng hạn Mặt khác, chỉtiêu này còn phản ánh phương thức bán hàng của doanh nghiệp Số vòng quaynợ phải thu quá cao thể hiện việc doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàngkhá cứng nhắc, gần như bán hàng thu tiền mặt, điều này sẽ làm cho doanhnghiệp khó cạnh tranh và mở rộng thị trường Khi số vòng quay nợ phải thukhách hàng càng cao thì số ngày của một chu kỳ nợ càng ngắn
2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Bên cạnh việc xem xét hiệu quả kinh doanh cá biệt của từng loại nguồnlực, cần phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp để có thể thấy được khả năngsử dụng một cách tổng hợp các nguồn lực nhằm tạo ra hiệu quả chung cho toàndoanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời thấy được mức độđóng góp của các yếu tố cá biệt đến hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp
Số vòng quay của HTK = Giá vốn hàng bán
Giá trị HTK bình quân Số ngày của một vòng quay HTK = Số ngày của kỳ phân tích
Số vòng quay của HTK
Số vòng quay nợ
phải thu khách
Số vòng quay nợ PTKH
Trang 13Việc phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp được thực hiện thông quakhả năng sinh lời của doanh nghiệp mà cụ thể là thông qua việc phân tích khảnăng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp và phân tích khả năng sinh lờitừ tài sản Chỉ tiêu khả năng sinh lời được đo bằng tỷ số giữa lợi nhuận với cácchỉ tiêu kết quả
2.2.1 Khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp
Khả năng sinh lời là khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp, được đobằng tỷ số giữa lợi nhuận với các chỉ tiêu kết quả Để phân tích khả năng sinhlời từ các hoạt động của doanh nghiệp người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu phổbiến là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần sản xuất kinh doanh và tỷ suất lợinhuận trên doanh thu thuần
2.2.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần
Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của doanhnghiệp càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn Giá trị đó được xác định:
Chỉ tiêu này phản ánh trong 100 đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệpđem lại có mấy đồng lợi nhuận trước thuế, hay nói cách khác là lợi nhuận chiếmbao nhiêu phần trăm trong doanh thu
Doanh thu, lợi nhuận trong công thức trên là doanh thu, lợi nhuận của cả
ba hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm: hoạt động kinh doanh, hoạt động tàichính và các hoạt động khác Tuy nhiên vì sức sinh lời của mỗi hoạt động khônggiống nhau và vì trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì hoạt động sảnxuất kinh doanh là hoạt động chủ yếu cho nên kết quả của việc tính toán theocông thức trên thường không chính xác Do đó cần thiết phải đánh giá riêng khảnăng sinh lời từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.1.2 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh
Tỷ suất này được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa doanh thu, chi phívà lợi nhuận chỉ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công thứctính như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên
doanh thu thuần =
Lợi nhuận trước thuếDoanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu hoạt động tài chính
Thu nhập khác
X 100%+
Trang 14Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần sản xuất kinh doanh phảnánh mức sinh lãi của 100 đồng doanh thu khi tiêu thụ sản phẩm hàng hoá Giá trịcủa chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cànglớn Khi phân tích chỉ tiêu này cần phải xem xét đặc điểm ngành nghề kinhdoanh, chiến lược hoạt động, chính sách định giá của doanh nghiệp Vì các mụctiêu về thị phần, lợi nhuận, chính sách định giá đều có thể ảnh hưởng đến kếtquả của tỷ suất này
2.2.2.Khả năng sinh lời của tài sản
Phân tích khả năng sinh lời của tài sản chủ yếu là phân tích hai chỉ tiêu:tỷ suất sinh lời của tài sản và tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
2.2.2.1.Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận với toànbộ tài sản của doanh nghiệp và nó được xác định như sau:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng tài sản bình quân đầu tư tại doanhnghiệp sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Giá trị của chỉ tiêu nàycàng lớn phản ánh khả năng sinh lời của tài sản càng cao và ngược lại
Tỷ suất sinh lời của tài sản là chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh kết quả tổnghợp của những nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố được sửdụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Để làm rõ mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố đến tỷ suất sinh lời của tài sản người ta chi tiết chỉ tiêu này qua phươngtrình Dupont như sau:
Hay:
Phương pháp phân tích:
Để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tài sản ta sửdụng phương pháp phân tích số chênh lệch, cụ thể là chênh lệch giữa kỳ phântích và kỳ gốc về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đó là kết quả tổnghợp ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản.Cách phân tích này sẽ chỉ ra phương hướng nâng cao sức sinh lời của tài sảntrong doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau:
ROA = Lợi nhuận trước thuế
Tổng tài sản bình quân X 100%
DTTTổng TSBQROA = Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu X Hiệu suất sử dụng tài sảnROA = HLN/DT X HDT/TS
Trang 15HDT/TS: là ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất doanh thu trên tài sản Thựcchất đây là hiệu quả của quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp tổ chức sản xuất tốt, tiết kiệm được chi phí thì số vòng quay vốntăng dẫn đến hiệu quả của quá trình quản lý và sản xuất cũng sẽ tăng lên
HLN/DT: là ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.Doanh thu ở đây bao gồm doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanhthu hoạt động tài chính và thu nhập từ các hoạt động khác Vì lợi nhuận là hiệusố giữa doanh thu và chi phí nên thực chất ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất lợinhuận trên doanh thu là ảnh hưởng của hiệu quả hoạt động kinh doanh sau khiloại bỏ yếu tố chi phí Chỉ tiêu này chủ yếu liên quan đến những vấn đề về tiêuthụ, bán hàng tại doanh nghiệp và được tính theo công thức sau:
Với: H0,1(DT/TS): lần lượt là hiệu suất sử dụng tài sản kỳ gốc và kỳ phân
2.2.2.2 Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản đã phản ánh một cách tổng hợp hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp nhưng nó có hạn chế là chịu ảnh hưởng của cấutrúc nguồn vốn Vì vậy để loại bỏ ảnh hưởng của cấu trúc nguồn vốn khi phântích khả năng sinh lời của tài sản, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời kinhtế của tài sản (RE)
Với chỉ tiêu này, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được đánh giámột cách chính xác hơn vì phần lợi nhuận ở tử số không còn chịu ảnh hưởng củacấu trúc nguồn vốn do không tính đến chi phí lãi vay Cách xác định:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng tài sản bình quân đầu tư tại doanhnghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế nếu loại bỏ ảnh hưởng của
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Trang 16cấu trúc nguồn vốn Chỉ tiêu này càng cao biểu hiện doanh nghiệp kinh doanhcàng có lãi Áp dụng tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản giúp cho doanh nghiệpđưa ra quyết định đúng đắn hơn khi muốn huy động vốn: nên huy động vốn chủsở hữu hay huy động vốn vay.
3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Hiệu quả tài chính là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu đượccác nhà đầu tư quan tâm vì nó gắn liền với lợi ích của họ ở hiện tại cũng nhưtrong tương lai Do đó một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao là điều kiệnthuận lợi để huy động vốn Vì doanh nghiệp chỉ có thể huy động vốn từ nhữngnhà đầu tư bên ngoài nếu chứng minh được rằng số vốn mà doanh nghiệp huyđộng về sẽ tạo ra các khoản lãi cao Để đánh giá hiệu quả tài chính của doanhnghiệp người ta sử dụng chỉ tiêu khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu
3.1 Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuậnsau thuế với số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu này, ngườiphân tích có thể đánh giá được khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn, hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo rabao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trong trường hợp doanh nghiệp huy độngvốn từ nhiều nguồn khác nhau, chỉ tiêu này càng lớn thì doanh nghiệp càng có
cơ hội tìm kiếm được nguồn vốn mới thông qua thị trường tài chính Ngược lạikhi tỷ suất này thấp hơn dưới mức cần thiết của thị trường thì khả năng thu hútvốn đầu tư cũng như vốn chủ sở hữu là rất khó khăn
Để tìm hiểu nguyên nhân khiến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu cao haythấp có thể khai triển chi tiết công thức trên như sau:
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Tổng TS bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân x
= Tỷ suất LNST trên DTT x Hiệu suất sử
dụng tài sản x
1Hệ số tự tài trợ
Trang 17Có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởngcủa nhiều nhân tố Để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hiệuquả tài chính của doanh nghiệp ta lần lượt xem xét cụ thể:
3.2.1 Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là nhân tố có ảnh hưởng đầu tiên và mạnh mẽ nhấtđến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Để thấy được ảnh hưởng này người tasử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), được chi tiết nhưsau:
(Với: T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp)
Trong công thức trên ta thấy hiệu quả tài chính có quan hệ khá chặt chẽvới tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản, hay nói cáchkhác là có quan hệ khá chặt chẽ với hiệu quả kinh doanh Cho nên khi hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp cao sẽ dẫn đến khả năng sinh lời vốn chủ sở hữulớn và ngược lại nếu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thấp sẽ làm cho khảnăng sinh lời vốn chủ sở hữu giảm theo Như vậy hiệu quả kinh doanh là nguồngốc tạo nên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên không phải lúc nàohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng cũng sẽ dẫn đến hiệu quả tài chínhtăng mà điều này còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác
3.2.2 Khả năng tự chủ về tài chính
Khả năng tự chủ về tài chính là khả năng độc lập về tài chính của doanhnghiệp Khả năng tự chủ về tài chính được phản ánh thông qua chỉ tiêu tỷ suất tựtài trợ, được xác định như sau:
Chỉ tiêu trên phản ánh trong 100 đồng tài sản đầu tư tại doanh nghiệp cóbao nhiêu đồng được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu Tỷ suất tự tài trợ càng caochứng tỏ tính độc lập của doanh nghiệp về tài chính càng lớn và sức ép của cácchủ nợ đối với doanh nghiệp càng thấp
Từ công thức xác định ROE ở trên (công thức *) ta có thể viết lại như sau:
Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản X 100%
ROE = Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở
hữu
x
Hiệu suất sử dụng tài sản
Vốn chủ sở hữu x (1 - T)
Trang 18Với: HTC : hiệu quả tài chính
HKD: hiệu quả kinh doanh
HTTT: tỷ suất tự tài trợ
Có thể thấy rằng tỷ suất tự tài trợ tỷ lệ nghịch với khả năng sinh lời củavốn chủ sở hữu, tức tỷ suất tự tài trợ càng lớn thì khả năng sinh lời của vốn chủsở hữu càng nhỏ Hay nói cách khác khi tính tự chủ của doanh nghiệp càng caothì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp càng thấp
3.2.3 Độ lớn đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là mối quan hệ giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp Đòn bẩy tài chính được xác định như sau:
Đòn bẩy tài chính có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, được coi như chínhsách tài chính của doanh nghiệp Liên quan đến đòn bẩy tài chính, công thức xácđịnh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu được viết lại như sau:
Có thể thấy rằng hệ số đòn bẩy tài chính càng cao thì hiệu qủa tài chínhcủa doanh nghiệp sẽ được tăng lên, điều này thể hiện một chính sách tài chínhtốt Vì khi hệ số đòn bẩy tài chính cao thì chủ sở hữu chỉ phải đóng góp mộtlượng vốn ít nhưng lại được sử dụng một lượng tài sản lớn Và nếu doanh nghiệptạo ra được lợi nhuận trên các khoản nợ lớn hơn so với số tiền lãi phải trả thìphần lợi nhuận dành cho chủ sở hữu sẽ tăng lên rất nhanh Tuy nhiên công thứctrên có hạn chế là khả năng sinh lời của tài sản còn chịu ảnh hưởng của cấu trúcnguồn vốn do lợi nhuận trong trường hợp này đã loại trừ chi phí lãi vay
3.2.4 Khả năng trả lãi nợ vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định và nguồn để trả lãi vay làlợi nhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý kinh doanh
Khả năng thanh toán lãi vay là hệ số được xem xét trong mối quan hệgiữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay với lãi vay Hệ số này cho ta biết số vốn đivay đã được sử dụng tốt tới mức nào, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không
Đòn bẩy tài chính = Nợ vay
Vốn chủ sở hữu
HTC = HKD x (1 – T) x (1 + ĐBTC)
Khả năng trả lãi nợ vay = LNTT và lãi vay
Lãi vay
Trang 19Hệ số khả năng thanh toán lãi vay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụngvốn của doanh nghiệp càng cao, lợi nhuận tạo ra một phần được sử dụng để trảnợ vay và phần còn lại dùng để tích luỹ cho doanh nghiệp
PHẦN HAI: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG THUẬN ĐỨC
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG THUẬN ĐỨC
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH xây dựng Thuận Đức
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH xây dựng Thuận Đức với tiền thân là tổ hợp tác ThuậnĐức được UBND thành phố Quy Nhơn cấp giấy phép kinh doanh số 39-ĐKSXKD ngày 18/08/1980, cho phép hành nghề: san ủi mặt bằng, xây dựng,sửa chữa các công trình giao thông, các công trình thuỷ lợi…
Năm 1992, tổ hợp tác Thuận Đức đã tiến lên thành lập doanh nghiệp tưnhân-xí nghiệp xây dựng Thuận Đức
Năm 1994, công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng Thuận Đức ra đời theogiấy phép thành lập số 002727/GP-TLDN-02 do UBND tỉnh Bình Định cấp ngày17/12/1994
Công ty TNHH xây dựng Thuận Đức có trụ sở chính tại số 760 đườngTrần Hưng Đạo thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định và có các phân xưởng sảnxuất đóng ở ngoại ô thành phố
Vốn kinh doanh của công ty (đến ngày 31/12/2006): 42.349.474.941 đồng
Trong đó: - Vốn ngắn hạn: 25.401.269.024 đồng
Trang 20- Vốn dài hạn: 16.948.205.917 đồng
Qua trên mười lăm năm phát triển và trưởng thành (tính từ khi chuyển đổithành công ty TNHH xây dựng Thuận Đức), hoạt động với phương châm lấy sảnxuất phục vụ xây dựng, vừa sản xuất vừa xây dựng, từ một đơn vị chuyên thicông các công trình giao thông, thuỷ lợi nhỏ đến nay công ty đã đủ tiềm lực đểthi công các công trình xây dựng lớn Bên cạnh đó công ty không ngừng mở rộnghoạt động sản xuất các loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xây dựng Tính đếnnay công ty đã có ba phân xưởng sản xuất:
- Phân xưởng đá Granite tại khu công nghiệp Phú Tài
- Phân xưởng cống bê tông ly tâm tại khu công nghiệp Phú Tài
- Phân xưởng đá Riolite tại mỏ đá Phước Lộc, huyện Tuy Phước Trong những năm qua, công ty luôn cải tiến chất lượng sản phẩm và cốgắng xây dựng công trình đúng tiến độ, chỉ tiêu chất lượng đề ra nhằm quảng báthương hiệu, uy tín của công ty trên thị trường trong và ngoài tỉnh
Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất, công tykhông ngừng đổi mới trang thiết bị máy móc, đào tạo trình độ tay nghề cho độingũ lao động trực tiếp và trình độ quản lý cho nhân viên các phòng, quan tâmđến đời sống của anh em công nhân… nhằm thực hiện mục tiêu sản phẩm docông ty tạo ra là tốt nhất, đáp ứng được nhu cầu của thị trường
Quá trình phát triển của công ty từ sản xuất quy mô nhỏ đến sản xuất quymô vừa, từ lao động thủ công rồi từng bước nâng cao trình độ chuyên môn chongười lao động, kết hợp với việc đầu tư máy móc thiết bị đã làm cho năng suấtlao động ngày càng cao, hiệu quả sản xuất tăng Từ đó doanh thu hàng năm củacông ty ngày càng tăng, khối lượng sản phẩm đóng góp cho xã hội ngày càngnhiều và giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương
Với nhiều thành tích trong sản xuất, xây dựng và đóng góp cho ngân sáchđịa phương, từ khi thành lập đến nay công ty TNHH xây dựng Thuận Đức nhiềulần vinh hạnh được nhận danh hiệu thi đua, bằng khen của thủ tướng Chính phủ,chủ tịch UBND tỉnh và của các bộ ngành chủ quản
1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Chức năng, nhiệm vụ chính của công ty TNHH xây dựng Thuận Đức là:
- Nhận thầu và đấu thầu xây dựng các công trình giao thông, công trìnhthuỷ lợi trong và ngoài tỉnh
- Khai thác và chế biến đá Granite để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu
- Sản xuất ống cống bê tông ly tâm và mương mán thuỷ lợi
Trang 21- Khai thác tận thu đá Riolite làm đá xay nghiền các loại
2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty TNHH xây dựng Thuận Đức
2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh:
Do định hướng hoạt động kinh doanh là đa lĩnh vực nên từ khi thành lậpcông ty TNHH đến nay, công ty luôn duy trì hai lĩnh vực hoạt động song songnhau đó là xây dựng cơ bản và sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Lĩnh vực xây dựng cơ bản là hoạt động có tính truyền thống của công tyvới hơn hai mươi lăm năm hoạt động và tham gia xây dựng thi công
Lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lúc đầu chỉ là hoạt động mangtính hỗ trợ nhưng đang dần trở thành hoạt động quan trọng của công ty, là tiềmnăng của công ty trong tương lai
Hình thức sở hữu vốn:
Hình thức sở hữu vốn của công ty là vốn chủ sở hữu chiếm phần lớn trongnguồn vốn hoạt động của công ty, có sự kết hợp với vốn vay tín dụng ngân hàngvà vốn vay của tư nhân
2.2 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ
2.2.1 Sản phẩm:
Đối với lĩnh vực xây dựng: sản phẩm là các công trình xây dựng cơ bản
như đường giao thông, san ủi mặt bằng, các khu dân cư, các nhà xưởng kho tàng,hệ thống đê điều chống lũ hay thuỷ lợi tưới tiêu…
Đối với lĩnh vực sản xuất: sản phẩm là các loại vật liệu được khai thác,sản xuất trên dây chuyền sản xuất tại các phân xưởng của công ty Có nhiều loạisản phẩm khác nhau như:
* Đá Granite: gồm nhiều loại thành phẩm đá Granite có màu sắc, kích cỡkhác nhau được sử dụng để trang trí nội thất như đá ốp tường, đá lót sàn nhà,làm bàn ghế… Ngoài ra công ty còn thực hiện gia công theo yêu cầu của kháchhàng
* Cống bê tông ly tâm: gồm nhiều chủng loại, kích cỡ khác nhau phục vụcho các công trình làm đường giao thông hay thuỷ lợi
* Đá Riolite: gồm nhiều loại đá 1x2, 3x4 và 4x6 được khai thác từ mỏ đáPhước Lộc, được sử dụng làm nguyên liệu cho hoạt động xây dựng, sản xuất củacông ty và cung ứng ra bên ngoài
Trang 222.2.2 Thị trường tiêu thụ:
* Đối với thị trường xây dựng cơ bản: công ty đang gặp phải sự cạnh tranh
gay gắt từ những đối thủ hoạt động cùng ngành Trước tình hình này, để tồn tại
và phát triển công ty quyết định mở rộng về quy mô cũng như về thị trường Cụ
thể là trong năm 2005 công ty đã mở thêm chi nhánh Thuận Đức II ở khu công
nghiệp Phú Bài (thành phố Huế) với chức năng hoạt động là san ủi mặt bằng,
xây dựng cơ bản và sản xuất cống bê tông ly tâm Đồng thời công ty không
ngừng tham gia đấu thầu và thi công các công trình xây dựng lớn, trọng điểm
như: thuỷ điện Yaly, tuyến đường quốc lộ Quy Nhơn-Sông Cầu…
Với những định hướng mang tính chiến lược trên, thị phần xây dựng của
công ty không ngừng tăng lên trong tỉnh cũng như ở tỉnh bạn như: Huế, Quảng
Ngãi, Phú Yên, Gia Lai…
* Đối với thị trường tiêu thụ vật liệu xây dựng: công ty có nhiều thuận lợi
vì nhu cầu của thị trường về các sản phẩm này là khá cao mà lại có ít công ty
trong tỉnh sản xuất, cung ứng Tuy nhiên công suất sản xuất của các phân xưởng
còn chưa cao nên công ty đang gặp khó khăn trong việc cung ứng kịp thời, ổn
định cho thị trường này Với thị trường đầy tiềm năng như vậy, hướng đi của
công ty trong những năm sắp tới là mở rộng quy mô hoạt động, tăng công suất
sản xuất nhằm cung ứng đầy đủ cho thị trường này
3 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty TNHH xây dựng Thuận Đức
3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty
Đội thi công Đội thi công Đội thi công Đội thi công
Trang 23Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
3.2 Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận
Ban giám đốc: gồm giám đốc và phó giám đốc
* Giám đốc công ty: là người đại diện pháp luật của công ty trong mọihoạt động, là người quản lý, điều hành cao nhất mọi hoạt động của công ty và làngười quyết định phương hướng hoạt động của công ty
* Phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, phụ trách quản lý, điềuhành mọi hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Phó giám đốc sẽ chịu trách nhiệmtrước giám đốc công ty về hoạt động của lĩnh vực này
Phòng chức năng: gồm phòng nhân sự, phòng kế toán và phòng kỹthuật
* Phòng nhân sự:
Chức năng, nhiệm vụ:
- Tổ chức quản lý lao động, tiền lương, thi đua khen thưởng
- Hàng năm cân đối lực lượng lao động, đề xuất giải quyết tiếp nhận, hợpđồng lao động theo yêu cầu sản xuất của công ty
* Phòng kế toán:
Chức năng, nhiệm vụ:
- Tập hợp số liệu, xác định doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty
- Theo dõi tình hình công nợ phải trả, phải thu đối với khách hàng, thựchiện các công tác nghiệp vụ thu trả nợ, đối chiếu công nợ
- Theo dõi, quản lý tình hình luân chuyển, sử dụng và bảo quản tài sản;thực hiện trích khấu hao tài sản cố định theo đúng chế độ hiện hành
- Phản ánh các chỉ tiêu số liệu về tài chính kế toán, định kỳ lên các báocáo kế toán để báo cáo với lãnh đạo công ty, cơ quan thuế, cơ quan chủ quản
- Theo dõi, cập nhật các văn bản pháp qui của nhà nước về kế toán tàichính để trình và tham mưu cho ban giám đốc trong việc tổ chức thực hiện đườnglối kinh doanh
* Phòng kỹ thuật (phục vụ chính cho lĩnh vực xây dựng):
Chức năng, nhiệm vụ:
Trang 24- Khảo sát và lên kế hoạch dự kiến giá cho từng hạng mục công trìnhtrong công tác dự thầu
- Tổ chức, giám sát kỹ thuật ở từng công đoạn thi công để phát hiện ra saisót, có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công trình xây dựng
- Báo cáo kết quả, thực hiện công tác tham mưu cho ban giám đốc trongcông tác xây dựng; đề ra các phương án kỹ thuật nhằm giảm chi phí và thực hiệnđúng tiến độ thi công công trình
Các phân xưởng sản xuất và công trường xây dựng:
* Các phân xưởng sản xuất:
Đứng đầu các phân xưởng là các quản đốc, có nhiệm vụ quản lý, nhậnnhiệm vụ kế hoạch sản xuất và theo dõi tình hình sản xuất ở từng phân xưởng.Mỗi phân xưởng tuỳ theo chức năng hoạt động mà bố trí số lao động phù hợp
- Phân xưởng đá Granite: có nhiệm vụ khai thác và chế biến đá Granite,thực hiện gia công cưa xẻ và mài bóng để xuất bán cho khách hàng trong vàngoài tỉnh Ngoài ra phân xưởng còn nhận gia công chế biến ngoài cho kháchhàng
- Phân xưởng cống bê tông ly tâm: có nhiệm vụ sản xuất cống bê tông lytâm các loại và gối cống để cung cấp theo đơn đặt hàng và phục vụ cho lĩnh vựcxây dựng
- Phân xưởng đá Riolite: khai thác tận thu đá Riolite làm đá xay nghiềncác loại để phục vụ cho thi công công trình và xuất bán cho mọi đối tượng cónhu cầu tiêu thụ
* Các công trường xây dựng:
Các công trường được thành lập để thực hiện việc thi công các hạng mụccông trình Tuỳ theo quy mô của mỗi công trường mà số đội thi công nhiều ítkhác nhau Thời gian hoạt động của công trường tuỳ thuộc vào mức độ phức tạpvà quy mô của công trình Công trường là đơn vị nhận kế hoạch xây dựng củacông ty, điều hành thi công theo chế độ phân cấp của công ty
Các đội thi công: là đơn vị tổ chức ổn định, là đơn vị trực tiếp sử dụng laođộng, máy móc, xe cơ giới, nguyên vật liệu… để thực hiện sản xuất chuyên môntheo nhiệm vụ được giao Trong mỗi đội thi công, đội trưởng là người trực tiếpchịu trách nhiệm với ban giám đốc công ty về việc thực hiện các nhiệm vụ củađội
Tất cả các phân xưởng và các công trường đều là đơn vị hạch toán
báo sổ
Trang 254 Tổ chức kế toán tại công ty TNHH xây dựng Thuận Đức
4.1 Mô hình bộ máy kế toán tại công ty
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
4.2 Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán của công ty gồm có năm người ở phòng kế toán và cáckế toán ở phân xưởng, công trường, được tổ chức theo mô hình kế toán tập trung.Phòng kế toán có nhiệm vụ xử lý toàn bộ các số liệu kế toán và lập các báo cáotài chính, tổ chức phân tích hoạt động kinh tế của công ty Còn các phân xưởngvà công trường là đơn vị hạch toán báo sổ Phân xưởng, công trường có nhiệmvụ thu thập chứng từ, ghi chép, kiểm tra, xử lý sơ bộ chứng từ Định kỳ kế toán ởphân xưởng, công trường về phòng kế toán của công ty để tiến hành đối chiếuvới sổ sách kế toán của công ty Sau đó phòng kế toán công ty sẽ tổng hợp sốliệu để lập ra các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính chung cho toàn bộ công ty
Chức năng, nhiệm vụ của từng nhân viên kế toán trong công ty như sau:
Kế toán trưởng: chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc công ty, đồngthời chịu sự kiểm tra nghiệp vụ của cơ quan thuế, cơ quan tài chính
Kế toán trưởng trực tiếp chỉ đạo toàn bộ các bộ phận kế toán tại vănphòng công ty và kế toán tại các phân xưởng, công trường; theo dõi chặt chẽ tìnhhình thực tế và lập các báo cáo kế toán
Kế toán tổng hợp:
- Tổ chức ghi chép sổ sách tổng hợp, đối chiếu với các bộ phận kế toánkhác; phản ánh tổng hợp số liệu về nhập xuất vật tư; phản ánh doanh thu, chi phívà xác định kết quả trong kỳ
- Giúp kế toán trưởng dự thảo các văn bản về công tác kế toán trình giámđốc ban hành áp dụng trong công ty
- Bảo quản và lưu trữ hồ sơ, tài liệu, số liệu kế toán, thông tin kế toán
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp Kế toán TSCĐ Kế toán vật tư
Thủ quỹ
Trang 26 Kế toán tài sản cố định (TSCĐ): có trách nhiệm hạch toán tăng giảmTSCĐ của công ty, trích khấu hao TSCĐ, theo dõi việc sửa chữa, nâng cấpTSCĐ
Kế toán TSCĐ kiêm kế toán tiền lương, kế toán thanh toán
Kế toán vật tư: có nhiệm vụ theo dõi tình hình nhập vật tư, nguyênliệu, nhiên liệu… và quản lý việc sử dụng, lập thủ tục xuất vật tư, nguyên liệu,nhiên liệu… Định kỳ kế toán vật tư lập các báo cáo nhập-xuất-tồn vật tư đểø đốichiếu với số liệu sổ sách của các phân xưởng, công trường
Thủ quỹ: có nhiệm vụ bảo quản tiền mặt của công ty, thực hiện cácnghiệp vụ thu chi tiền mặt và ghi chép sổ sách đầy đủ, kịp thời
Kế toán phân xưởng và công trường:
Phân xưởng và công trường là bộ phận sản xuất, bộ phận thi công xây lắptrực thuộc sự quản lý của công ty Để tiến hành hạch toán ban đầu và hạch toántổng hợp tại các phân xưởng, công trường thì công ty tiến hành theo dõi và ghichép tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; kế toán ở các phân xưởng, côngtrường ghi chép về việc nhập xuất tồn vật tư, hạch toán các khoản mục chi phí…Định kỳ kế toán phân xưởng, công trường về công ty để đối chiếu sổ sách
4.3 Hình thức kế toán được áp dụng tại công ty
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động, công ty đã áp dụng hình thức kế toánchứng từ ghi sổ với kỳ hạch toán là quý Trình tự ghi sổ kế toán: (xem trang sau)
Trang 27Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối thángQuan hệ đối chiếu Hàng ngày khi có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, căn cứ vào chứng từgốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc đã kiểm tra lập ra chứng từ ghi sổ Sau khilập xong kế toán chuyển chứng từ ghi sổ đến kế toán trưởng ký duyệt rồi sau đóchuyển về cho bộ phận kế toán tổng hợp để bộ phận này ghi vào sổ đăng kýchứng từ ghi số, sau đó ghi vào sổ cái Đối với các tài khoản có mở sổ chi tiết,kế toán tổng hợp chuyển các chứng từ gốc đến các bộ phận kế toán chi tiết đểghi vào sổ kế toán chi tiết có liên quan
Cuối tháng căn cứ vào sổ kế toán chi tiết kế toán lên bảng tổng hợp chitiết Đồng thời kế toán khoá tất cả các sổ, tính ra tổng số tiền của tất cả cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tínhtổng số phát sinh nợ, tổng số phát sinh có và số dư của từng tài khoản trên sổcái Số liệu trên sổ cái phải được kiểm tra, đối chiếu với bảng tổng hợp chi tiết.Sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu kế toán tiến hành lập bảng cân đối số phátsinh Đến cuối quý, căn cứ vào ba bảng cân đối số phát sinh của ba tháng trongquý để lập các báo cáo kế toán như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh
Chứng từ gốc
Bảng tổng hợp chứng từ gốc
Chứng từ ghi sổ Sổ, thẻ chi tiết
Sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ Sổ Quỹ
Sổ Cái Bảng tổng hợp chi tiết
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kế toán
Trang 28II PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG THUẬN ĐỨC
1 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty
1.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trìnhđộ sử dụng các nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp, thông qua việc xemxét khả năng đạt được kết quả của doanh nghiệp với các yếu tố chi phí đầu vào
1.1.1 Phân tích hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản
Căn cứ vào số liệu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp qua 3 năm ta lập bảng 1 (xem trang sau):
Tổng tài sản bình quân của công ty biến động tăng dần qua 3 năm đồngthời doanh thu thuần của công ty qua 3 năm cũng tăng nhưng nhìn chung hiệusuất sử dụng tài sản của công ty không đồng đều Năm 2005 hiệu suất sử dụngtài sản của công ty giảm 0,03 lần tương ứng với mức giảm 3,09% so với năm
2004 Sang năm 2006 hiệu suất sử dụng tài sản tăng 0,03 lần tương ứng với3,19% Để làm rõ vấn đề này ta cần đi vào xem xét cụ thể:
Năm 2005 trong khi doanh thu của công ty tăng nhẹ với mức tăng1.963.936.896 đồng (đạt 6,26%) thì tổng tài sản bình quân của công ty tăngmạnh, tăng về số tuyệt đối là 3.246.904.873 đồng chiếm tỷ lệ 10,10% làm chohiệu suất sử dụng tài sản giảm Nguyên nhân chủ yếu khiến tổng tài sản bìnhquân của công ty tăng là do trong năm 2005 công ty muốn mở rộng quy mô sảnxuất nên đã đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất mới.Nguyên giá tài sản cố định bình quân của công ty năm 2004 đạt 26.556.505.926đồng sang năm 2005 nguyên giá tài sản cố định bình quân của công ty là30.581.228.594 đồng (tăng 4.024.722.668 đồng) Tài sản tăng mạnh, doanh thutăng nhẹ nên hiệu suất sử dụng tài sản của công ty giảm là điều hiển nhiên
Đến năm 2006 hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đã có sự chuyển biếntheo chiều hướng khả quan hơn Mặc dù năm 2006 tổng tài sản bình quân củacông ty tiếp tục tăng 12,51% nhưng doanh thu trong năm này đã tăng lên vượttrội với tỷ lệ 15,66% nên dẫn đến hiệu suất sử dụng tài sản của công ty tăng3,19% so với năm 2005 Sở dĩ như vậy là do trong năm 2006 công ty đã trúngthầu một số công trình giao thông như: đường giao thông cầu chữ Y-PhướcThắng, đường Hoài Mỹ-Tam Quan, hệ thống đường giao thông nội bộ cụm côngnghiệp Nhơn Bình…., nhờ vậy công ty đã tận dụng được công suất của máy mócthiết bị hiện có cũng như “giải phóng” một lượng lớn thành phẩm tồn kho dùngcho xây dựng, giảm vốn ứ đọng
Trang 29SVTH : Võ Thị Bích Vân Tuyền 29
Trang 30Nhìn chung hiệu suất sử dụng tài sản của công ty qua 3 năm có sự tănggiảm nhưng không đáng kể và vẫn còn ở mức thấp Năm 2004 cứ 1 đồng tài sảnbình quân đầu tư tại công ty đem lại 0,97 đồng doanh thu, năm 2005 giảm xuốngcòn 0,94 đồng và năm 2006 tăng lên 0,97 đồng Để có đánh giá đầy đủ về hiệuquả hoạt động kinh doanh cá biệt ta cần xem xét các chỉ tiêu cụ thể như hiệusuất sử dụng tài sản cố định, hiệu suất sử dụng vốn lưu động…
1.1.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định là một chỉ tiêu quan trọng trong cácdoanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất Hiệu quả sử dụng tài sảncố định phản ánh trình độ của doanh nghiệp trong việc sử dụng các nguồn vậtlực sẳn có để mang lại lợi nhuận cao nhất
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định thì cần thiết phải phântích hiệu quả sử dụng tài sản cố định Dựa vào các số liệu trên báo cáo kế toáncủa công ty TNHH xây dựng Thuận Đức, ta lập bảng 2 (trang sau):
Nhìn chung hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty qua 3 năm có sựbiến động nhưng không đáng kể Cụ thể, năm 2004 hiệu suất sử dụng tài sản cốđịnh là 1,18 lần nghĩa là 1 đồng tài sản cố định đầu tư vào công ty thì tạo ra 1,18đồng doanh thu Nhưng sang năm 2005, 1 đồng tài sản cố định đầu tư vào công
ty chỉ thu được 1,03 đồng doanh thu Điều này làm cho lợi nhuận của công tygiảm 108.574.555 đồng tương ứng với 30,72% tổng lợi nhuận Đến năm 2006,hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đã có sự tăng nhẹ và đạt 1,13 lần
Sở dĩ trong năm 2005 công ty đã đầu tư thêm nhiều tài sản cố định(nguyên giá tài sản cố định bình quân tăng 15,16%) nhưng hiệu suất sử dụng tàisản cố định lại không cao một phần là do trong lĩnh vực sản xuất công nhân chưaquen với việc vận hành dây chuyền sản xuất mới nên chưa phát huy được côngsuất của máy móc thiết bị Bên cạnh đó hoạt động xây dựng của công ty gặpnhiều khó khăn trong năm 2005 cũng có ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng tàisản cố định (doanh thu lĩnh vực xây dựng năm 2005 giảm 1.597.976.835 đồng sovới năm 2004) Nhưng việc đầu tư tài sản cố định của công ty trong năm 2005 sẽgóp phần làm tăng năng lực sản xuất và tạo tiền đề để gia tăng doanh thu trongtương lai Cụ thể trong năm 2006, 1 đồng tài sản cố định đầu tư vào công ty đãthu được 1,13 đồng doanh thu tăng 0,1 lần so với năm 2005 làm cho doanh thuthuần của công ty tăng 6.954.164.381 đồng tương ứng với 22,14% và lợi nhuậntăng 133.333.095 đồng tương ứng với 54,44%
Trang 31SVTH : Võ Thị Bích Vân Tuyền 31
Trang 32Qua đó cho thấy việc công ty chủ động trong mở rộng quy mô sản xuất,mua sắm mới các thiết bị sản xuất, thanh lý nhượng bán các thiết bị sản xuất cũkỹ, lạc hậu, không còn đủ tiêu chuẩn hoạt động đã phần nào làm cho năng lựcsản xuất của công ty có những chuyển biến rõ rệt, tạo điều kiện tiết kiệm vốn.Chẳng hạn nếu hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty năm 2006 khôngtăng thì để đạt 38.369.195.776 đồng doanh thu thuần cần đầu tư một lượng tàisản cố định tương ứng là: 38.369.195.776/1,03 = 37.251.646.384 đồng nhưngcông ty chỉ cần đầu tư 34.086.226.081 đồng, đã tiết kiệm được 3.165.420.303đồng Như vậy khi hiệu suất sử dụng tài sản cố định tăng sẽ làm cho doanh thutăng và khả năng tiết kiệm vốn cũng tăng
1.1.3 Phân tích hiệu quả sử dụng lao động.
Muốn thấy được tình hình sử dụng nguồn nhân lực của công ty TNHH xâydựng Thuận Đức cần xem xét các chỉ tiêu cụ thể ở bảng 3 (trang sau):
Qua phân tích ta thấy năng suất lao động của công ty tăng dần qua cácnăm Nếu như trong năm 2004 cứ một lao động sẽ tạo ra 215.502.585 đồngdoanh thu cho công ty thì sang năm 2005, một lao động tạo ra được 216.655.389đồng doanh thu, tăng 1.152.804 đồng tương ứng với tỷ lệ là 0,53% và năm 2006một lao động tạo ra 252.428.920 đồng doanh thu cho công ty tăng hơn so vớinăm 2005 là 35.773.531 đồng tương ứng với 16,51% Điều này cho thấy công tyđã sử dụng tốt nguồn nhân lực, đặc biệt là trong năm 2006
Tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu của công ty có xu hướng tăngdần qua 3 năm Năm 2004 tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu là 6,82% tứccứ 100 đồng doanh thu tạo ra có 6,82 đồng chi phí tiền lương Năm 2005 tỷ suấtnày tăng đến 7,54% Năm 2006 con số này lại tăng lên một ít và đạt 8,66% Sở
dĩ tỷ suất chi phí tiền lương trên doanh thu của công ty tăng dần qua 3 năm là dodoanh thu của công ty tăng dần qua 3 năm đồng thời chi phí tiền lương cũng biếnđộng cùng chiều với doanh thu nhưng với tốc độ tăng nhanh hơn Cụ thể trongnăm 2005 khi doanh thu tăng 0,53% thì chi phí tiền lương tăng 11,14% và năm
2006 khi doanh thu tăng 22,14% thì chi phí tiền lương tăng tới 40,22%